Sống xanh Lào Cai

Directions Website

Sống xanh Lào Cai Nơi chia sẻ những thông tin hữu ích cho thanh niên

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, SỨC SỐNG THỜI ĐẠINgày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc...
30/08/2026

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, SỨC SỐNG THỜI ĐẠI

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ thời khắc lịch sử ấy, hai tiếng “Độc lập - Tự do” trở thành tuyên ngôn thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

Hơn 80 năm đã trôi qua, Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên sức sống. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa lịch sử và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng thường tung ra những luận điệu: Tuyên ngôn Độc lập là "sao chép của phương Tây"; một “tuyên bố hình thức”, không gắn với quyền lợi của nhân dân; hay Tuyên ngôn Độc lập đã “lỗi thời”, “không còn giá trị thực tiễn”. Chính sức sống, giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập và thực tiễn sinh động của Cách mạng Việt Nam là minh chứng đanh thép phản bác lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường phát triển đất nước.

Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập bác bỏ hoàn toàn luận điệu chỉ là “sao chép của phương Tây".

Thực chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại để khẳng định một chân lý phù hợp với khát vọng của dân tộc Việt Nam. Từ quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, Người “suy rộng ra” thành quyền của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam, là sự mở đầu cho quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Những tư tưởng thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, là sự kế thừa tư tưởng của các cuộc cách mạng tiến bộ của nhân loại… hòa chung vào dòng chảy đấu tranh của các dân tộc bị áp bức vì độc lập, tự do và quyền tự quyết.

Tuyên ngôn Độc lập không phải là “sự sao chép” hay là sự “thêm thắt”, không phải là sự “du nhập” từ các bản tuyên ngôn của nước ngoài, mà là sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa của nhân loại với truyền thống lịch sử, chính trị của dân tộc, đưa một tuyên bố chính trị thành một văn bản pháp lý không chỉ có giá trị quốc gia, dân tộc mà còn có mang tính phổ quát quốc tế.

Thứ hai, Tuyên ngôn Độc lập bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng đây chỉ là một “tuyên bố hình thức”, không gắn với quyền lợi của nhân dân.

Bằng những chứng cứ cụ thể, Tuyên ngôn Độc lập vạch trần bản chất áp bức, bóc lột của chế độ thực dân. Tuyên ngôn đã khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam là bất di bất dịch, nhưng điểm mới là tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến, xác lập nền dân chủ cộng hòa, tạo nền tảng để dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan trọng hơn, Tuyên ngôn đã xác lập tính chính danh của Nhà nước cách mạng và mở đầu quá trình xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Chỉ ít tháng sau ngày độc lập, Quốc hội khóa I được thành lập. Hiến pháp năm 1946 ra đời, ghi nhận nhiều quyền cơ bản của công dân, đặt những nền móng pháp lý đầu tiên cho một nhà nước độc lập, dân chủ. Những giá trị ấy tiếp tục được kế thừa, phát triển qua các bản Hiến pháp sau này, trong đó có Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nằm ở lời tuyên bố ngày 2/9/1945, mà còn ở những thiết chế và thành quả được xây dựng để hiện thực hóa quyền độc lập, tự do và quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ ba, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà dân tộc Việt Nam đạt được trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là minh chứng khẳng định giá trị bền vững của Tuyên ngôn Độc lập, bác bỏ luận điệu xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập đã “lỗi thời”, “không còn giá trị thực tiễn”.

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam đã một lòng đi theo con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, qua 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới vào thực tiễn đất nước, hoạch định đường lối đổi mới với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thể chế nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, hội nhập quốc tế sâu rộng, cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.

Những thành tựu ấy là câu trả lời rõ ràng nhất trước luận điệu cho rằng Tuyên ngôn Độc lập đã “lỗi thời” hay không còn giá trị thực tiễn. Bởi lẽ, những giá trị cốt lõi của Tuyên ngôn - độc lập, chủ quyền, quyền tự quyết của dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân, khát vọng tự do, hòa bình và phát triển - không những không mất đi mà ngày càng được khẳng định trong thực tiễn.

Hơn 80 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tiếng nói từ Quảng trường Ba Đình vẫn vang vọng. Đó không chỉ là lời tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia độc lập, mà còn là lời khẳng định về một chân lý: dân tộc Việt Nam có quyền sống trong độc lập, tự do và có quyền tự quyết định con đường phát triển của mình.

Thời gian có thể làm thay đổi nhiều điều, nhưng không thể phủ nhận những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vì thế vẫn là biểu tượng bất diệt của ý chí độc lập dân tộc, là nguồn sức mạnh tinh thần và là giá trị thời đại đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trên hành trình xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

CHIẾN LƯỢC NỀN TẢNG CỦA KHÁT VỌNG QUỐC GIA 🇻🇳🇻🇳🇻🇳Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, tài nguyên thiên nhiên có th...
24/06/2026

CHIẾN LƯỢC NỀN TẢNG CỦA KHÁT VỌNG QUỐC GIA 🇻🇳🇻🇳🇻🇳

Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, lợi thế lao động giá rẻ có thể mất đi, nhưng nguồn lực con người luôn là yếu tố quyết định vị thế và sức cạnh tranh lâu dài. Những quốc gia vươn lên mạnh mẽ trong thế kỷ XXI đều có một điểm chung là họ coi đầu tư cho con người là chiến lược phát triển quan trọng nhất.

Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, đất nước cần một lực lượng nhân lực chất lượng cao đông đảo hơn, sáng tạo hơn và có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Trong bối cảnh ấy, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Nghị định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng quốc gia không đơn thuần là một chính sách hỗ trợ giáo dục, mà là một bước đi chiến lược nhằm đầu tư cho tương lai dân tộc. Điều đáng chú ý là giá trị lớn nhất của Quỹ không nằm ở số tiền cấp phát, mà ở khả năng phát hiện, nuôi dưỡng và chắp cánh cho những tiềm năng đóng góp cho đất nước. Đây phải trở thành một thiết chế quốc gia về phát triển nhân tài.

Thực tế hiện nay cho thấy, dù đã có hệ thống học bổng đa dạng từ ngân sách, trường học, doanh nghiệp đến các tổ chức quốc tế, nhưng ở nước ta đã và đang tồn tại khoảng cách trong việc tiếp cận cơ hội. Ở các đô thị lớn, các chương trình hỗ trợ thường tập trung nhiều, trong khi ở miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, nhiều học sinh có năng lực nổi bật vẫn gặp rào cản lớn về điều kiện kinh tế. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể để cơ hội học tập của người trẻ phụ thuộc vào nơi họ sinh ra hay hoàn cảnh gia đình. Chính sự ra đời của Quỹ học bổng quốc gia sẽ là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách này, bảo đảm mọi tài năng đều được phát hiện và hỗ trợ.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải nhận thức rõ rằng, hơn cả một khoản hỗ trợ tài chính, học bổng cần được nhìn nhận là khoản đầu tư chiến lược. Giá trị thực sự của nó nằm ở khả năng thay đổi cuộc đời, tạo động lực chinh phục những đỉnh cao khoa học. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc cấp tiền, hiệu quả sẽ bị giới hạn. Điều đất nước cần là xây dựng một hệ sinh thái kết nối giữa nhà trường, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và địa phương. Một học sinh vùng cao không chỉ nhận hỗ trợ tài chính mà cần được định hướng nghề nghiệp; một sinh viên nghiên cứu không chỉ nhận kinh phí mà cần tiếp cận phòng thí nghiệm và dự án lớn; một tài năng trẻ đào tạo ở nước ngoài cần cơ chế để trở về cống hiến.

Trong cuộc đua tranh về nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các quốc gia trong thời đại tr.í t.uệ nh.ân tạo và công nghệ mới, Quỹ học bổng quốc gia cần tầm nhìn vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường. Quỹ phải hướng tới việc hình thành đội ngũ nhân tài trong các lĩnh vực then chốt như bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ sinh học và ch.uyển đ.ổi s.ố. Để thành công, yếu tố sống còn là sự minh bạch. Khi mọi quy trình từ tiếp nhận nguồn lực, xét duyệt hồ sơ đến đánh giá hiệu quả được công khai nhờ nền tảng công nghệ số, niềm tin xã hội sẽ gia tăng, từ đó nguồn lực xã hội sẽ tiếp tục được huy động mạnh mẽ hơn.

Cuối cùng, đầu tư cho con người là khoản đầu tư sinh lời cao nhất, bởi tri thức sẽ tiếp tục sinh sôi và lan tỏa qua nhiều thế hệ. Một quốc gia hùng cường không được tạo dựng chỉ bằng những tòa nhà cao tầng hay những con số tăng trưởng kinh tế, mà bằng chất lượng con người. Quỹ học bổng quốc gia, nếu được vận hành với tầm nhìn dài hạn và gắn với chiến lược phát triển nhân tài, sẽ trở thành công cụ quan trọng nhất để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong thế kỷ XXI, nơi những ước mơ được nâng đỡ và tài năng được chắp cánh để bay cao cùng tương lai Việt Nam.

Đừng ăn "bánh vẽ"Tác giả: VĂN HIẾUVĂN HIẾUMới sáng sớm, sương mù còn đặc quánh nóc nhà, Trưởng bản A Sùng đã chạy sang n...
28/01/2026

