TU THEO KINH PHÁP HOA

TU THEO KINH PHÁP HOA NAM MÔ PHÁP HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT ! Ngay trong hiện tiền, nếu hiểu rõ được nghĩa lý của Trung đạo và khởi công tu luyện thì cũng đã là Phật rồi.

Khi đã nhận rõ chân như nằm ngay trong sự vật, Phàm, Thánh không hai, Uế độ tức Tịnh độ, thì Hành giả không cần phải cầu sanh ở một cảnh giới thanh tịnh nào khác mới tu hành được, cũng không cần phải tu hành lâu đời lâu kiếp mới thành Phật được.

HT. THƯỢNG TRÍ HẠ QUẢNG: 🌿🌿🌿"Trong quá trình hành đạo, bước đầu, tôi thọ trì 28 phẩm, sau đó, tôi hành trì pháp sám hối ...
10/02/2026

HT. THƯỢNG TRÍ HẠ QUẢNG:
🌿🌿🌿
"Trong quá trình hành đạo, bước đầu, tôi thọ trì 28 phẩm, sau đó, tôi hành trì pháp sám hối Hồng danh Pháp Hoa và đến Bổn môn Pháp Hoa. Trên đường tu học, có thể nghiệm pháp thì tri kiến thay đổi theo thời gian, nghĩa là tôi đã kết hợp Phật pháp và nhận thức con người."

(Trích từ Lược giải Bổn môn Pháp Hoa Kinh)

SỰ TÍCH TRÌ TỤNG KINH PHÁP-HOA ÐƯỢC LINH NGHIỆM🌾🌾🌾Thích-Huệ-TấnNiên hiệu Vĩnh-Minh xứ Dương-Ðô chùa Cao-Tòa, ông Thích-H...
10/02/2026

SỰ TÍCH TRÌ TỤNG KINH PHÁP-HOA ÐƯỢC LINH NGHIỆM
🌾🌾🌾

Thích-Huệ-Tấn

Niên hiệu Vĩnh-Minh xứ Dương-Ðô chùa Cao-Tòa, ông Thích-Huệ-Tấn, lúc niên thiếu rất mạnh-mẽ, thích giao-du, có chí hào-hiệp, đến tuổi bốn mươi bỗng ngộ lý vô thường, bèn đi xuất-gia học đạo. Chỉ dùng tương rau, mặc bô vải, thệ nguyện trì tụng kinh Pháp-Hoa mà thôi.

Do ông dụng tâm quá lao khổ, nên khi cầm đến quyển kinh liền phát bịnh. Ông mới phát nguyện tạo ra (ấn tống) trăm bộ kinh để sám hối nghiệp-chướng đời trước. Ông vừa quyên tiền được một nghìn sáu trăm đồng, bỗng có bọn giặc cướp đến tra hỏi tài vật. Ông bèn chỉ tiền mà nói cho nó biết đó là tiền in kinh. Bọn giặc hổ thẹn bỏ đi.

Về sau, ông in thành trăm bộ kinh rồi bịnh cũ cũng lành mạnh. Ông tụng kinh đã nhiều, tâm niệm hoàn-mãn hồi-hướng công-đức tụng kinh kia cầu sanh về nước Cực-lạc.

Một ngày nọ bỗng nghe trên hư-không có tiếng bảo rằng: 'Pháp-nguyện đã đủ, tất đặng vãng-sanh'. Ông không bịnh hoạn chi mà chết, hưởng thọ được hơn tám mươi tuổi.

(Rút trong bộ Tường-Di-Ký)

2.- Vương-Yêm

Ðời Ðường, quan Huỳnh-môn thị-lang tên Vương-Yêm, bình-sanh căn-tánh tối dốt chậm lụt. Chỉ có một bộ kinh Pháp-Hoa mà ông học lâu ngày mới tụng thông được. Sau ông phải bịnh từ trần, về mách mộng cho người em làm quan Thái-Thú ở đất Tân-An rằng: 'Ta nhờ tụng kinh được sanh về Tây-Phương, song vì tôi dốt nên còn ở trong thai bào hoa sen. Nay về nói cho các người biết, từ nay phải chuyên siêng trì tụng kinh điển chớ nên biếng nhác trể nãi'. Nói rồi liền từ biệt.

