HOA HƯỚNG DƯƠNG

HOA HƯỚNG DƯƠNG trang đăng tải những thông tin chính thống của Đảng bộ xã Tân Phương.

Chương trình văn nghệ chào mừng khu dân cư nông thôn mới gắn với kỷ niệm 93 năm ngày đại đoàn kết toàn dân năm 2023     ...
12/11/2023

Chương trình văn nghệ chào mừng khu dân cư nông thôn mới gắn với kỷ niệm 93 năm ngày đại đoàn kết toàn dân năm 2023 khu 2 xã Tân Phương

Bài Ca Xây Dựng Nông Thôn Mới - K2 Tân Phương Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu Năm 2023

03/08/2023

Phải biết trọng danh dự

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần lưu ý, muốn làm người đảng viên, người cán bộ, trước hết phải là một con người chân chính, một con người biết trọng liêm sỉ, trọng danh dự.

1. Dư luận nhân dân đánh giá rất cao quyết tâm chính trị và kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước được khởi xướng bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Những vụ đại án được đưa ra xét xử những năm qua và gần đây càng củng cố thêm quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ của Đảng ta.

Điều đáng bàn ở đây là mỗi khi một vụ án được đưa ra xét xử, chúng ta lại có dịp suy ngẫm và đúc rút những bài học trong công tác cán bộ và cả trong cuộc sống nhân sinh. Đứng trước hội đồng xét xử, những người vi phạm mới thực sự thức tỉnh, mới thực sự thấu hiểu được những giá trị lớn lao của danh dự, của đạo đức và nhân phẩm con người. Sau khi tuyên án, có thể sẽ phải chịu cảnh những năm tháng trong nhà tù, mất quyền công dân, con người ta mới thực sự thấm thía một sự thật: Bao nhiêu tiền bạc, nhà nọ, xe kia... cũng đều trở nên vô nghĩa. Và cái mất lớn nhất chính là danh dự, như bát nước đã đổ đi không bao giờ lấy lại được nữa.

Đó cũng chính là lúc những người từng là cán bộ, đảng viên và tất cả chúng ta mới thực sự thấm thía lời nhắc nhở của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, rằng: "Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất!".
Hiểu cặn kẽ hơn, danh dự là một thành tố thuộc phạm trù đạo đức; có ý nghĩa nền tảng định hướng con người lựa chọn làm điều tốt, điều thiện; ngăn ngừa làm điều xấu, điều ác. Trong văn hóa lịch sử nhân loại, có không ít cộng đồng và những cá nhân đã trở thành minh chứng sống động, khẳng định giá trị của danh dự, khi sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ danh dự, làm tất cả không tiếc điều gì chỉ để giữ gìn danh dự bản thân, danh dự gia đình, dòng họ, danh dự quốc gia... Danh dự là biểu hiện cao nhất của liêm sỉ. Cán bộ dù giữ chức vụ to hay nhỏ, dù ở cấp trung ương hay cấp cơ sở, trước hết phải là người có danh dự.

2. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải triển khai mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả hơn nữa công tác xây dựng Đảng về đạo đức; trong đó, lấy con người làm trung tâm, coi xây dựng văn hóa trọng danh dự làm nòng cốt.

Để làm được điều đó, các cấp ủy tổ chức Đảng, nhất là người đứng đầu các cấp phải thực sự quan tâm, tâm huyết, gương mẫu, đi đầu, trở thành “nhạc trưởng” huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Xây dựng Đảng về đạo đức phải gắn với xây dựng một xã hội văn hóa, văn minh, nơi đa số con người biết trân quý những giá trị cốt lõi chân - thiện - mỹ, tự giác điều chỉnh hành vi, tự soi, tự sửa hằng ngày để tốt hơn lên mỗi ngày. Ở đó, con người có văn hóa xấu hổ, vì nhờ biết xấu hổ mà có danh dự, từ có danh dự mà trong tiềm thức đã tự giác ý thức không dám nói và làm những điều sai trái.