Đừng ăn "bánh vẽ"
Tác giả: VĂN HIẾUVĂN HIẾU
Mới sáng sớm, sương mù còn đặc quánh nóc nhà, Trưởng bản A Sùng đã chạy sang nhà A Lử. Chả là tối qua, vợ A Lử mếu máo gọi điện báo tin chồng đang định bán nốt cặp bò giống để đưa cả nhà “đi làm giàu” ở miền đất hứa.
Đến nơi, thấy A Lử đang xếp quần áo vào bao tải, mặt mũi hầm hầm, Trưởng bản A Sùng ôn tồn hỏi:
- A Lử à, lúa đang thì con gái, bò đang béo tốt, mày định đi đâu?
- Đi đến nơi sung sướng chứ đi đâu! Ở đây làm mãi, cái lưng còng xuống mà vẫn chưa giàu. Người ta bảo theo “Hội thánh” không làm cũng có ăn, ốm đau có “bề trên” che chở, lại được chia đất, chia ngoại tệ. Ở đây Nhà nước có thương mình đâu!
Trưởng bản A Sùng nghiêm giọng:
- Mày lại nghe mấy kẻ xấu trên mạng xúi bẩy rồi. Mày bảo Nhà nước không thương, thế cái đường bê tông phẳng lỳ chạy qua cổng nhà mày từ đâu ra? Cái trường nội trú to đẹp mà con mày đang học miễn phí, ăn ở đàng hoàng là từ đâu? Rồi cái thẻ bảo hiểm y tế mày dùng lúc đau ốm; rồi chính quyền và bộ đội hỗ trợ kinh phí, góp ngày công làm nhà mới cho mày năm kia; tiền giống cây trồng... nó từ trên trời rơi xuống à?
Khựng lại một chút, nhưng A Lử vẫn cố cãi:
- Nhưng... nhưng họ bảo người dân tộc mình bị kỳ thị, chỉ theo “Hội thánh” thì mới sướng được. Tao xem video bên đấy toàn nhà lầu, xe hơi thôi.
Chỉ tay ra phía cửa, Trưởng bản A Sùng hỏi:
- Mày nhớ thằng A Páo ở bản bên không? Năm ngoái cũng nghe lời rủ rê, bán hết nhà cửa, ruộng nương trốn đi. Rồi sao? “Miền đất hứa” đâu chẳng thấy, sang đến nơi, nó bị nhốt lại, bắt phải cầm cờ phản động, căng băng rôn, rồi học thuộc lòng mấy câu nói xấu Đảng, nói xấu chính quyền mình. Thằng A Páo bảo “Cán bộ tốt, tao không chửi” thì bị đánh bầm giập, bị bỏ đói mấy ngày liền. Thâm độc nhất là chúng chụp ảnh, quay phim rồi lu loa do chính quyền Việt Nam đàn áp người dân tộc. May mắn nó trốn về được nhưng thân tàn ma dại, sợ đến già. Đấy, cái sướng của mày đấy!
Thấy A Lử cúi mặt suy nghĩ, Trưởng bản A Sùng tiếp lời:
- A Lử này, cái đầu mày phải sáng lên. Bọn xấu chỉ muốn lừa mày bán nhà lấy tiền đưa cho chúng rồi biến mày thành tay sai chống phá Đảng, chính quyền, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc đấy. Người Mông, người Thái, người Kinh chúng ta cùng hít thở bầu không khí hòa bình, cùng chung lá cờ Tổ quốc, sướng khổ có nhau. Mày bỏ đi là mắc mưu “diễn biến hòa bình” của chúng, là tự đập vỡ bát cơm của vợ con mày đấy. Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu kích động ly khai. Chúng vẽ ra viễn cảnh hão huyền để lôi kéo người dân. Mình phải tỉnh táo, chớ để chúng lừa bịp.
Lúc này, vợ A Lử mới từ trong bếp chạy ra, nước mắt ngắn dài:
- Bác A Sùng nói đúng đấy mình ơi! Đừng nghe lời ma mị nữa. Ở nhà chịu khó làm ăn, có chính quyền, có bộ đội giúp đỡ, lo gì không no ấm.
A Lử thở dài, đặt bao tải trên vai xuống, giọng lí nhí:
- Tao... tao trót dại nghe tai nọ qua tai kia. Thôi, không đi đâu nữa cả. Để tao ra cắt cỏ cho bò ăn.
Trưởng bản A Sùng cười khà khà:
- Thế mới là A Lử của bản ta chứ! Nhớ nhé, “bánh vẽ” trên mạng thì đẹp, nhưng ăn vào là ngộ độc đấy!
Báo QĐND

Đại hội XIV của Đảng: Niềm tin và hướng phát triển của Việt NamNhững kết quả và định hướng được khẳng định tại Đại hội X...
27/01/2026