(Rút trong bộ Pháp-Hoa Trì-Nghiệm)

若人欲了知 Nhược nhơn dục liễu tri三世一切佛 Tam thế nhất thiết Phật應觀法界性 Ưng quán pháp giới tánh一切唯心造。Nhất thiết ...
21/11/2025

若人欲了知 Nhược nhơn dục liễu tri
三世一切佛 Tam thế nhất thiết Phật
應觀法界性 Ưng quán pháp giới tánh
一切唯心造。Nhất thiết duy tâm tạo.

Nếu ai muốn biết tất cả chư Phật
Quá khứ hiện tại cùng với vị lai,
Thì hãy xét rõ bản thể vạn hữu:
Tất cả chỉ do Tâm tạo mà thành.

(Bản dịch của Hoà Thượng thượng Trí hạ Quang)

Thiên đường hay địa ngục, đau khổ hay an vui, đều do tâm ta quyết định. Tất cả đều do tâm mà thành. Tâm mà tịnh thì hoàn cảnh tịnh, quốc độ tịnh. Chính cái tịnh đó giúp chúng ta sống bình yên, dù thân còn ở Ta Bà, nhưng tâm đã rời khỏi thế giới Ta Bà khổ đau, dần bước sang thế giới tịnh độ an vui của chư Phật.

(Khuyết danh)

BÀN VỀ THA LỰCĐức Phật dạy: “Hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác”1. Ngài cũng nhấn mạnh rằng con...
03/05/2025

BÀN VỀ THA LỰC

Đức Phật dạy: “Hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác”1. Ngài cũng nhấn mạnh rằng con người là chủ nhân của nghiệp, là thai tạng của nghiệp. Nếu một người tạo những nghiệp xấu ác sẽ sinh về cảnh giới khổ não, ngược lại, nếu hành nghiệp lành sẽ sinh vào cõi an vui.

Như vậy, cầu nguyện chư Phật, chư Bồ-tát gia hộ phải chăng chỉ là liều thuốc an thần, để xoa dịu sự lo âu sợ hãi của chúng sinh! Tha lực trong Phật giáo là một khái niệm dễ bị hiểu lầm. Bởi vì nếu hiểu theo thông thường thì sẽ trái ngược với giáo lý nhân quả, nghiệp báo.......
Nhiều người hiểu lầm rằng tha lực trong đạo Phật là dựa dẫm, trái ngược với việc tự mình cố gắng. Nhưng không phải vậy! Tha lực trong Phật giáo Đại thừa không phải là liều thuốc an thần hay ảo tưởng xoa dịu khổ đau. Trái lại, nó là sức mạnh hỗ trợ, khơi dậy tiềm năng tự lực bên trong mỗi người, giúp chúng ta thăng tiến trên con đường tâm linh.

Nguồn:
https://giacngo.vn/post-75539.html

Ý NGHĨA TU GIA HẠNH PHỔ HIỀNGiác Ngộ - Theo sự chỉ dạy của Hòa thượng Tôn sư thượng Trí hạ Quảng, vào cuối mỗi năm, các ...
14/12/2024

Ý NGHĨA TU GIA HẠNH PHỔ HIỀN

Giác Ngộ - Theo sự chỉ dạy của Hòa thượng Tôn sư thượng Trí hạ Quảng, vào cuối mỗi năm, các Phật tử thuộc đạo tràng Pháp Hoa thành phố Hồ Chí Minh cũng như đạo tràng Pháp Hoa ở các nơi đều phải tu gia hạnh Phổ Hiền. Tu gia hạnh có nghĩa là các Phật tử cần tu tăng tốc lên, tinh tấn hơn ngày tu bình thường trong năm
Hòa thượng Tôn sư đã chọn 21 ngày tu gia hạnh Phổ Hiền, vì Hòa thượng căn cứ vào phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát thứ 28, Đức Phật Thích Ca và Bồ tát Phổ Hiền đã dạy chúng ta tu tích cực trong suốt ba tuần, nghĩ về hạnh của Đức Phổ Hiền thì Ngài xuất hiện.

Theo Hòa thượng Tôn sư, các Phật tử nên chọn tượng Phổ Hiền đẹp để trước mặt để quán tưởng, lần lần, chúng ta sẽ cảm được, thì tượng Phổ Hiền trước mặt chúng ta sáng ra và Phổ Hiền trong tâm chúng ta cũng sáng. Và từ thấy Phổ Hiền xuất hiện trước mặt và trong tâm chúng ta, thì tâm chúng ta liền biến thành Phổ Hiền, mới nương được lực Phổ Hiền. Và nương được lực Phổ Hiền rồi, tâm trí chúng ta mới sáng ra, nhận biết được những điều khó biết nên không phạm sai lầm, đồng thời tâm chúng ta cũng trở nên thanh tịnh, thì mọi việc xảy đến với chúng ta bỗng trở nên nhẹ nhàng, không phiền muộn.

