Chi đoàn Sở Tư pháp Phú Yên

Chi đoàn Sở Tư pháp Phú Yên Trang Fanpage cập nhật thông tin hoạt động của Chi đoàn Sở Tư pháp Phú Yên.

26/05/2025

TỔNG BÍ THƯ: HỌC BÁC HỒ ĐỂ SỐNG CÓ LÝ TƯỞNG VÀ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM

Tổng Bí thư Tô Lâm kêu gọi học tập Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn lý tưởng, kỷ cương, yêu thương, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Trong bài viết Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản vô giá. Không chỉ là lãnh tụ vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người còn đặt nền móng vững chắc cho tương lai của đất nước bằng tư tưởng và tấm gương đạo đức. Cốt lõi của tư tưởng ấy là khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu cuối cùng là đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Tổng Bí thư khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách sống giản dị, thanh bạch, khiêm nhường nhưng vô cùng cao thượng. Tấm gương sáng ngời của Người về "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" là chuẩn mực cho mọi thế hệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của hòa bình, tự do, giải phóng dân tộc của nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ thế giới. UNESCO đã vinh danh Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất" năm 1987. Tư tưởng Hồ Chí Minh có đóng góp to lớn, truyền cảm hứng cho cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc và xây dựng một thế giới công bằng, nhân văn hơn.

Theo Tổng Bí thư, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn sâu đậm trên mọi lĩnh vực của Việt Nam, từ kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Nhờ kiên định đi theo con đường mà Đảng và Người lựa chọn, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trước công cuộc Đổi mới, trở thành nước đang phát triển với thu nhập trung bình, kinh tế tăng trưởng nhanh và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Giai đoạn 1986-2023, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,5-7%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 35 nền kinh tế hàng đầu thế giới và nằm trong top 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất. Việt Nam cũng trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Đảng và Nhà nước luôn coi việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu, xuyên suốt trong mọi chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước.

Kế thừa tư tưởng "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã tập trung phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục. Đến nay, cả nước đã phổ cập giáo dục ở các bậc học nền tảng, nâng tỷ lệ biết chữ của người lớn lên gần 100%. Thế hệ trẻ ngày nay không chỉ được trang bị tri thức vững vàng, mà còn được giáo dục toàn diện về lý tưởng, đạo đức và lối sống.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Mỗi người dân mạnh khỏe, tức là cả nước mạnh khỏe", đồng thời đặt ra nhiệm vụ xây dựng một dân tộc khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Ngày nay, hệ thống y tế Việt Nam không ngừng được củng cố và phát triển từ tuyến cơ sở đến trung ương. Tinh thần "Lương y như từ mẫu" tiếp tục được lan tỏa, đội ngũ y bác sĩ ngày đêm tận tụy chăm sóc sức khỏe nhân dân, noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Với đường lối chiến lược "Dựng nước đi đôi với giữ nước" và tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", Việt Nam đã và đang xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Đường lối ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh với chủ trương "Làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai" đã và đang được vận dụng sáng tạo, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tinh thần dám nghĩ, dám làm, hết lòng vì nước, vì dân của Bác tiếp tục truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay, tiếp nối ý chí và khát vọng lớn lao, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam phát triển hùng cường trong tương lai.

Tổng Bí thư khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường và hoài bão cống hiến. Sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục tỏa sáng trong mỗi người Việt, tạo nên sức mạnh mềm nâng bước dân tộc trên con đường hướng tới tương lai.

Người đứng đầu Đảng nhấn mạnh "chúng ta cần học Bác mỗi ngày - học từ điều lớn đến điều nhỏ, học ở tầm lý tưởng nhưng cũng học trong từng hành vi ứng xử, từng việc làm cụ thể".

"Học Bác để sống có lý tưởng, có kỷ cương, biết yêu thương, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục là nguồn năng lượng vô tận, giúp chúng ta vượt qua mọi thử thách, giành nhiều thắng lợi trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển", Tổng Bí thư viết./.

VnExpress

26/05/2025

“…CÁN BỘ KHÔNG DÁM CÔNG KHAI THỪA NHẬN KHUYẾT ĐIỂM THÌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG LÀ CÁN BỘ...”

“…Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ…”.