Đại hội XIV của Đảng: Niềm tin và hướng phát triển của Việt Nam
Những kết quả và định hướng được khẳng định tại Đại hội XIV phản ánh hình ảnh một dân tộc gắn bó với truyền thống, đồng thời được thúc đẩy bằng những dự án phát triển đầy hứng khởi.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam được bạn bè Pháp nhìn nhận như sự tiếp nối của một tiến trình phát triển dựa trên nền tảng truyền thống, đồng thời hướng tới tương lai thông qua những cải cách và dự án cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước.
Chia sẻ với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông Gilbert Tenèze, người đứng đầu Chi hội Hữu nghị Pháp-Việt tỉnh Eure-et-Loir, cho rằng những kết quả và định hướng được khẳng định tại Đại hội XIV phản ánh hình ảnh một dân tộc gắn bó với truyền thống, đồng thời được thúc đẩy bằng những dự án phát triển đầy hứng khởi, với đội ngũ lãnh đạo biết lắng nghe và cách tiếp cận thực tiễn đối với các vấn đề của đất nước.
Theo ông Gilbert Tenèze, các cải cách đang được triển khai tại Việt Nam cho thấy sự thống nhất giữa chủ trương và hành động, góp phần củng cố niềm tin vào định hướng phát triển lâu dài. Ông cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng tiến trình này vẫn còn những thách thức, đặc biệt trong việc thu hẹp bất bình đẳng xã hội và nâng cao vai trò của phụ nữ trong quá trình ra quyết sách. Tuy nhiên, ông cho rằng đây là những mục tiêu dài hạn và vẫn đang được đặt ở vị trí ưu tiên, đòi hỏi sự kiên trì và lộ trình phù hợp.
Đánh giá về công tác điều hành, ông Gilbert Tenèze cho rằng cải cách hành chính và cuộc đấu tranh chống tham nhũng tại Việt Nam phản ánh hình ảnh một đội ngũ lãnh đạo có quyết tâm và tinh thần hành động rõ ràng. Theo ông, cách tiếp cận này có thể trở thành một mô hình tham khảo, không chỉ trong khu vực mà cả đối với những quốc gia thường tự coi mình là hình mẫu.
Từ góc nhìn quốc tế, người đứng đầu Chi hội Hữu nghị Pháp-Việt tỉnh Eure-et-Loir cho rằng những nỗ lực cải cách và định hướng phát triển của Việt Nam đã có tác động rõ rệt tới vị thế của đất nước tại Đông Nam Á và trên trường quốc tế. Việt Nam ngày càng được nhìn nhận là một đối tác có vai trò và trọng lượng, kể cả trong quan hệ với Pháp.
Ông Gilbert Tenèze đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của đường lối đối ngoại của Việt Nam theo hướng ủng hộ chủ nghĩa đa phương, nhất là trong bối cảnh vai trò của một số tổ chức quốc tế đang bị hoài nghi, kể cả trong các lĩnh vực y tế, bảo vệ trẻ em và hỗ trợ người tị nạn. Theo ông, sự tham gia chủ động và có trách nhiệm của Việt Nam trong các khuôn khổ này là yếu tố quan trọng góp phần duy trì hòa bình và ổn định.
Liên hệ với lịch sử, ông Gilbert Tenèze cho rằng trong quá khứ, Việt Nam từng trông cậy vào sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để bảo vệ hòa bình. Ngày nay, bạn bè Pháp đặt niềm tin vào Việt Nam trong việc tiếp tục bảo vệ hòa bình, đặc biệt liên quan tới vấn đề Biển Đông. Theo ông, Việt Nam cũng được kỳ vọng sẽ đóng góp cho hòa bình vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia thông qua những hành động cụ thể.
Là chi nhánh địa phương trực thuộc Hội Hữu nghị Pháp-Việt, Chi hội Hữu nghị Pháp-Việt tỉnh Eure-et-Loir quy tụ đông đảo bạn bè Pháp gắn bó thủy chung, son sắt với Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Chi hội duy trì đều đặn các hoạt động giao lưu nhân dân, nổi bật là tổ chức "Ngày Việt Nam" hằng năm, giới thiệu văn hóa, ẩm thực, âm nhạc và biển đảo Việt Nam tới công chúng Pháp.
Bên cạnh đó, Chi hội Hữu nghị Pháp-Việt tỉnh Eure-et-Loir còn tổ chức các buổi tọa đàm, triển lãm, trưng bày, vận động ủng hộ các chương trình nhân đạo, hỗ trợ vụ kiện của bà Trần Tố Nga tại Pháp đối với các công ty hóa chất Mỹ, cũng như ủng hộ nạn nhân chất độc da cam/dioxin và các dự án xã hội khác tại Việt Nam, góp phần tăng cường hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước./.

VĂN HỌC ĐỨNG ĐÂU TRƯỚC LỊCH SỬ VÀ VẬN MỆNH DÂN TỘC Những tranh luận kéo dài và sự kiện trao rồi thu hồi giải thưởng đối ...
27/01/2026