Đạo tràng Pháp Hoa khởi tu gia hạnh Phổ Hiền từ ngày Đức Phật Di Đà thành đạo là ngày 17 tháng 11 âm lịch và kết thúc ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo là ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch. Vì Đức Phật Thích Ca bắt đầu vào thiền định cũng đúng ngày vía Đức Phật Di Đà thành đạo. Và Ngài an trụ trong thiền định suốt ba tuần, đến ngày mùng 8 tháng 12, Đức Phật Thích Ca đắc đạo.

I. TU GIA HẠNH TUẦN THỨ NHẤT: LẠY SÁM HỐI HỒNG DANH PHÁP HOA VÀ TỤNG PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN KỆ

Lạy sám hối và tụng Phổ Hiền hạnh nguyện kệ, nhưng chủ yếu phải thực tập pháp quán Phổ Hiền, không phải tụng suông. Tụng để quán tưởng bằng tâm, nghe bằng tâm. Đương nhiên bước đầu tu hành phải sử dụng ngôn ngữ là tụng kinh và lạy Phật, nhưng chủ yếu vận dụng tâm thì mới nương được lực Phổ Hiền. Thấy thế giới Phật cũng vậy, lúc đầu, nghe văn kinh diễn tả Phật và hành trạng của Bồ tát. Sau đó, nương theo văn kinh để chúng ta hình dung ra Phật là bước thứ hai. Người khéo vận dụng tâm mới đạt được điều này. Vì vậy, khởi tu gia hạnh của chúng ta phải đặt tâm ở thế giới thanh tịnh bằng cách mượn lực Phổ Hiền để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh; vì không có Bồ tát Phổ Hiền dẫn dắt, chúng ta không vào được thế giới này. Nhưng làm sao mượn được lực Phổ Hiền?

Chúng ta phải tập tu đồng hạnh đồng nguyện với Phổ Hiền Bồ tát, nghĩa là đi chung một đường với Ngài thì mới gặp được Ngài. Phổ Hiền cho biết Ngài đi theo lộ trình gọi là mười đại hạnh. Vì vậy, chúng ta khởi tu mười hạnh này để đi lần vào thiền định mà gặp Phổ Hiền Bồ tát. Tìm hiểu mười đại hạnh Phổ Hiền để tu là tu gia hạnh Phổ Hiền. Mười hạnh Phổ Hiền là mười đại nguyện mà Bồ tát Phổ Hiền đã thành tựu viên mãn, chúng ta thường đọc tụng trong thời kinh mỗi ngày: Nhứt giả lễ kính chư Phật, nhị giả xưng tán Như Lai, tam giả quảng tu cúng dường, tứ giả sám hối nghiệp chướng, ngũ giả tùy hỷ công đức, lục giả thỉnh chuyển pháp luân, thất giả thỉnh Phật trụ thế, bát giả thường tùy Phật học, cửu giả hằng thuận chúng sanh, thập giả phổ giai hồi hướng. Vì bài viết có hạn, chúng tôi chỉ triển khai một ít ý nghĩa đại hạnh đầu tiên của Phổ Hiền là "Nhứt giả lễ kính chư Phật".

Như Hòa thượng Tôn sư đã chỉ dạy, phải tìm tượng Phật mình thích nhất là bước đầu để tạo độ cảm với Phật. Chúng ta thờ Phật, lạy Phật là gia hạnh đầu tiên. Cảm được Phật thì nghĩ là có Phật thực trước mặt để lạy.

Người thờ Phật và kính trọng Phật thì lau dọn bàn thờ Phật sạch sẽ và trang nghiêm bông trái đẹp, khiến người nhìn thấy phải phát tâm tu. Từ tâm kính trọng Phật và coi như có Phật ngự ở đây, nên chúng ta quý trọng cái gì nhất, chúng ta đem dâng cúng Phật và trang trí bàn Phật đẹp. Thờ Phật để tạo độ cảm cho mình tiến tu; thờ Phật lấy lệ là không được. Lọ hoa phải thay nước và cắt gốc mỗi ngày, bỏ lá úa, để chúng ta nhìn cảm được, mới tạo được sự gắn liền giữa Phật với ta. Tuy bàn thờ Phật là cảnh giả, nhưng nương theo cái giả này để dẫn chúng ta vào thế giới thanh tịnh; còn chấp vào cảnh giả này thì sẽ ở trong sanh tử muôn đời.