Đây là lời Bác viết Trên Báo Sự thật số 109, ra ngày 15/4/1949 trong bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” của tác giả L.T (bút danh của Người). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách để làm sao kẻ địch không thực hiện được thủ đoạn phản tuyên truyền; đó là, “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”.

Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì “uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”. Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Bác Hồ chủ trương tất cả cán bộ, từ cấp trên đến cấp dưới, phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.

Thực hiện những chỉ huấn của Người, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm; đề cao tự phê bình và phê bình, xác định là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Thực hiện lời Bác dạy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, là cách tốt nhất để không ngừng củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm khắc, ráo riết, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”; căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, phân tích, đánh giá, chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm, có lý, có tình, để khuyến khích phần thiện trong mỗi con người nảy nở, thức tỉnh, nâng đỡ người có sai lầm khuyết điểm tiếp thu phê bình, sửa chữa lỗi lầm, khuyết điểm.

Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo, phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên, hằng ngày.

QĐND

26/05/2025

Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng. Thấy rõ giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không ngừng tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng của Người.

Nhận diện luận điệu sai trái, xuyên tạc

Một trong những luận điệu nguy hiểm mà các thế lực thù địch xuyên tạc là cho rằng Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng, không có tư tưởng hoặc nếu có thì đó chỉ là những quan điểm rời rạc, thiếu hệ thống, không đủ tầm vóc để gọi là một hệ tư tưởng.

Các đối tượng thù địch thường nguỵ biện rằng, Hồ Chí Minh là người hoạt động thực tiễn, không viết lý luận theo nghĩa hàn lâm, không có hệ thống học thuyết riêng như C.Mác, Ph.Ăngghen hay Lênin. Họ lý sự rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nên quy kết “không có khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Bên cạnh đó, một số kẻ đội lốt “nhà phản biện”, “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học” còn cố tình ngụy biện rằng Hồ Chí Minh chỉ là người “sao chép” chủ nghĩa Mác – Lênin, không có sự sáng tạo gì mới nên không thể gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Ở đây không đơn thuần là sự hoài nghi học thuật mà là các thế lực thù địch, phản động âm mưu nhằm hạ bệ biểu tượng tư tưởng cách mạng, tạo ra khoảng trống lý luận để tung quan điểm lệch lạc, xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhất là trong thế hệ trẻ. Họ muốn phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh để từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận chế độ XHCN, thúc đẩy mô hình “đa nguyên, đa đảng”. Đây là chiêu bài chính trị quen thuộc nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học được lặp đi, lặp lại, nhất là trong dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đối tượng lại tìm cách “khuấy” lên dưới nhiều chiêu trò như toạ đàm, hội luận, phỏng vấn, phân tích…

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và CNXH với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển nhiều luận điểm mới, phù hợp và sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác – Lênin tập trung vào đấu tranh giai cấp ở phương Tây thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề dân tộc và giải phóng thuộc địa. Nếu chủ nghĩa Mác – Lênin đề cập nhiều về vai trò của giai cấp vô sản thì Hồ Chí Minh nhận thấy vai trò to lớn của nông dân và các tầng lớp bị áp bức trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.

Tư tưởng không nhất thiết phải được thể hiện bằng những bộ sách đồ sộ hay khái niệm trừu tượng, hàn lâm mà có thể hiện diện qua các tác phẩm chính luận, bài viết, bài nói, hành động và trên hết là qua sự chỉ đạo đúng đắn và hiệu quả đối với thực tiễn cách mạng. Các nhà khoa học chỉ rõ rằng, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng theo đúng nghĩa của một nhà cách mạng hành động, nơi mà lý luận luôn được kiểm chứng và phát triển qua thực tiễn sôi động của Người. Do đó, không thể nguỵ biện rằng, ở Hồ Chí Minh không có các tác phẩm lý luận tầm cỡ và vì bản thân Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, từ đó đưa ra quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng của Người.

Thế giới đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi

Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đã khẳng định, Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn, bởi Người có sự chuẩn bị kỹ càng về lý luận, có khả năng dự báo, xác định đúng hướng đi cho phong trào của quần chúng khi đang còn tự phát. Có tầm nhìn chính trị bao quát, rộng mở để giải quyết những vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng. Có khả năng tổ chức thành lập một chính đảng cách mạng để quy tụ, tập hợp quần chúng để đấu tranh. Có khả năng vượt qua những khó khăn, thử thách để thực hiện tư tưởng của mình trong thực tiễn cách mạng.