VĂN HỌC ĐỨNG ĐÂU TRƯỚC LỊCH SỬ VÀ VẬN MỆNH DÂN TỘC
Những tranh luận kéo dài và sự kiện trao rồi thu hồi giải thưởng đối với “Nỗi buồn chiến tranh” và tập thơ “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” không chỉ dừng lại ở số phận của vài tác phẩm văn học. Đằng sau đó là những lệch chuẩn đáng suy ngẫm trong cách nhìn về chiến tranh, hình ảnh người lính và hệ giá trị văn học đương đại. Khi văn học bị tách rời khỏi lịch sử và lý tưởng dân tộc, không chỉ giá trị nghệ thuật bị đặt dấu hỏi, mà trách nhiệm tư tưởng của người cầm bút và các hội đồng trao giải cũng trở thành vấn đề không thể né tránh.
Văn học không có vùng trung lập
Văn học chưa bao giờ là một lãnh địa trung lập. Mỗi tác phẩm, dù có ý thức hay không, đều tồn tại trong một không gian lịch sử cụ thể và hàm chứa một cách nhìn nhất định về con người, dân tộc và thời đại. Khi văn học rời xa lịch sử, không chỉ ký ức tập thể bị xói mòn, mà hệ giá trị nền tảng của dân tộc cũng đứng trước nguy cơ lệch chuẩn. Bởi vậy, những tranh luận xoay quanh hai tác phẩm nói trên không đơn thuần là tranh luận nghệ thuật, mà là dấu hiệu của một vấn đề sâu xa hơn: văn học đang đứng ở đâu trong dòng chảy lịch sử và trong mối quan hệ với lý tưởng dân tộc. Như nhà phê bình Hà Thanh Vân từng chỉ ra: “Một giải thưởng có thể sửa sai bằng cách thu hồi, nhưng vết xước trong niềm tin thì không tự lành.”
Khi chiến tranh bị kể lại như một bi kịch thuần túy
Trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, chiến tranh được tái hiện chủ yếu qua những hình ảnh cực đoan của bạo lực và hủy diệt: rừng cháy trong “xăng đặc”, lửa “luyện ngục”, cái chết diễn ra trong máu me, hỗn loạn và ám ảnh. Không gian chiến tranh hiện lên như một địa ngục trần gian, nơi con người bị cuốn vào vòng xoáy tàn phá không lối thoát.
Ở tầng sâu hơn, hình ảnh người lính được đặt trong những trạng thái tâm lý và hành vi lệch chuẩn: cờ bạc, hưởng lạc, ảo giác, tìm quên trong chất gây nghiện để trốn chạy đói khổ, chết chóc và tương lai mờ mịt. Người lính, vì thế, dần bị tách khỏi nền tảng lý tưởng mà họ vốn đại diện. Họ không còn hiện lên chủ yếu như biểu tượng của ý chí giải phóng dân tộc, mà như những cá nhân lạc lối, suy đồi tinh thần trong một bi kịch kéo dài.
Vấn đề ở đây không nằm ở việc văn học có quyền phản ánh mặt tối của chiến tranh hay không. Văn học chân chính không né tránh đau thương và mất mát. Tuy nhiên, khi toàn bộ hình ảnh chiến tranh và người lính bị đặt trong cảm thức bi kịch tuyệt đối, khi lý tưởng và chính nghĩa bị đẩy xuống hậu cảnh, thì cách nhìn lịch sử đã bị dịch chuyển. Cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vốn là một cuộc đấu tranh chính nghĩa chống xâm lược bị thu hẹp thành bi kịch cá nhân và sự tồn tại sinh học đơn thuần.
Sự dịch chuyển ấy không chỉ là một lựa chọn nghệ thuật. Nó tác động trực tiếp đến cách xã hội nhìn nhận lịch sử. Khi người lính bị tách khỏi lý tưởng, khi cuộc kháng chiến bị nhìn như chuỗi đau khổ vô nghĩa, ký ức lịch sử sẽ dần bị làm mờ. Khi đó, văn học, thay vì giữ vai trò gìn giữ và truyền dẫn ký ức dân tộc lại trở thành nơi tái cấu trúc lịch sử theo một hệ cảm xúc khác, với những hệ quả tư tưởng không thể xem nhẹ.
Khi cái chết trở thành thủ pháp gây sốc
Nếu “Nỗi buồn chiến tranh” đặt ra vấn đề về cách nhìn chiến tranh và hình ảnh người lính, thì tập thơ “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” của Lâu Văn Mua lại gợi lên những câu hỏi đáng lo ngại về chuẩn mực sáng tạo và cảm quan thẩm mỹ trong văn học.
Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã tạo ra tranh cãi gay gắt. Không ít ý kiến cho rằng tên tập thơ gây cảm giác rùng rợn, khó tiếp nhận và tạo sự bất an trong cảm xúc. Khi cái chết được đưa vào ngôn ngữ một cách trần trụi, lạnh lùng, văn học không còn đóng vai trò nâng đỡ các giá trị nhân văn, mà đứng trước nguy cơ trở thành trò chơi ngôn từ nhằm gây sốc. “Xác em” bị vật thể hóa, chất chồng” gợi liên tưởng đến hàng hóa, còn “bảo tàng” trở thành không gian trưng bày ký ức chết chóc. Trong cấu trúc ngôn ngữ ấy, lịch sử không còn hiện lên như ký ức thiêng liêng, mà bị đặt vào một hệ hình lạnh lẽo và vô cảm.