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Lời dạy của Bác vừa nhắc nhở chúng ta rằng rèn luyện để trở thành người có danh dự, trọng danh dự không dễ, thậm chí rất khó khăn, gian khổ; nhưng thành quả thì có giá trị và ý nghĩa to lớn, ít nhất là không phải hối tiếc, ân hận.
Để có đủ năng lực, phẩm chất đương đầu và vượt lên được những cám dỗ của đồng tiền, xét cho cùng con người phải có cái gốc đạo đức vững chãi và một tâm thế không màng những thứ không thuộc về mình. Khả năng đó chỉ có được khi ngay từ đầu người đảng viên, người cán bộ làm việc phải nhằm giữ gìn danh dự cho bản thân và tổ chức; phải thực hiện đúng tinh thần “Dĩ công vi thượng”, nghĩa là đặt việc công lên trên hết, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của nhân dân, lên trên hết, trước hết. Đây là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và cũng chính là "tấm áo giáp" rắn chắc bảo vệ thanh danh cán bộ, đảng viên trước những “viên đạn bọc đường”.

Dân gian có câu: “Gieo nhân nào thì gặt quả nấy”. Cách ngôn minh triết này đã được chiêm nghiệm, kiểm chứng ngàn đời, rất đáng để vận dụng. Lại có câu: Kẻ trí thì sợ “nhân”, người ngu thì sợ “quả” để dạy rằng, đừng đến khi nhận “quả” rồi mới biết sợ, mà phải biết sợ từ lúc gieo “nhân”, trên cơ sở đó mà lựa chọn đúng việc cần làm: Làm việc tốt, thực sự chí công, vô tư, quang minh, chính đại.

Xây dựng Đảng về đạo đức để có đội ngũ cán bộ thực sự trọng danh dự cần xuất phát từ mỗi cá nhân, nhưng phải đặt trong nỗ lực chung của cộng đồng, xã hội; phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, "chống" là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách.
HNM

DÁMCực khổ "Dám nghĩ" đường đi Đấu tranh "Dám nói" ngại gì quan trên"Dám làm" thành tựu đáp đền"Dám chịu trách nhiệm" đừ...
03/08/2023

DÁM

Cực khổ "Dám nghĩ" đường đi
Đấu tranh "Dám nói" ngại gì quan trên
"Dám làm" thành tựu đáp đền
"Dám chịu trách nhiệm" đừng nên hứa lèo.

"Đổi mới, sáng tạo Dám" theo
"Dám đương đầu" vượt đói nghèo đi lên
"Khó khăn thử thách" tâm bền
"Dám hành động" đúng, ổn yên nước nhà.

Hãy "vì lợi ích chung" nha
Rèn tâm, diệt nhũng, xua tà, chống tham
Tấm gương của Bác, học làm
Dựng xây Tổ quốc Việt Nam mạnh giàu!

Tg: Hoàng Minh Thảo.
Stm

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Cộng hòa Italia của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng hợp tác...
26/07/2023

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Cộng hòa Italia của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng hợp tác, trao đổi giữa hai nước trong thời gian tới.

Trước thềm chuyến thăm cấp Nhà nước đến Cộng hòa Italia của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong các ngày 25-28/7, nhiều tờ báo lớn tại Italia đã đăng các bài viết trang trọng, đậm nét về chuyến thăm này.
--------
Xem chi tiết tại:

Chuyến thăm cấp Nhà nước đến Cộng hòa Italia của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng hợp tác, trao đổi giữa hai nước trong thời gian tới.

26/07/2023

CHỦ TỊCH NƯỚC VÕ VĂN THƯỞNG VÀ PHU NHÂN BẮT ĐẦU CHUYẾN THĂM CẤP NHÀ NƯỚC TỚI CỘNG HÒA ITALY VÀ THĂM TÒA THÁNH VATICAN

Nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Italy Sergio Mattarella và Giáo hoàng Francis, chiều 25/7/2023(theo giờ địa phương), Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Thủ đô Roma bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Italy và thăm Tòa thánh Vatican từ ngày 25 - 28/7. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

13/06/2023
13/06/2023

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất - thủ đoạn chống phá quen thuộc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách chống phá Việt Nam. Một trong những thủ đoạn quen thuộc mà chúng thường sử dụng là quy kết hiện tượng cá biệt thành bản chất nhằm vu cáo, xuyên tạc, làm trầm trọng hóa tình hình. Do đó, cần nhận diện rõ thủ đoạn tinh vi ấy để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức đấu tranh, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

Nhận diện thủ đoạn chống phá quen thuộc - từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất

Chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu lâu dài, xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực chống phá thường theo dõi rất sát diễn biến về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta. Do vậy, mỗi khi có vấn đề nào đó xảy ra hay có hiện tượng nào đó phát sinh, các thế lực nhanh chóng quy kết, chụp mũ để nâng cao quan điểm, thổi phồng, bóp méo sự thật. Đó là bản chất của thủ đoạn quy kết các hiện tượng cá biệt thành bản chất rồi lớn tiếng quy chụp, rêu rao nhằm tạo sự chú ý của dư luận, dọn đường cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thực hiện các mưu đồ chống phá.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của các sự vật; còn bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng và bản chất là một cặp phạm trù có mối quan hệ biện chứng, trong đó bản chất luôn luôn được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định; không có bản chất tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng, đồng thời cũng không có hiện tượng nào mà không biểu hiện bản chất. Nhấn mạnh sự thống nhất này, V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”(1).

Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định sự vận động, phát triển của sự vật. Do vậy, nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng, mà phải tiến đến bản chất của sự vật. Điều này cũng được V.I. Lê-nin chỉ rõ như sau: “Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng bản chất”(2). Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức bản chất của sự vật. Đó là, không thể xuất phát từ những hiện tượng cá biệt, đơn lẻ mà quy kết là bản chất của sự vật bởi đây là biểu hiện của bệnh chủ quan, duy ý chí của chủ thể nhận thức.

Ấy vậy mà, thời gian qua, những kẻ phản động, cơ hội chính trị hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tình lờ đi những nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức bản chất của sự vật nên thường xuyên dùng chiêu bài quy chụp hiện tượng cá biệt thành bản chất. Điển hình như những sự việc sau:

Một là, xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô mà quy kết cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một học thuyết khoa học.

Năm 1991, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô sau hơn 74 năm ra đời đã sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu. Đây được coi là “chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX” và là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lên tiếng quy chụp, phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là ảo tưởng, sai lầm. Họ rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác vì “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”(3); “chủ nghĩa Mác - Lê-nin đưa ra các nguyên tắc “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ”(4)(?!)... Những luận điệu nguy hiểm đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với mưu mô phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác, từ đó kêu gọi các nước không nên đi theo con đường phát triển chủ nghĩa xã hội. Đối với Việt Nam, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở nước ngoài đã lên tiếng quy chụp “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”(5); hay con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”(6). Từ đó, các phần tử cơ hội chính trị lên tiếng kêu gọi Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà các nước xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô, Đông Âu đã đi qua để phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa!

Hai là, từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà quy kết cả đội ngũ cán bộ, đảng viên “thoái hóa”, “biến chất”.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng được coi là một cái cớ để các thế lực nắm lấy nhằm thổi phồng, quy chụp đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta. Từ hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện vi phạm, bị xử lý kỷ luật, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lớn tiếng quy chụp rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay đã “thoái hóa về tư tưởng, suy đồi về phẩm chất đạo đức, lối sống, không giữ được “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như lời dạy của Bác Hồ”(7).

Gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ hàm hồ cho rằng, tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam và cáo buộc tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc Đảng cầm quyền”(8). Ngoài ra, các thế lực phản động còn đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(9).

Từ những lập luận kiểu quy chụp hiện tượng thành bản chất nêu trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”(10). Những phần tử phản động đã ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”(11). Nguy hại hơn, các thế lực thù địch còn võ đoán bằng những luận điệu hết sức thâm hiểm: “Trước tình hình cai trị độc tài, không hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”(12)!

Ba là, xuất phát từ những hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam “mất hết vai trò lãnh đạo”.

Trong thời gian qua, từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 mà Việt Nam đặt ra cách đây nhiều năm đã không đạt được, các thế lực thù địch lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả. Trên nhiều diễn đàn, nhất là mạng xã hội, với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các phần tử cơ hội chính trị đã lớn tiếng rêu rao “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo” và lên tiếng khuyên Việt Nam cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”!

Gần đây, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến phức tạp, trên các kênh truyền thông và mạng xã hội của lực lượng phản động nước ngoài quy chụp rằng “Việt Nam đã mất khả năng phòng, chống dịch” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể chống đỡ trước cơn bão dịch”... Những luận điệu này được rêu rao khắp nơi hòng làm giảm sút uy tín và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào vai trò, vị thế và uy tín của Đảng.