Người đã có rất nhiều tác phẩm lý luận thể hiện tư duy sâu sắc, nhất quán và mang tính hệ thống về cách mạng Việt Nam. Trong di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng gắn liền với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Năm 2021, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” (15 tập).

Bộ sách tập hợp khoảng 3.300 tác phẩm, bài nói, bài viết, điện, thư… của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1912 đến năm 1969 đã được xác minh và thẩm định, cung cấp nhiều tư liệu làm sáng tỏ sự nghiệp, những giá trị lớn lao của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó phải kể đến năm tác phẩm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh – năm di sản đã được công nhận là bảo vật quốc gia: “Đường Kách mệnh” (1927), “Nhật ký trong tù” (1942-1943), “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946), “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” (17/7/1966) và “Di chúc” (10/5/1965-19/5/1969).

Năm tác phẩm tiêu biểu được xếp hạng bảo vật quốc gia cũng như toàn bộ di sản của Người có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đều có những chỉ dẫn cụ thể, là kim chỉ nam, mang giá trị định hướng trường tồn. Đó không phải là những mảnh ghép rời rạc như luận điệu các thế lực xấu mà là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế. Đồng thời, minh chứng cho những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng thế giới, sự cống hiến của Người vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ và thống nhất đất nước, xây dựng XHCN, đưa đất nước tiến lên hiện đại. Không chỉ có giá trị trong lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang tính thời đại sâu sắc, tiếp tục soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là minh chứng sinh động cho giá trị khoa học, giá trị cách mạng và giá trị nhân văn cao cả của một tư tưởng vĩ đại.

Đại hội XI (2011), Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”. Định nghĩa này không chỉ mang tính lý luận sâu sắc mà còn thể hiện sự đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này đủ sức bác bỏ quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn không có hệ thống lý luận độc lập.

Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Ghi nhận những đóng góp, cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh cho tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam, cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, UNESCO đã ban hành Nghị quyết khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư cách nhà tư tưởng của Người. Nghị quyết ghi nhận Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Chính các học giả, nhà nghiên cứu quốc tế đã thừa nhận và ca ngợi tư tưởng Hồ Chí Minh như một hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên bình diện thế giới. Tại nhiều hội thảo quốc tế, các học giả đã nhấn mạnh tính nhân văn, tính thực tiễn và tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là sự đóng góp quan trọng vào kho tàng tư tưởng cách mạng thế giới. Hiện nay, đã có 35 công trình tượng, tượng đài Hồ Chí Minh được xây dựng tại 22 quốc gia trên thế giới.

Đây chính là sự bác bỏ đầy thuyết phục của cộng đồng quốc tế đối với các luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, khi sự nghiệp cách mạng bước vào giai đoạn mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Điều này cũng chứng tỏ rằng, những luận điệu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh không những phi khoa học mà còn đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Chu Thắng – Trịnh Thúy

Báo Công an nhân dân

26/05/2025
15/04/2025

Phú Yên dự kiến tên gọi mới của 34 xã, phường

(VTC News) - Dự kiến sau khi sắp xếp lại các đơn vị hành chính, tỉnh Phú Yên sẽ còn 34 xã, phường.
Theo dự thảo phương án sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Phú Yên năm 2025, tỉnh này sẽ có 34 xã, phường (27 xã, 7 phường), giảm 72 xã, phường so với số đơn vị hành chính cấp xã hiện có, đúng quy định của Trung ương (giảm khoảng 60 - 70 %).

1. Thành lập phường Tuy Hòa trên cơ sở nhập phường 1, phường 2, phường 4, phường 5, phường 7; các khu phố của phường 9 - Khu vực phía Nam đường Nguyễn Hữu Thọ (gồm: Ninh Tịnh 2, một phần khu phố Ninh Tịnh 3; khu phố Ninh Tịnh 4; khu phố Ninh Tịnh 5; một phần khu phố Ninh Tịnh 6; một phần khu phố Phước Hậu 2).