Bước đầu, đối trước tượng Phật, chúng ta chỉ có một Phật, nhưng quan trọng là tụng kinh nào thì hành trạng của Phật và Bồ tát trong kinh đó hiện ra đầy đủ. Và tất cả Phật và Bồ tát chúng ta thấy được trong kinh đều đưa vào tâm mình. Hòa thượng Tôn sư dạy rằng ngài nhớ kinh nhiều là do tu pháp này. Còn tu không kết quả vì chỉ lưu giữ việc vui buồn vinh nhục của thế gian. Những vui buồn này hiện lên trong biển Thức trước, do chúng ta huân tập vào và việc thực tế sẽ theo đó hiện lên sau. Cũng vậy, chúng ta đọc kinh, thì Phật và Bồ tát lưu trong lòng mình, nên biển Thức của mình hiện ra Bồ tát và Phật trước. Vì vậy, tuy có một Phật, nhưng nhờ đọc kinh nhiều, nên Phật hiện ra nhiều. Yếu nghĩa này được Phổ Hiền diễn tả rằng "Trong một trần có trần số cõi. Trong mỗi cõi có nan tư Phật. Mỗi Phật đều ở giữa chúng hội. Tôi thấy hằng giảng hạnh Bồ đề".

Nhờ chúng ta tụng kinh nhiều, công hạnh và cảnh giới của Phật, của Bồ tát được đem vào lòng mình; do đó, hạnh đức và cảnh giới của Phật, của Bồ tát dễ dàng hiện lên trong tâm khi chúng ta khởi nghĩ đến. Tâm không có hình tướng và chúng ta không thấy, nhưng nó chứa đựng được dữ kiện nhiều vô lượng vô biên. Chúng ta có một tâm thôi, chúng ta cũng không biết được tâm, nhưng tâm có khả năng biết tất cả. Vì vậy, Bồ tát Phổ Hiền đã khẳng định rằng trong một niệm tâm có đủ ba đời mười phương chư Phật.

II. TU GIA HẠNH TUẦN THỨ HAI: LỄ HỒNG DANH PHÁP HOA VÀ TỤNG 7 PHẨM BỔN MÔN PHÁP HOA.

Trước nhất, Bổn môn Pháp Hoa có nghĩa là cốt lõi, hay yếu chỉ của kinh Pháp Hoa. Cốt lõi của kinh này Phật muốn chỉ chúng ta thấy Phật không Niết bàn, Ngài vẫn hiện hữu. Phật và chúng ta vẫn ở chung trong một thế giới, nhưng chúng ta cách Phật, vì phiền não, nghiệp chướng và trần lao.

Theo Hòa thượng Tôn sư, 7 phẩm Bổn môn Pháp Hoa gồm có phẩm 1, phẩm 10, phẩm 15, phẩm 16, phẩm 17, phẩm 25 và phẩm 28. 7 phẩm này có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là cốt lõi của bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm.

Phẩm Tựa thứ nhất thể hiện tinh thần vô lượng nghĩa, vì tóm lược tất cả kinh của Phật nói đều nằm trong phẩm 1. Tất cả kinh mà Phật giảng dạy nhằm đào tạo con người an lạc dù sống trong hoàn cảnh nào. Tu Pháp Hoa được an lạc trong khổ lụy trần gian là chính, còn ở chỗ an, chúng ta được an lạc là bình thường. Ở chỗ không an lạc, nhưng tâm chúng ta an lạc và thanh tịnh ví như hoa sen ở trong bùn. Được như vậy, chúng ta mới tham dự được hội Pháp Hoa và diện kiến được bổn Phật. Ý này tiêu biểu bằng hoa Mạn đà la và hoa Mạn thù sa rơi xuống khi Phật nói kinh Pháp Hoa. Và nhờ có hai loại hoa này, hay nhờ có tâm an lạc và thanh tịnh, chúng ta thấy được 18.000 thế giới, mới gặp được Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và Bồ tát Di Lặc. Hai vị Bồ tát này tiêu biểu cho cốt lõi của đạo Phật. Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ giải được tất cả mọi sự việc và Di Lặc tiêu biểu cho phước đức. Hai vị Bồ tát này kết hợp với nhau mới có Pháp Hoa. Như vậy, hướng về tương lai thấy Ngài Di Lặc ra đời và tìm về quá khứ thì thấy có Bồ tát Văn Thù; đó là sự kết hợp quá khứ và vị lai trong một niệm tâm tu của chúng ta.