Thực chất của thủ đoạn chống phá từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất và giải pháp đấu tranh

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất tuy là thủ đoạn không mới, nhưng vô cùng nguy hiểm. Những thế lực sử dụng thủ đoạn này hoặc là thiếu hiểu biết về việc xem xét bản chất của sự việc (trường hợp này không nhiều), hoặc là cố tình lờ đi nguyên tắc xem xét, đánh giá bản chất của sự việc từ những hiện tượng đơn lẻ (trường hợp này là nhiều). Do đó, họ đã quy kết, đồng nhất hiện tượng với bản chất. Đây thực chất là thủ đoạn xuyên tạc, thổi phồng kiểu “vơ đũa cả nắm” với mưu đồ chống phá. Dễ dàng nhận thấy mục đích đằng sau thủ đoạn này là các thế lực thù địch muốn quy chụp, vu cáo những sai lầm, hạn chế của Đảng và Nhà nước ta từ những vụ, việc cụ thể, cá biệt thành hiện tượng phổ biến, có tính quy luật nhằm làm trầm trọng hơn vấn đề, khoét sâu thêm những khuyết tật đã có. Mục đích sâu xa của thủ đoạn này là nhằm hạ thấp năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta, cổ xúy và thúc đẩy tình trạng phản đối, khiếu kiện, chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền của một bộ phận nhân dân kém hiểu biết, bản lĩnh chính trị không vững vàng; từ đó mưu toan hướng lái sự phát triển của Việt Nam theo con đường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho là “tối ưu nhất” - con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

Có thể thấy rõ sự phiến diện, sai lầm trong cách quy kết đó. Chúng ta không phủ nhận những sai lầm, hạn chế, khuyết điểm từ những hiện tượng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra, song điều nguy hại là ở chỗ nó đã bị xuyên tạc, bóp méo qua lăng kính chủ quan với mưu đồ chống phá nguy hiểm. Ví như, từ sự quy chụp sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu mà quy kết là sự “cáo chung” của lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù Liên Xô và các nước Đông Âu là những nước tiêu biểu về xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở thế kỷ XX, nhưng sự sụp đổ không phải là sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa với tính cách là hình thái kinh tế - xã hội mà loài người hướng đến. Nguyên nhân của sự sụp đổ đó không phải là do những sai lầm cố hữu của chủ nghĩa Mác mà “bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều và xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(13). Hơn nữa còn do cả sự phản bội của một số lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ đúng như lời thú nhận của M.X. Goóc-ba-chốp được A.P. Sê-vi-a-kin công bố trong cuốn sách nổi tiếng “Bí ẩn diệt vong của Liên Xô - lịch sử những âm mưu và phản bội năm 1945 - 1991”. Đó là: “Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Chính vì để đạt được mục tiêu này, tôi đã sử dụng địa vị của mình trong Đảng và trong Nhà nước. Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đặt ra. Và để đạt được nó, tôi đã phải thay đổi toàn bộ Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô và Xô-viết tối cao cũng như Ban Lãnh đạo ở tất cả các nước Cộng hòa. Tôi đã tìm kiếm những người ủng hộ để hiện thực hóa mục tiêu đó, trong số này đặc biệt có A.Ya-kốp-lép, Sê-vát-nát-de...”(14).

Từ tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là tình trạng tham nhũng mà các thế lực thù địch, phản động quy kết cả đội ngũ cán bộ, đảng viên của nước ta thoái hóa, biến chất hay Đảng ta không có khả năng đấu tranh chống tham nhũng, Đảng chỉ dám đánh “con tôm, con tép”. Thực tiễn cho thấy, chúng ta không thể phủ nhận tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong những năm gần đây có những biểu hiện ngày càng nghiêm trọng, nhưng số cán bộ, đảng viên vi phạm chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số cán bộ, đảng viên trên cả nước. Ngoài những cán bộ có biểu hiện tiêu cực, có rất nhiều cán bộ, đảng viên luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị, nêu cao trách nhiệm cống hiến vì xã hội, vì cộng đồng và có đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước, được nhân dân tin tưởng, yêu mến và tôn vinh. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước, thời gian qua không thể không kể đến sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cả nước. Họ không chỉ lãnh đạo, quản lý đất nước, mà thực sự còn là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, là nơi gửi gắm niềm tin yêu, sự tôn trọng của nhân dân.