Đồng thời điều chỉnh nhập diện tích tự nhiên và dân số của các thôn của xã Hòa An, huyện Phú Hòa (gồm các thôn Đông Phước, thôn Đông Bình, thôn Ân Niên, một phần thôn Phú Ân, một phần thôn Vĩnh Phú - phần phía Đông đường cao tốc) và nhập diện tích tự nhiên, dân số các thôn của xã Hòa Trị huyện Phú Hòa (gồm các thôn Phước Khánh, thôn Quy Hậu, một phần của thôn Phụng Tường 1 - phần phía Đông đường cao tốc).

Sau sắp xếp, trụ sở làm việc khối Đảng, đoàn thể làm việc tại trụ sở Thành ủy Tuy Hòa. Khối Chính quyền làm việc tại trụ sở UBND thành phố Tuy Hòa.

2. Thành lập phường Phú Lâm trên cơ sở nhập phường Phú Đông, phường Phú Lâm, phường Phú Thạnh; xã Hòa Thành (TX Đông Hòa) và một phần khu phố Uất Lâm (phường Hòa Hiệp Bắc, TX Đông Hòa). Trụ sở làm việc khối Đảng, đoàn thể làm việc tại trụ sở UBND phường Phú Thạnh. Khối Chính quyền làm việc tại trụ sở UBND phường Phú Lâm.

3. Thành lập phường Bình Kiến trên cơ sở nhập Phường 9 - phía Bắc đường Nguyễn Hữu Thọ (gồm các khu phố Thanh Đức; một phần khu phố Ninh Tịnh 3; một phần khu phố Phước Hậu 2, một phần khu phố Ninh Tịnh 6 và khu phố Liên Trì 1), xã An Phú, xã Bình Kiến, xã Hòa Kiến thuộc thành phố Tuy Hòa. Trụ sở làm việc khối Đảng, đoàn thể làm việc tại trụ sở UBND Phường 9. Khối Chính quyền làm việc tại trụ sở UBND xã Bình Kiến.

4. Thành lập phường Sông Cầu 1 trên cơ sở nhập phường Xuân Đài, phường Xuân Thành. Trụ sở làm việc tại UBND phường Xuân Đài.

5. Thành lập phường Sông Cầu 2 trên cơ sở nhập phường Xuân Yên, phường Xuân Phú, xã Xuân Phương và xã Xuân Thịnh. Trụ sở làm việc khối Đảng, đoàn thể làm việc tại trụ sở Thị uỷ Sông Cầu. Khối chính quyền làm việc tại trụ sở UBND thị xã Sông Cầu.

6. Thành lập xã Sông Cầu 3 trên cơ sở nhập xã Xuân Thọ 2, xã Xuân Thọ 1, xã Xuân Lâm. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Thọ 1.

7. Thành lập xã Sông Cầu 4 trên cơ sở nhập xã Xuân Cảnh và xã Xuân Bình. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Cảnh.

8. Thành lập xã Sông Cầu 5 trên cơ sở nhập xã Xuân Lộc, xã Xuân Hải. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Lộc.

9. Thành lập Phường Đông Hòa trên cơ sở nhập phường Hòa Vinh, phường Hòa Tân Đông, phường Hòa Xuân Tây. Trụ sở làm việc tại trụ sở UBND thị xã Đông Hòa (hiện nay).

10. Thành lập Phường Hòa Hiệp trên cơ sở nhập phường Hòa Hiệp Trung, phường Hòa Hiệp Nam và phường Hòa Hiệp Bắc. Trụ sở làm việc tại trụ sở Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQVN phường Hòa Hiệp Trung và phường Hòa Hiệp Nam (hiện nay).

11. Thành lập Xã Hòa Xuân trên cơ sở nhập xã Hòa Xuân Đông, xã Hòa Tâm, xã Hòa Xuân Nam. Trụ sở làm việc tại Trụ sở Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQVN xã Hòa Xuân Đông (hiện nay).

12. Thành lập xã Tuy An Bắc trên cơ sở nhập thị trấn Chí Thạnh, xã An Dân, xã An Định. Trụ sở làm việc tại Huyện ủy, UBND huyện Tuy An (hiện nay).

13. Thành lập xã Tuy An Đông trên cơ sở nhập xã An Ninh Đông, xã An Ninh Tây, xã An Thạch. Trụ sở làm việc tại UBND xã An Ninh Tây.