Không dừng lại ở đó, tập thơ còn gây tranh luận về tính trung thực trong sáng tạo. Nhiều ý kiến chỉ ra sự tương đồng đáng chú ý giữa một số bài thơ của tác giả với các tác phẩm nước ngoài. Chẳng hạn, bài “Khi những ký ức khóc” có cấu trúc và hình ảnh gần như trùng khớp với “When Memories Cry!”, trong khi bài “Quá khứ” cho thấy nhiều chi tiết tương ứng với “The Past”. Những sự trùng hợp này không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay ảnh hưởng văn học, mà đặt ra câu hỏi nghiêm túc về chuẩn mực đạo đức sáng tạo và tính nguyên bản trong văn học.
Việc một tác phẩm được trao giải rồi sau đó bị thu hồi quyết định vì thế không thể xem là sự cố cá nhân. Nó buộc phải đặt lại vấn đề về trách nhiệm của hội đồng xét giải, về tiêu chí thẩm định giá trị văn học, và sâu xa hơn, về hệ giá trị mà văn học đang được định hướng. Khi một tác phẩm có dấu hiệu lệch chuẩn thẩm mỹ và nghi vấn về tính nguyên bản vẫn được tôn vinh, thì câu hỏi không chỉ dành cho tác giả, mà còn dành cho những người trao quyền công nhận.
Văn học không đứng ngoài lịch sử
Từ hai trường hợp trên có thể nhận diện một vấn đề chung: trong một bộ phận sáng tác và tiếp nhận hiện nay, văn học đang có xu hướng tách rời lịch sử và lý tưởng dân tộc. Khi chiến tranh bị kể lại như một bi kịch cá nhân thuần túy, khi hình ảnh người lính bị tách khỏi nền tảng lý tưởng, khi cái chết bị biến thành thủ pháp gây sốc, thì văn học không còn giữ được vai trò gìn giữ và truyền dẫn ký ức dân tộc. Nó dần trở thành không gian của những cảm thức cá nhân, những trò chơi ngôn ngữ và những cách nhìn lịch sử bị phân mảnh.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học chưa bao giờ tồn tại như một hoạt động nghệ thuật thuần túy, tách biệt khỏi đời sống dân tộc. Văn học luôn gắn với vận mệnh đất nước, với các cuộc đấu tranh giành độc lập, với lý tưởng tự do và nhân phẩm con người. Văn học cách mạng đã xây dựng hình tượng người lính như biểu tượng của lý tưởng và chính nghĩa. Đó không phải là sự tô hồng giản đơn, mà là kết tinh của một thời đại lịch sử, nơi con người vượt lên giới hạn cá nhân để gắn số phận riêng với vận mệnh chung của dân tộc.
Bởi vậy, khi văn học rời xa lịch sử, nó đánh mất trục giá trị. Khi lịch sử bị làm mờ, văn học mất đi nền tảng ý nghĩa. Khi lý tưởng bị đẩy xuống hậu cảnh, văn học không còn khả năng định hướng tinh thần cho xã hội. Đó không chỉ là một khủng hoảng về nghệ thuật, mà sâu xa hơn, là một khủng hoảng về tư tưởng – điều mà văn học, với trách nhiệm xã hội vốn có, không thể và không nên làm ngơ.
Trách nhiệm của người viết và người trao giải trước lịch sử và vận mệnh của dân tộc
Văn học không chỉ là một lựa chọn nghệ thuật, mà trước hết là một lựa chọn lịch sử. Mỗi nhà văn, khi cầm bút, đều đứng trước những câu hỏi không thể né tránh: viết cho ai, viết từ đâu và đứng về phía nào trong dòng chảy của dân tộc. Tương tự, mỗi người trao giải, khi tôn vinh một tác phẩm, cũng đồng thời đưa ra một tuyên bố về giá trị. Không có giải thưởng nào trung lập, và cũng không có tác phẩm nào vô can với lịch sử.
Những tranh luận xoay quanh “Nỗi buồn chiến tranh” và “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm: văn học không thể đứng ngoài lịch sử và dân tộc. Khi văn học lãng quên lịch sử, nó không còn là tiếng nói chung của cộng đồng, mà chỉ còn là tiếng vọng của những cảm thức cá nhân rời rạc. Khi văn học tách khỏi lý tưởng, nó không còn khả năng nâng đỡ con người, mà chỉ phản chiếu những đổ vỡ tinh thần không phương hướng.
Vấn đề đặt ra không phải là phủ nhận quyền tự do sáng tạo, mà là đặt lại câu hỏi về trách nhiệm của văn học. Văn học có thể đa dạng trong cách biểu đạt, nhưng không thể vô cảm với lịch sử. Nó có thể phản ánh bi kịch, nhưng không thể làm mờ chính nghĩa. Nó có thể phơi bày mặt tối của con người, nhưng không thể tách con người khỏi lý tưởng dân tộc đã hình thành nên bản sắc và sức mạnh tinh thần của cộng đồng.
Khi văn học rời xa lịch sử và đánh mất tính dân tộc, không chỉ văn học mất phương hướng, mà xã hội cũng đánh mất điểm tựa tinh thần. Và khi đó, câu hỏi không còn dành riêng cho nhà văn hay những người trao giải, mà trở thành câu hỏi của toàn bộ đời sống văn hóa: chúng ta muốn một nền văn học đứng ở đâu trong lịch sử của chính dân tộc mình?