Trước tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều hạn chế, tăng trưởng kinh tế còn chậm, các thế lực thù địch quy kết rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mất vai trò lãnh đạo, đường lối đổi mới của Việt Nam không thành công. Đó thực chất là những luận điệu chủ quan, duy ý chí, thể hiện rõ mưu đồ quy chụp. Để đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay kết quả của công cuộc đổi mới đất nước, cần có cái nhìn khách quan, công tâm, trên tinh thần khoa học, biện chứng mới thấy rõ hết được. Chúng ta không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển, mức độ tăng trưởng thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng nhìn lại cả chặng đường đã đi qua, nhất là từ khi đổi mới đến nay, chúng ta mới thấy hết được những bước phát triển vượt bậc của đất nước. Điều này đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”(15). Đó là những bằng chứng thuyết phục để khẳng định vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định đường lối đổi mới của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, vừa phù hợp với quy luật khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đây cũng chính là căn cứ thực tiễn sinh động để phản bác những thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn quy kết những hiện tượng đơn lẻ, cá biệt thành bản chất.

Thủ đoạn chống phá quy kết những hiện tượng cá biệt thành bản chất tuy không mới, nhưng cũng không thể xem nhẹ, coi thường vì nó dễ khiến người khác hiểu sai, gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin. Do đó, cần có những biện pháp hợp lý để đấu tranh ngăn chặn.

Một là, cần nâng cao tinh thần cảnh giác cho nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị. Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải không ngừng tuyên truyền, giúp nhân dân nhận diện rõ thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch khi quy kết những hiện tượng cá biệt thành bản chất để tránh bị các thế lực lôi kéo, mua chuộc, kích động. Ngoài ra, cần động viên, khích lệ, hướng dẫn nhân dân tham gia đấu tranh phản bác những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng điều kiện, khả năng của mình nhằm nâng cao “sức đề kháng” trước những hoạt động chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Hai là, tiếp tục phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để, một mặt, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; mặt khác, từng bước pha loãng những thông tin xấu, độc, có nội dung xuyên tạc, quy chụp, võ đoán để các thông tin tích cực chiếm ưu thế trên báo chí, truyền thông, mạng xã hội. Ngoài ra, trước những vụ, việc có dấu hiệu bị quy chụp, xuyên tạc, các cơ quan báo chí, truyền thông cần phát huy vai trò trong việc định hướng tư tưởng cho nhân dân theo những luồng thông tin chính thống, tránh để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chiếm lĩnh thông tin, dẫn dắt dư luận theo ý muốn chủ quan để dễ bề thực hiện mưu đồ chống phá.

Ba là, cần chủ động có những biện pháp phù hợp để đấu tranh nhằm vô hiệu hóa các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Căn cứ vào vai trò, nhiệm vụ của các lực lượng chuyên trách, nòng cốt để xây dựng những phương án đấu tranh phù hợp với thủ đoạn quy chụp từ những hiện tượng cá biệt thành bản chất. Với lực lượng tuyên giáo các cấp, cần phát huy vai trò trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Với đội ngũ chuyên gia, cần đẩy mạnh nghiên cứu, cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén, thuyết phục để phản bác những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Với lực lượng xung kích (công an, quân đội, thanh niên...) cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ, ngăn chặn, xử lý những thủ đoạn chống phá; đồng thời, tăng cường đấu tranh trên không gian mạng, mở rộng mạng lưới đấu tranh trong nhân dân để quy tụ và phát huy sức mạnh tổng lực.