14. Thành lập xã Ô Loan trên cơ sở nhập xã An Hiệp, xã An Hòa Hải, xã An Cư. Trụ sở làm việc tại UBND xã An Hòa Hải.

15. Thành lập xã Tuy An Nam trên cơ sở nhập xã An Thọ, xã An Mỹ, xã An Chấn. Trụ sở làm việc tại UBND xã An Mỹ.

16. Thành lập xã Tuy An Tây trên cơ sở nhập xã An Nghiệp, xã An Xuân, xã An Lĩnh. Trụ sở làm việc tại UBND xã An Nghiệp.

17. Thành lập xã Phú Hòa 1 trên cơ sở nhập thị trấn Phú Hoà, xã Hòa Thắng, xã Hoà Định Đông, xã Hoà Định Tây và xã Hoà Hội và một phần thôn Vĩnh Phú và một phần thôn Phú Ân xã Hòa An. Trụ sở làm việc tại: Huyện ủy, UBND huyện Phú Hoà.

18. Xã Phú Hòa 2 trên cơ sở nhập xã Hòa Quang Nam, xã Hòa Quang Bắc và một phần xã Hòa Trị - phía Tây đường cao tốc. Trụ sở làm việc tại UBND xã Hòa Thắng.

19. Thành lập xã Tây Hòa 1 trên cơ sở nhập thị trấn Phú Thứ, xã Hòa Bình 1, xã Hòa Phong, xã Hòa Tân Tây. Trụ sở làm việc tại: UBND thị trấn Phú Thứ.

20. Thành lập xã Tây Hòa 2 trên cơ sở nhập xã Hòa Thịnh, xã Hòa Đồng. Trụ sở làm việc tại UBND xã Hòa Đồng.

21. Thành lập xã Hòa Mỹ trên cơ sở nhập xã Hòa Mỹ Đông, xã Hòa Mỹ Tây. Trụ sở làm việc tại UBND xã Hòa Mỹ Đông.

22. Thành lập xã Sơn Thành trên cơ sở nhập xã Sơn Thành Đông, xã Sơn Thành Tây và xã Hòa Phú. Trụ sở làm việc tại UBND xã Sơn Thành Đông.

23. Thành lập xã Sơn Hòa trên cơ sở nhập thị trấn Củng Sơn, xã Suối Bạc, xã Sơn Hà, xã Sơn Nguyên và xã Sơn Phước. Trụ sở làm việc: Huyện ủy, UBND huyện Sơn Hòa.

24. Thành lập xã Vân Hòa trên cơ sở nhập xã Sơn Long, xã Sơn Xuân, xã Sơn Định. Trụ sở làm việc tại UBND xã Sơn Long.

25. Thành lập xã Tây Sơn trên cơ sở nhập xã Sơn Hội, xã Cà Lúi, xã Phước Tân. Trụ sở làm việc tại UBND xã Sơn Hội.

26. Thành lập xã Suối Trai trên cơ sở nhập xã Suối Trai, xã Ea Chà Rang, xã Krông Pa. Trụ sở làm việc tại UBND xã Ea Chà Rang.

27. Thành lập xã Ea Ly trên cơ sở nhập xã Ea Ly, xã Ea Lâm và tiếp nhận thôn Tân An thuộc xã Ea Bar (hiện nay). Trụ sở làm việc tại UBND xã Ea Ly.

28. Thành lập xã Ea Bá trên cơ sở nhập xã Ea Bá, xã Ea Bar (chuyển thôn Tân An thuộc xã Ea Bar về xã Ea Ly mới). Trụ sở làm việc tại UBND xã Ea Bar.

29. Thành lập xã Đức Bình trên cơ sở nhập xã Đức Bình Đông, xã Đức Bình Tây, xã Sơn Giang và tiếp nhận thêm Buôn Dôn Chách xã Ea Bia chuyển sang. Trụ sở làm việc tại UBND xã Đức Bình Đông.

30. Thành lập xã Sông Hinh trên cơ sở nhập thị trấn Hai Riêng, xã Ea Trol, xã Sông Hinh và xã Ea Bia (trừ Buôn Dôn Chách đã chuyển sang xã Đức Bình mới). Trụ sở làm việc tại: Huyện ủy, UBND huyện Sông Hinh.

31.Thành lập xã Xuân Lãnh trên cơ sở nhập xã Xuân Lãnh và xã Đa Lộc. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Lãnh.

32. Thành lập xã Phú Mỡ trên cơ sở nhập xã Phú Mỡ và xã Xuân Quang 1. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Quang 1.