Từ phẩm Tựa thứ nhất đi thẳng đến phẩm Pháp sư thứ 10, không nhắc đến 8 phẩm giữa, vì từ phẩm 2 đến phẩm 9 kết tinh thành phẩm 10. Cốt lõi của phẩm 10 thể hiện 3 ý cần ghi nhớ để tu. Ý một là Đức Phật Thích Ca đã thành Phật, vì thương nhân gian mà Ngài sanh lại cõi đời này, Ngài mới đủ tư cách là hành giả Pháp Hoa. Chúng ta chưa thành Vô thượng Đẳng giác mà tự xưng mình là hành giả Pháp Hoa là đại vọng ngữ. Chúng ta may mắn gặp giáo pháp của Phật để lại, nương theo được phần nào thì an lạc và giải thoát phần đó. Vì giáo lý Phật có công năng làm tiêu phiền não và sanh ra công đức.

Ý thứ 2 trong phẩm 10 là ở trên cao nguyên đào giếng. Đức Phật khuyên chúng ta nhẫn nhục tu hành và siêng năng làm việc đạo, ví như ra công đào giếng không ngừng nghỉ, nhất định có ngày sẽ tìm được nước.

Ý thứ 3 trong phẩm 10 là muốn tu Pháp Hoa phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai. Tòa Như Lai là trí Bát nhã, áo Như Lai là hạnh nhu hòa, nhà Như Lai là tâm từ bi.

III. TUẦN LỄ THỨ BA CỦA MÙA TU GIA HẠNH PHỔ HIỀN: TỤNG CÁC BÀI KỆ VÀ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC.

Đạo tràng Pháp Hoa tụng các bài kệ tán thán hạnh đức của chư vị Bồ tát và chư vị Thánh La hán mà các chúng trong đạo tràng đã thờ các Ngài là vị Tổ của mình. Các bài kệ này do Hòa thượng Tôn sư cảm tác. Sau đó, tụng kinh Bát Đại Nhân Giác nói về 8 điều giác ngộ của Đức Phật để nhắc nhở các Phật tử ghi nhớ và thực hành 8 điều mà Đức Phật Thích Ca đã thành tựu trên lộ trình tiến đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tóm lại, trong mùa tu gia hạnh Phổ Hiền, mỗi người trong đạo tràng Pháp Hoa cần nỗ lực tinh tấn tu hành, trên là nương nhờ thần lực của Đức Phật và chư Bồ tát, cũng như nương theo sự giáo dưỡng của Hòa thượng Tôn sư, để khai tâm mở trí, ít nhiều được thăng hoa trên bước đường giác ngộ, giải thoát. Làm được như vậy, con đường lìa xa phiền não khổ đau của chúng ta được rút ngắn lại và con đường chúng ta tiến đến quả vị hiền thánh được gần thêm. Và đó chính là bổn hoài của Đức Phật, của chư vị Bồ tát và của Hòa thượng Tôn sư. Các Ngài hiện thân trên cuộc đời này chỉ nhằm mục tiêu duy nhất như vậy và mỗi năm tu gia hạnh Phổ Hiền, chúng ta càng thực hiện được tinh ba của giáo pháp mà các Ngài đã trao truyền. Hành trang tốt đẹp đó sẽ nuôi lớn căn lành của chúng ta để đời đời kiếp kiếp được làm quyến thuộc Bồ đề của Phật, của Bồ tát và của Hòa thượng Tôn sư.