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất là một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên thực hiện nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Nhận diện bản chất của thủ đoạn đó để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm là cách mỗi chúng ta đấu tranh với những thủ đoạn chống phá đó, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
CS

17/12/2022

DỰ BÁO THIÊN TÀI CỦA BÁC VỀ B-52 NÉM BOM HÀ NỘI

Cách đây tròn nửa thế kỷ, việc Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc “đụng đầu” trực diện với "siêu pháo đài bay" B-52 của đế quốc Mỹ đã làm thế giới kinh ngạc.
Hàng nghìn bài báo, hàng trăm cuốn sách đã được viết để lý giải câu hỏi: Vì sao một đất nước với tiềm lực kinh tế và quân sự kém xa Mỹ lại có thể bắn rơi hàng loạt máy bay B-52 - niềm tự hào của nền công nghiệp Mỹ và biểu trưng cho sức mạnh răn đe của Mỹ? Kỳ tích chưa từng có ấy được tạo thành bởi nhiều nguyên nhân, nhưng dự báo sớm và tuyệt đối chính xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc đế quốc Mỹ sẽ dùng B-52 tấn công Hà Nội và sẽ thua trên bầu trời Hà Nội đã giúp quân và dân Việt Nam có thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt để lập nên chiến công huyền thoại ở thế kỷ 20.

Sau Hiệp định Geneva, khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam đã bị tham vọng xâm lược của đế quốc Mỹ chà đạp. Với tinh thần “Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là “kiến trúc sư” của cuộc kháng chiến. Trong cuộc đối đầu với đế quốc Mỹ, Người đã thể hiện năng lực của một chính trị gia kiệt xuất và nhà cầm quân thực sự “biết địch, biết ta”. Người hiểu rằng, một trong những yếu tố làm nên vị thế “siêu cường” của Mỹ chính là vũ khí tối tân. Cùng với tên lửa đạn đạo và tàu ngầm hạt nhân, máy bay ném bom chiến lược B-52 chính là “át chủ bài” của Quân đội Mỹ. Đây là loại máy bay được hãng Boeing sản xuất từ năm 1952 và đã qua nhiều lần cải tiến để có những tính năng vô cùng lợi hại. Mỹ tuyên bố, B-52 là “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”. Với dự cảm thiên tài, ngay từ năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho đồng chí Phùng Thế Tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ chú là Tư lệnh Phòng không, vậy chú đã biết gì về B-52 chưa? Nói thế thôi chứ chú có biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay cao trên 10 cây số mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52 này” ("Nguồn sức mạnh", Nhà xuất bản Sự thật, năm 1992). Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến máy bay B-52 và chỉ thị phải chuẩn bị tiêu diệt nó từ khi đế quốc Mỹ chưa sử dụng B-52 ở Việt Nam.

Về phía Mỹ, buộc phải thi hành "chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam mà chiến sự vẫn không khả quan, với mong muốn thay đổi tình thế và tạo sự răn đe, ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ đã dùng máy bay B-52 ném bom căn cứ Long Nguyên của ta ở Bến Cát (Bình Dương). Trước hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ, ngay lập tức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, ngày 12-4-1966, B-52 của Mỹ đã ném bom khu vực Quảng Bình và sau đó đánh rộng ra Vĩnh Linh (Quảng Trị). Trước hành động Mỹ dùng B-52 đánh ra miền Bắc, Người đã chỉ thị lực lượng Phòng không-Không quân phải tìm ra cách đánh B-52. Với quan điểm “muốn bắt cọp thì phải vào tận hang cọp”, Người ủng hộ phương án đưa Trung đoàn Tên lửa 238 vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B-52. Trải qua muôn vàn gian khó và hy sinh, ngày 17-9-1967, hai máy bay B-52 đã bị Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 238 bắn hạ trên bầu trời Vĩnh Linh. Thực tế đã chứng minh: Lời khẳng định “bê” gì ta cũng đánh và đánh là sẽ thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hoàn toàn chính xác.

Hiểu rõ quy luật chiến tranh và sự hiếu chiến của kẻ thù, đầu năm 1968, khi làm việc với đồng chí Phùng Thế Tài, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Người đưa ra dự báo: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua... Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Lời dự báo ngắn gọn ấy chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa.

Thứ nhất, dự báo thể hiện sự thấu hiểu âm mưu, bản chất ngoan cố, hiếu chiến và lật lọng của đế quốc Mỹ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu rõ bản tính hiếu chiến, ngoan cố của kẻ thù đế quốc. Do đã tốn nhiều tiền của, binh lực, đã sử dụng nhiều chiến lược chiến tranh mà vẫn không thắng nổi dân tộc nhỏ bé thì đế quốc Mỹ rất cay cú. Vì thế, chúng sẽ tiếp tục “leo thang” chiến tranh, sẵn sàng gây tội ác khủng khiếp nhất, sử dụng các vũ khí tối tân nhất như B-52 để “đè bẹp” ý chí chiến đấu của ta.