33. Thành lập xã Xuân Phước trên cơ sở nhập xã Xuân Quang 3 và xã Xuân Phước. Trụ sở làm việc tại UBND xã Xuân Phước.

34. Thành lập xã Đồng Xuân trên cơ sở nhập xã Xuân Sơn Nam, xã Xuân Sơn Bắc, xã Xuân Long, xã Xuân Quang 2 và thị trấn La Hai. Trụ sở làm việc tại: Huyện ủy, UBND huyện Đồng Xuân.

MINH MINH

15/04/2025

Ban Chỉ đạo Trung ương nêu rõ nội dung, nhiệm vụ thực hiện sáp nhập tỉnh, xã và xây dựng hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp cùng mốc thời gian dự kiến hoàn thành.

Chi đoàn Sở Tư pháp ra quân ngày chủ nhật xanh ngày 23/3/2025
23/03/2025

Chi đoàn Sở Tư pháp ra quân ngày chủ nhật xanh ngày 23/3/2025

19/03/2025

"Chúng ta nguyện quyết tâm đoàn kết, đồng lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức trẻ, hòa khát vọng thanh xuân của mình với khát vọng chung của toàn dân tộc, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh, góp phần chuẩn bị thế và lực để đất nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới...", đồng chí Bùi Quang Huy, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn chia sẻ.

19/02/2025

Kiên quyết bác bỏ luận điệu xuyên tạc về kỷ nguyên mới của dân tộc

Thời gian qua, trong nhiều bài phát biểu và bài viết quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ việc xác lập tư duy, lý luận về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lập tức lớn tiếng lu loa, ra sức xuyên tạc, chống đối. Thâm hiểm hơn, núp dưới các chiêu bài đóng góp ý kiến, hội luận, hội thảo, giả danh khoa học… nhiều đối tượng đã đưa ra những luận điệu sai trái, bịa đặt về kỷ nguyên mới nhằm xuyên tạc, đả phá những định hướng chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thực hiện âm mưu chống phá, thế lực thù địch ra sức tuyên truyền cho rằng: Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là không rõ ràng, không thể xác định rõ được nội hàm, do đó tất yếu không thể hiện thực hóa được; việc xác định đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với những bước phát triển đột phá là tư tưởng chủ quan duy ý chí, ảo tưởng vì không cơ sở để thực hiện trên thực tế… Đồng thời các đối tượng ra sức xuyên tạc những định hướng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư và Đảng ta xoay quanh việc xác định và chuẩn bị các điều kiện, tiền đề để đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Mục đích của chúng nhằm gây hoang mang, nghi ngờ để từ đó hướng lái, tác động tạo ra nhận thức sai trái, lệch lạc làm suy giảm niềm tin, ý chí của cán bộ đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đây cho thấy việc nhận diện nhanh chóng, chính xác và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước là vô cùng quan trọng và cấp bách.

Trước hết cần phải khẳng định, “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” hoàn toàn không phải là một khái niệm mù mờ, không thể xác định được như các thế lực thù địch rêu rao, tuyên truyền, mà có nội hàm cụ thể, rõ ràng. Bản thân khái niệm kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử, phân kỳ lịch sử theo những biến cố lớn hoặc những sự kiện, dấu mốc mang tính bước ngoặt. Mặc dù có thể được phân chia theo những tiêu chí khác nhau nhưng dù theo tiêu chí nào thì kỷ nguyên sau bao giờ cũng đánh dấu một thời kỳ phát triển mới với những bước nhảy vọt về chất so với các giai đoạn trước đó.

Với cách tiếp cận như vậy, kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam được Tổng Bí thư Tô Lâm xác định đó là: “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu”.

Không chỉ được xác định, làm rõ những nội dung cơ bản về mặt lý luận, kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam còn hội đủ mọi điều kiện để được hiện thực hóa trên thực tế. Trải qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu với trình độ phát triển thấp, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước đang phát triển có thu nhập trung bình với quy mô nền kinh tế vào năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986, thuộc top 40 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Năm 2024, quy mô nền kinh tế đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới.