Nấm độc Như Quỳnh - Thủ pháp truyền thông không che đậy được bản chất chống pháViệc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X...
22/01/2026

Nấm độc Như Quỳnh - Thủ pháp truyền thông không che đậy được bản chất chống phá
Việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng rút ngắn thời gian làm việc là quyết định được Đại hội thảo luận, biểu quyết công khai trên cơ sở các nội dung đã hoàn thành sớm, thể hiện tinh thần làm việc khoa học, hiệu quả, tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Đây là thông tin đã được các cơ quan báo chí chính thống thông tin đầy đủ, minh bạch. Không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy việc rút ngắn thời gian Đại hội mang động cơ khuất tất hay “né tránh tranh luận” như một số luận điệu xuyên tạc đang lan truyền trên mạng xã hội.
Vậy mà, loại nấm độc Nguyễn Ngọc Như Quỳnh - đối tượng từng bị kết án theo pháp luật Việt Nam vì hành vi tuyên truyền chống Nhà nước, hiện đang sống lưu vong - tiếp tục lợi dụng mạng xã hội để tung ra giọng điệu mang màu sắc suy diễn, quy chụp, cố tình bóp méo bản chất sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Dưới vỏ bọc “phân tích thời sự”, bài viết này hoàn toàn không dựa trên nguồn tin chính thống, không có tài liệu kiểm chứng, mà chủ yếu dựa vào phỏng đoán cá nhân nhằm gieo rắc hoài nghi và tạo tâm lý bất ổn, quy chụp.
Đáng chú ý, thủ pháp truyền thông mà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sử dụng không mới, nhưng được lặp đi lặp lại một cách có chủ ý. Thứ nhất, đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất việc rút ngắn thời gian Đại hội với việc “chốt vội nhân sự”, trong khi nhân sự Đại hội là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị nhiều năm, qua nhiều vòng thẩm định, lấy ý kiến từ cơ sở đến Trung ương. Thứ hai, thổi phồng mâu thuẫn nội bộ, biến những suy đoán vô căn cứ thành “dự báo chính trị”, nhằm tạo cảm giác Đảng đang chia rẽ, mất ổn định. Thứ ba, gắn ghép thông tin quốc tế một cách khiên cưỡng, trích dẫn rời rạc các nhận định từ báo chí nước ngoài để phục vụ kết luận đã được định sẵn, thay vì phản ánh đúng bối cảnh và thực tế Việt Nam.
Bản chất của những thủ pháp này là gây nhiễu thông tin, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn. Đây chính là đặc trưng quen thuộc của các đối tượng chống phá lưu vong: không tranh luận bằng dữ kiện, không phản biện bằng lập luận khoa học, mà dựa vào cảm xúc tiêu cực và sự lặp lại có chủ đích.
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đang hướng tới triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo nhận diện rõ các thủ đoạn xuyên tạc, kiên quyết không để những tiếng nói chống phá, núp bóng “phân tích” hay “phản biện”, làm sai lệch nhận thức và gây chia rẽ trong xã hội.

Chung một niềm tinĐại hội XIV của Đảng ghi dấu mốc quan trọng mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Từ đại hội, cá...
20/01/2026