(Diệu Tịnh/Báo giác ngộ)
https://giacngo.vn/y-nghia-tu-gia-hanh-pho-hien-post12905.html

03/11/2024
HẠNH BỒ-TÁT TRONG KINH PHÁP HOA (HT.Thích Trí Quảng)🌈🌈🌈GNO - Phật nói kinh Pháp hoa chỉ dạy cho Bồ-tát có nghĩa là dạy c...
08/10/2024

HẠNH BỒ-TÁT TRONG KINH PHÁP HOA
(HT.Thích Trí Quảng)
🌈🌈🌈

GNO - Phật nói kinh Pháp hoa chỉ dạy cho Bồ-tát có nghĩa là dạy cho người ta cầu thành Vô thượng giác, cầu thành Phật thì pháp này đi suốt gọi là Nhứt thừa, tức là từ con người tu lên chư thiên, lên Nhị thừa, lên Bồ-tát, lên Phật.

Nếu xa hơn một chút, theo kinh Hoa nghiêm, Đức Phật nói không chỉ giới hạn trong loài người, mà từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, tới người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật là con đường xuyên suốt từ thấp nhất lên cao nhất là Phật.

Phải hiểu nghĩa đó, không chấp rằng ta tu đạo Bồ-tát mà xem thường những người tu pháp môn khác là sai lầm lớn. Nhiều người còn hiểu sai, nghĩ mình là Phật tử cư sĩ tu Pháp hoa, tu đạo Bồ-tát, rồi xem thường quý thầy là tội.

Bồ-tát đi suốt từ địa ngục lên, không phải chỉ giới hạn cho hạng cao, vì thế Phật nói khi Ngài phát Bồ-đề tâm, hành Bồ-tát đạo từ địa ngục A-tỳ, tức cùng cực khổ đau. Vì có khổ, mình mới thương người khổ, có nghèo đói, mình mới thương người nghèo đói. Mình sống trong giai cấp cao khó cảm thông với người nghèo khổ.

Đức Phật nói ở trong địa ngục, mình mới phát tâm Bồ-đề, nhưng ra khỏi địa ngục phải nhớ cái khổ của địa ngục cũng phát tâm Bồ-đề, đó là tu. Phật tử nghiệm xem người khổ nhất lại thích tu hơn. Đức Phật nói nghèo khổ thì tu dễ, nhưng nghèo khổ hành bố thí khó, vì mình cũng đói, thì khó chia sẻ cho người khác. Còn giàu bố thí dễ nhưng đi tu khó. Người giàu hưởng đầy đủ đời sống tiện nghi, nhưng bỏ cuộc sống sung túc mà tu phải sống khổ cực thì khó, vì thế, nhiều người chỉ tu được một lúc rồi bỏ tu. Bỏ giàu sang phú quý đi tu được thì đó là Bồ-tát. Người nghèo khổ mà biết thương người, bố thí được cũng là Bồ-tát. Giàu hay nghèo đều thực hành Bồ-tát hạnh được.

Hoặc khi ở trong địa ngục, mình cảm thông cái khổ của người khác, mình nghĩ khi ra được cảnh khổ sẽ tìm cách giúp đỡ họ ra khỏi cảnh khổ thì đó là Bồ-tát. Tức có tâm vị tha, lòng thương người là Bồ-tát. Cho nên Bồ-tát không giới hạn trong tầng lớp xã hội nào, từ địa ngục mà tu hạnh Bồ-tát lần lên.

Hoặc súc sanh là các loài thú vật, tôi thấy có những con thú rất tốt, rất hiền lành, rất trung thành với chủ. Khi học ở Nhật, tôi tới nhà ga Shubya, thấy có tượng con chó bằng đồng, ở dưới trụ tượng ghi hai chữ “Tước Công”. Tôi thấy lạ, tại sao con chó lại được vua phong là Công tước. Ngày xưa, ở trong triều đình có năm tước là Công, Hầu, Bá, Tử và Nam. Đọc lịch sử, tôi thấy con chó này do giáo sư Ueno nuôi. Sáng ông từ nhà ra nhà ga lên tàu hỏa đi dạy, con chó này cũng đi theo ông từ nhà đến nhà ga, rồi nó nằm ở đó chờ ông. Buổi chiều, ông từ trường về nhà ga, nó đi theo ông về nhà. Khi ông chết, nó cũng ra nhà ga nằm ở đó chờ ông về. Nó nhịn đói chờ ông cho đến chết luôn ở đó. Người ta mới báo về triều đình và vua phong cho nó tước cao nhất là Công tước.