Từ một nước từng chịu bao vây, cấm vận, Việt Nam đã tích cực, chủ động hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực một cách sâu rộng, toàn diện. Không những thế, Việt Nam đang phát huy mạnh mẽ vai trò tích cực của mình tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, chủ động, tích cực đóng góp sáng kiến và tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế để chung tay xây dựng, giữ vững môi trường quốc tế hòa bình, ổn định theo đúng phương châm: Là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế được khẳng định tại Đại hội XIII.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, thuận lợi, khó khăn, thời cơ, thách thức đan xen, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giữ vững được độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết dân tộc, bảo đảm cao nhất lợi ích chính đáng, hợp pháp của quốc gia, dân tộc; tiến bộ, công bằng xã hội được thực hiện gắn liền với tăng trưởng kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận… Với những thành tựu vĩ đại đạt được trên tất cả lĩnh vực, chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Từ nay đến năm 2030 được Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập một trật tự thế giới mới, đồng thời cũng là giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để chúng ta đạt được mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045. Những khó khăn, thách thức đến từ diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực là không thể phủ nhận, nhưng thời cơ, thuận lợi mang đến cũng không hề nhỏ. Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đã đem đến vận hội lớn cho các quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển như Việt Nam, nếu nắm bắt tốt có thể đi tắt đón đầu để tạo ra những bước phát triển vượt bậc, những bước nhảy vọt về chất trên mọi lĩnh vực. Có thể thấy, với những thời cơ mà bối cảnh thời đại mang lại cùng những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được qua gần 40 năm đổi mới đất nước thì hiện tại chính là thời điểm hội tụ tổng hòa các lợi thế, sức mạnh, cơ hội để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tiếp sau kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới.

Thực tiễn đã chứng minh quan điểm về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hoàn toàn không phải là một nhận định mang tính chủ quan, nóng vội. Trái lại, đó là kết quả của sự nhìn nhận, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện, thấu đáo trên cơ sở những thành tựu vĩ đại mà Việt Nam đạt được sau gần 40 năm đổi mới cũng như dự đoán, dự báo một cách khoa học, sáng suốt. Mặc dù chỉ rõ những điều kiện hiện thực cùng cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc song với tinh thần khách quan nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng khẳng định cùng với thuận lợi, thời cơ thì chúng ta vẫn đang phải đối mặt không ít các khó khăn, thách thức. Tiêu biểu có thể kể đến: sự phát triển đất nước theo chiều rộng đạt đến giới hạn cần nhanh chóng chuyển sang phát triển theo chiều sâu; còn nhiều điểm nghẽn, nút thắt cần được tháo gỡ nhanh chóng bằng những biện pháp quyết liệt nhất là ba điểm nghẽn về “thể chế, hạ tầng, nhân lực” để khai thông và phát huy tối đa sức mạnh của các nguồn lực trong và ngoài nước cho quá trình phát triển; bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ (nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch) được chỉ ra từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) vẫn còn tồn tại, thậm chí có mặt còn diễn biến phức tạp hơn…

Từ đây, đồng chí Tổng Bí thư cũng xác định để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới cần quyết tâm thực hiện cho được các định hướng chiến lược như: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm Đảng là người cầm lái vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên bứt phá, tăng tốc trong kỷ nguyên mới; tăng cường tính Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhằm tập trung tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong ba điểm nghẽn là thể chế; tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm đồng bộ, kết nối, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện chuyển đổi số hướng đến xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại - “phương thức sản xuất số”, đồng thời tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi do Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát triển vượt bậc; đẩy mạnh phòng chống lãng phí tương đương với phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; thực hiện đồng bộ các giải pháp định hướng chiến lược phát triển kinh tế, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, trong đó cần đặc biệt chú trọng thực hiện các đột phá mạnh mẽ, quyết liệt về thể chế phát triển; tháo gỡ điểm nghẽn, rào cản, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, huy động, khơi thông mọi nguồn lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, phát triển khoa học và công nghệ đồng bộ, thông suốt… Tất cả vì mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Cùng với đó, nhiệm vụ quan trọng cũng cần phải được thực hiện nhanh chóng, quyết liệt là kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đồng thời đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng, đầy đủ về nội hàm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như cơ sở hiện thực của kỷ nguyên mới. Từ đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra sự nhất quán về nhận thức, tư tưởng; tập trung, thống nhất trong hành động nhằm phát huy sức mạnh tổng thể của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.

Address

68 Lê Duẩn, Phường 7
Tuy Hòa

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi đoàn Sở Tư pháp Phú Yên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share