Chung một niềm tin
Đại hội XIV của Đảng ghi dấu mốc quan trọng mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Từ đại hội, các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng sẽ được quyết định để dựng xây đất nước giàu mạnh, hùng cường. Đó cũng chính là điều mong muốn lớn lao mà nhân nhân cả nước kỳ vọng và gửi gắm niềm tin hướng về đại hội.
Ý Đảng hòa quyện lòng dân
Năm mới 2026 đem theo khí thế từ những thành tựu to lớn trong công cuộc dựng xây qua 40 năm đổi mới. Trong những ngày đầu năm trên khắp mọi miền Tổ quốc, cờ hoa tưng bừng rực rỡ, nhân dân hân hoan hướng về Đại hội XIV của Đảng.
Niềm vui hiện rõ trên từng ánh mắt, gương mặt từ nơi biên cương xa xôi đến đảo xa sóng vỗ, từ phố thị tấp nập đến xóm làng bình yên. Niềm vui từ sự phát triển của đất nước, từ những chính sách an sinh xã hội thấm sâu vào đời sống đem lại hạnh phúc, ấm no cho đồng bào. Có được thành quả ấy là nhờ ý Đảng hòa quyện lòng dân. Dân tin Đảng, Đảng yêu dân, tạo thành một khối thống nhất.
Trong dịp phát biểu đóng góp ý kiến vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội) cho rằng: Chưa có ở đâu mà công việc của Đảng lại nhận được sự quan tâm của đông đảo nhân dân. Không khí chính trị lan tỏa trong toàn xã hội. Góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của toàn dân. Đây cũng chính là nét văn hóa rất đặc biệt ở Việt Nam. Có thể nói hiếm có đảng nào trên thế giới có được điều đặc biệt như thế.
Hướng về Đại hội Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, người dân đều có chung niềm tự hào, phấn khởi. Giữa đại ngàn Tây Nguyên, anh Kpă Séo-người con của buôn Ia Prong, xã Phú Túc (tỉnh Gia Lai) bày tỏ niềm vui khi cuộc sống của người dân quê anh ngày càng được cải thiện.
Sự đổi thay của buôn làng là nhờ những chính sách khuyến nông hữu ích và sự năng động sáng tạo của tuổi trẻ. Được sự tạo điều kiện của cấp ủy, chính quyền địa phương, anh đã kiên trì gây dựng mô hình kinh tế tập thể. Với vai trò là Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ thanh niên xã Đất Bằng, anh đăng ký ngành nghề sản xuất, kinh doanh, trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp, giúp giải quyết việc làm, tạo sinh kế cho bà con.
Phấn khởi trước những đổi thay của buôn làng, anh Kpă Séo bày tỏ: “Tôi rất phấn khởi khi mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Tôi tin rằng đại hội sẽ mở ra nhiều định hướng mới, Đảng sẽ có những chính sách chăm lo hơn nữa cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, giúp xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân”.
Chăm lo cuộc sống của nhân dân là mục tiêu cao nhất của Đảng ta. Mọi đường lối, quyết sách của Đảng đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tinh thần đó được biểu hiện cụ thể, sinh động vào dịp đầu năm mới 2026. Khi chuẩn bị diễn ra Đại hội Đảng cũng là lúc “Chiến dịch Quang Trung” thắng lợi giòn giã, mang lại mái ấm yêu thương cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ. Hàng trăm căn nhà đã hoàn thành để đồng bào vui xuân, đón Tết.
Ông Phạm Văn Khánh ở thôn Phú Hữu, xã Hòa Thịnh (tỉnh Đắk Lắk) bày tỏ: “Nhờ có cấp ủy đảng, chính quyền, Quân đội giúp đỡ, gia đình tôi cùng nhiều hộ dân khác đã có mái ấm đón xuân mới. Chúng tôi rất biết ơn sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo các cấp đối với cuộc sống của bà con. Trong lúc khó khăn, mọi nhu cầu thiết yếu được bảo đảm. Đến nay có căn nhà khang trang để yên tâm sinh hoạt và bắt đầu gây dựng cuộc sống mới. Qua đây, tôi càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, luôn quan tâm chăm lo đến đời sống của người dân”.
Có thể cảm nhận rõ, Đại hội Đảng là dịp để nhân dân gửi gắm niềm tin với Đảng. Đông đảo nhân dân kỳ vọng qua đại hội, Đảng đề ra những chủ trương lãnh đạo sát đúng, hợp lòng dân; quan tâm, hướng về cơ sở, thực hiện hiệu quả các chính sách về an sinh xã hội, tạo việc làm, thu nhập, nhà ở, y tế, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho nhân dân; giúp người dân được phát huy năng lực cá nhân, có điều kiện chăm lo cho gia đình, đóng góp tích cực cho cộng đồng, xã hội.
Niềm tin luôn song hành cùng với sự kỳ vọng lớn lao. Mang theo tiếng nói, nguyện vọng của người dân ở địa phương tới đại hội, Đại tá Nguyễn Thế Vinh, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Gia Lai (Đoàn đại biểu tỉnh Gia Lai) bày tỏ: “Nhân dân mong muốn những quyết sách được đưa ra và thực hiện với quyết tâm cao, để đạt thành công rực rỡ. Nghị quyết thực sự thấm sâu vào đời sống khi người dân được thụ hưởng những thành quả từ các quyết sách dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Mọi chủ trương phải được cụ thể hóa bằng việc làm thiết thực, như lời Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Khí thế cách mạng dâng cao không đến từ lời nói, từ cảm nhận mà phải đến từ kết quả cụ thể, đến từ “mâm cơm của mỗi gia đình”, đến từ hành động “sữa để em thơ, lụa tặng già”. Nhân dân đang nhìn chúng ta bằng niềm tin và kỳ vọng mới. Trách nhiệm của Trung ương là biến kỳ vọng thành hiện thực, “biến chủ trương thành dòng chảy trong cuộc sống”.
Hướng về Đại hội XIV của Đảng, nhân dân trên mọi miền Tổ quốc gửi trọn niềm tin cùng mong muốn Đảng ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hệ thống chính trị; tăng cường sự đồng bộ, nhất quán trong hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao năng lực thực thi của chính quyền địa phương, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là người đứng đầu, qua đó khơi dậy khát vọng cống hiến, chung sức dựng xây đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.

Address

Phường Đồng Tâm
Yên Bái

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sống xanh Lào Cai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share