Vì thế, người ta mới nói trong các thú vật, con chó trung thành nhất với chủ. Thứ hai là con ngựa, khởi đầu là con ngựa Kiền Trắc của Thái tử Sĩ Đạt Ta. Khi Ngài đi tu, nó chở Ngài qua dòng sông Anoma là qua nước khác, thái tử vô rừng tu. Sa Nặc đưa ngựa Kiền Trắc này về nhà rồi nó nhịn đói ba ngày chết luôn. Người ta nói con ngựa cũng trung thành với chủ. Vì sự tích này, các ông quan thời xưa theo phò ông vua nào thì nguyện hết lòng với vua, gọi là đem thân khuyển mã báo đáp (khuyển là chó, mã là ngựa), tức tự ví họ như con chó, con ngựa trung thành. Trong loài súc sanh cũng có Bồ-tát hiện thân vô.

Vì vậy, theo kinh Pháp hoa, từ địa ngục A-tỳ cho đến Phật, trải qua mười cấp khác nhau ở trong thập giới đều là Bồ-tát. Nếu chia theo Tam thừa, chỉ lấy từ Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát, đó là Bồ-tát tính theo Tạng giáo. Trong Phật giáo chia ra bốn hạng Bồ-tát là Bồ-tát của Tạng giáo, Bồ-tát của Thông giáo, Bồ-tát của Biệt giáo và Bồ-tát của Viên giáo. Bồ-tát đầu tiên của Tạng giáo là tu theo Nguyên thủy cũng có Bồ-tát.

Cho nên, quý thầy tu hạnh Thanh văn vẫn tôn thờ các vị Bồ-tát, vì họ coi Đức Phật Thích Ca là Bồ-tát hiện thân trên cuộc đời này để làm Phật cứu độ chúng sanh. Vì vậy, Bồ-tát chỉ để tôn thờ, hàng nhân, thiên, Nhị thừa tôn thờ Bồ-tát cao hơn mình, mình không với tới được. Nghĩ vậy, quý thầy thấy Phật tử thọ Bồ-tát giới, họ khó chịu, vì Bồ-tát để họ kính thờ thì Phật tử phải tôn trọng chư Tăng, tại sao chư Tăng lại phải kính trọng Phật tử. Điều này rất đặc biệt mà người tu phải hiểu để không kẹt vô chỗ này.

Tôi nhớ lại Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là người có công trong việc chấn hưng Phật giáo. Ông là giáo thọ sư dạy các vị Hòa thượng lớn từ Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Trí Tịnh của miền Nam, Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Trí Đức ở Huế…
Ông là cư sĩ dạy quý thầy và ông hiểu đạo nên có cách xử sự rất đặc biệt. Trước khi dạy chư Tăng, ông đảnh lễ ba lễ rồi mới dạy, cho thấy đức khiêm cung của bác Tâm Minh, dù làm thầy dạy chư Tăng, nhưng vẫn luôn kính trọng chư Tăng, không tự cao ngã mạn, vì ông thấu hiểu lẽ đạo rằng mỗi người đệ tử Phật có việc làm khác nhau, nhưng tất cả đều vì đạo trên hết, đều xiển dương Chánh pháp. Chính vì đức khiêm cung của bác sĩ Tâm Minh, nên Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Trí Quang luôn coi ông là thầy và quý trọng ông.

Và mình tu Pháp hoa phải hiểu rằng chư Tăng học với cư sĩ vì họ có hiểu biết hơn, phải nhờ họ chia sẻ hiểu biết, nên họ là thầy thì người tu kính trọng sự hiểu biết của người thầy này, không phải kính trọng cái thân cư sĩ của họ.

Trên bước đường tu, người nào hiểu biết hơn mình, mình học với người đó và kính trọng họ. Người nào có việc làm hơn mình mà mình chưa làm được thì mình kính trọng họ về việc làm. Vì vậy, kính trọng Bồ-tát là kính trọng sự hiểu biết và việc làm của họ. Vì theo tinh thần Pháp hoa, Bồ-tát đóng nhiều vai trò trên cuộc đời này, nhiều khi Bồ-tát hiện thân làm vua, làm quan, làm tướng để hộ trì Chánh pháp, không nhứt thiết chỉ là người xuất gia.

Thật vậy, nếu không có ông vua quý đạo, không có ông quan hết lòng với đạo, không có ông tướng biết lo cho đạo… thì Phật giáo sẽ không tồn tại. Phật giáo hưng thạnh thời Đinh, Lê, Lý, Trần nhờ các ông vua, ông quan đều kính trọng Phật giáo, mới cấp phép cho xây dựng chùa, chứng nhận cho chư Tăng xuất gia. Trái lại, khi ông vua, ông quan, ông tướng không chấp nhận Phật giáo, các ông không cho chư Tăng đi tu, không cấp phép cho cất chùa, thì chùa và chư Tăng không có, tất nhiên Phật giáo phải bị hoại diệt.