Người còn biết rõ, với kẻ đi xâm lược thì sự phi nghĩa, bất chính luôn song hành với sự lật lọng. Sau sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Tổng thống Johnson tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị đàm phán với Chính phủ ta. Ngay khi đó, trong thư gửi Bộ Chính trị, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lưu ý: “Cần nghiên cứu thật kỹ. Trong tuyên bố đó có những điểm mập mờ, xảo quyệt... Trong nội bộ cán bộ, bộ đội và nhân dân, cần củng cố tư tưởng quyết chiến quyết thắng và chớ mất cảnh giác. Tuyệt đối chớ chủ quan vì địch có thể bất thình lình đánh lại” ("Hồ Chí Minh toàn tập", tập 15). Sự thật diễn ra đúng như thế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhìn thấu ý đồ của kẻ thù, rằng Mỹ đang muốn thoát ra khỏi chiến tranh Việt Nam nhưng lại muốn thoát ra trong danh dự. Vì thế, đàm phán là tiến trình tất yếu. Hội đàm Paris (bắt đầu từ ngày 13-5-1968) đã mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”. Theo nguyên tắc, người ta chỉ có thể giành được trên bàn đàm phán cái mà người ta giành được trên chiến trường. Để ép Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký hiệp định với những điều khoản có lợi cho Mỹ thì rất có thể máy bay ném bom chiến lược tầm xa B-52 sẽ được Mỹ sử dụng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn am tường cách thức kết thúc chiến tranh của Mỹ. Trong các cuộc chiến tranh mà Mỹ từng tham chiến, trước khi kết thúc, Mỹ đều dùng vũ khí tối tân, kể cả vũ khí hạt nhân để hủy diệt các thành phố lớn, thủ đô của đối phương nhằm phô diễn sức mạnh và tạo lợi thế khi đàm phán. Vì thế, các TP Dresden của Đức, Hirosima và Nagasaki của Nhật, Bình Nhưỡng của Triều Tiên... đều đã trở thành những đống tro tàn bởi các cuộc không kích hủy diệt của Mỹ. Kịch bản ấy đối với Hà Nội cũng không loại trừ.

Thấu hiểu kẻ thù đến “chân tơ kẽ tóc”, lời dự báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một loạt vấn đề: Vào giai đoạn cuối chiến tranh, để cứu vãn tình thế, Mỹ sẽ sử dụng “át chủ bài” B-52; khu vực bị đánh phá trọng yếu sẽ là Hà Nội.

Thứ hai, dự báo thể hiện niềm tin mãnh liệt của Hồ Chí Minh vào con người Việt Nam và thắng lợi tất yếu của dân tộc Việt Nam.

Ngoài ý chí, quyết tâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thấy rõ ở nhân dân Việt Nam khả năng chịu đựng gian khổ. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa ta và địch. Để giành thắng lợi trong chiến tranh tự vệ, bên cạnh việc “dám đánh” thì ta còn phải “biết đánh” và “biết thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tin tưởng vào trí tuệ của con người Việt Nam trong cuộc đối đầu với B-52, cho dù nó chưa từng bị bắn hạ ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, cho dù vũ khí ta có trong tay lúc đó mới chỉ dừng ở mức tương đối hiện đại: Đó là máy bay MiG-21, tên lửa SAM-2, pháo phòng không cỡ nòng 100mm, radar P35. Người tin rằng, con người Việt Nam không chỉ có ý chí mà còn có cả tài trí để khống chế, hóa giải vũ khí tối tân của kẻ thù.

Trong cuộc đối đầu với B-52 sau này, tất cả các lực lượng chiến đấu của ta đều phát huy cao độ năng lực sáng tạo để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Nhiễu điện tử là niềm kiêu hãnh của nền công nghiệp vũ khí Hoa Kỳ, B-52 được mệnh danh là “máy bay tàng hình” nhưng từ thực tế chiến đấu, trong trận chiến 12 ngày đêm, radar của ta đã xuất sắc trong việc “vạch nhiễu, tìm thù” để báo động chiến đấu và dẫn đường cho tên lửa. Bộ đội Tên lửa đã khắc phục được những hạn chế về tính năng của binh khí kỹ thuật, biết cách tránh tên lửa tự dẫn Shrike của máy bay địch để bảo vệ trận địa và ngày càng nâng cao hiệu suất chiến đấu... Tài trí của con người Việt Nam không dừng lại ở kỹ thuật sử dụng điêu luyện vũ khí mà đã phát triển thành nghệ thuật phối hợp giữa các lực lượng chiến đấu một cách nhịp nhàng, ăn ý. Kết quả là, bầu trời miền Bắc Việt Nam đã có “lưới lửa” phòng không dày đặc, nhiều tầng, nhiều lớp, vòng trong, vòng ngoài, khiến cho đối phương bay ở độ cao nào cũng có thể bị tấn công.

Thứ ba, dự báo thể hiện khả năng phân tích tương quan lực lượng của một chiến lược gia kiệt xuất.

Trong cuộc đối đầu với siêu cường, thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở chỗ Người đã nhìn tương quan lực lượng trong hình thái toàn diện và sự chuyển hóa của nhiều nhân tố; tuyệt đối không run sợ trước vũ khí uy lực của kẻ thù.

Trước đế quốc Mỹ với sức mạnh vật chất vượt trội, Người đã nhìn ra những “tử huyệt” của chúng: Đó là tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh, là tham vọng toàn cầu nên bị phân chia lực lượng, là sự “bài bản” đến mức “cứng nhắc” trong tác chiến. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh điểm yếu của đối phương từ góc độ tinh thần, rằng do không có động lực chân chính, trong tay họ, “đại bác chỉ là một cục sắt”. Thêm nữa, sự ngạo mạn về sức mạnh vật chất, không đánh giá hết sức mạnh tinh thần, không hiểu văn hóa Việt Nam cũng làm cho Mỹ phải hứng chịu thất bại. Sự chủ quan, coi thường khả năng chiến đấu của lực lượng phòng không miền Bắc Việt Nam đã khiến Mỹ phải trả giá đắt.

Về phía quân và dân Việt Nam thì đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ cả thế giới, chúng ta nhất định thắng” ("Hồ Chí Minh toàn tập", tập 15).

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra phương hướng hành động để quân và dân ta bước vào trận quyết chiến chiến lược với tâm thế chủ động, sẵn sàng.

Việc Mỹ dùng máy bay B-52 tấn công Hà Nội vào tháng 12-1972 có quan hệ chặt chẽ với tiến trình Hội nghị Paris. Sau hơn 4 năm đàm phán, đến ngày 17-10-1972, văn bản hiệp định đã cơ bản được hoàn tất trên tinh thần Mỹ phải rút quân và nội bộ miền Nam để nhân dân miền Nam tự quyết định. Tuy nhiên, sau khi đắc cử trong cuộc bầu cử ngày 7-11-1972, Tổng thống Nixon đã lật lọng. Hội nghị Paris rơi vào bế tắc và phải dừng lại. Để ép ta ký một hiệp định có lợi cho Mỹ, Nixon quyết định tiến hành Chiến dịch Linebacker II.

Do đã lường trước nên sự lật lọng và điên cuồng của Mỹ không làm ta bị động, bất ngờ, nao núng. Cách đánh B-52 đã được viết thành sách và được phổ biến đến từng trận địa. Và rồi, thất bại nhục nhã trên bầu trời Hà Nội cuối tháng 12-1972 buộc Mỹ phải “xuống thang”, tuyên bố ngừng ném bom và đề nghị nối lại Hội nghị Paris.

Việc nhìn lại Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” 50 năm về trước không phải để khơi lại lòng hận thù dân tộc mà là để thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình, tri ân những con người quả cảm đã làm nên chiến công kỳ vĩ và nhận thức rõ vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc. Thắng lợi của “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cũng như tất cả thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, không bao giờ là sự ngẫu nhiên; tất cả đều in rõ dấu ấn của lãnh tụ Hồ Chí Minh-một tài năng đa diện, trong đó có tài năng “tiên tri, tiên giác”.

PGS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Báo QĐND
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xác máy bay không người lái tầm cao bị Bộ đội Tên lửa bắn rơi ngày 24-3-1966. Ảnh tư liệu

Address

Vietri

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when HOA HƯỚNG DƯƠNG posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to HOA HƯỚNG DƯƠNG:

Share