Chính vì vậy, các vị Bồ-tát sanh lại có thể làm Tăng, làm vua, làm quan, làm tướng, làm trưởng giả, làm trời, thậm chí làm quỷ thần, làm đủ thứ việc để họ lo cho đạo. Mình kính trọng những người này là kính trọng việc làm của họ, kính trọng hiểu biết của họ, dù họ đóng vai nào, nhưng họ là Bồ-tát.

Theo tinh thần Pháp hoa có cái nhìn khác hơn người tu Nhị thừa chỉ nghĩ chư Tăng thì quý, cư sĩ thấp kém hơn. Vì vậy, người đi tu không lạy vua, không lạy cha mẹ. Cha mẹ chết, mình về chỉ thắp hương, không được quyền lạy, vì mình mặc áo Phật, lạy cha mẹ sợ cha mẹ bị tổn phước. Điều này nên phân làm hai để hiểu cho đúng.

Theo Phật giáo Đại thừa, mỗi nửa tháng, sau khi sám hối lạy Phật, quý thầy lạy tứ ân. Trước hết là phụ mẫu ân, nhờ cha mẹ sinh ra và nuôi nấng mà mình có được thân này để đi tu, nên mình lạy công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mình, không phải lạy cư sĩ. Ngoài ra, lạy quốc dân thủy thổ ân là cộng đồng xã hội giữ gìn trật tự an ninh cho mình sống yên ổn, tu được cũng là ơn, nên lạy. Người tu Đại thừa thường đọc “Trên đền bốn ơn lớn” là ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn quốc dân thủy thổ và ơn Tam bảo. Nếu không có những người này, mình không tu được.

Từ việc ghi tạc bốn công ơn lớn này mà triển khai thành hạnh Bồ-tát. Vì thế, khi lạy, tôi nghĩ xung quanh mình có nhiều người bảo vệ, giúp đỡ, mình mới làm được các Phật sự. Tôi luôn nghĩ trên hết là nhờ Phật, nhờ các vị Bồ-tát vô hình, hộ pháp long thiên, quốc dân đồng bào, cư sĩ Phật tử… Không có những hỗ trợ này, một mình không làm được. Ý thức như vậy, lòng mình có sự gắn bó với tất cả người xung quanh, mình nghĩ họ là người ơn, nên mình kính trọng họ, thương họ thì họ mới tới với mình. Quý vị thử nghĩ xem nếu có người kính trọng mình, chắc chắn mình phải thương họ.

Vì lý này, đầu tiên muốn hành Bồ-tát đạo phải kính trọng tất cả người xung quanh. Thậm chí người ác, người xấu, người hại mình, Phật dạy cũng coi đó là ân nhân của mình, vì sống trên cuộc đời này luôn có hai mặt thuận và nghịch. Tu theo kinh Pháp hoa, nghịch hay thuận cũng là duyên và nếu không có nghịch duyên thì không phát huy được năng lực của mình.

Riêng tôi, nhờ nghịch duyên mà tôi phấn đấu nhiều. Vì tôi sinh trong thời Pháp thuộc, lớn lên trong thời chiến tranh và hoằng đạo trong thời xã hội chủ nghĩa. Cả ba thời kỳ này hoàn toàn khác nhau mà đều hoàn toàn khó khăn và đều là nghịch duyên đối với tôi. Tuy nhiên, nhờ nghịch duyên đó mà tôi nỗ lực hơn nữa và giúp tôi hiểu được cái khổ của người dân nô lệ, mất nước. Vì trong thời kỳ đất nước ta bị người Pháp cai trị là thời kỳ người dân khổ nhất, mà người dân theo Phật giáo càng khổ hơn nữa. Sống trong hoàn cảnh bứt ngặt như vậy, người không có tinh thần cao, không có đức hy sinh lớn không thể tới với đạo, không thể hiểu đạo. Thật vậy, tu hành gặp hoàn cảnh khó khăn, mình mới phát hiện được những điều mà bình thường không hiểu được.

Như bữa nay thời tiết rất nóng, nhưng mình tập trung, nhiếp tâm nghe pháp, hay tụng kinh, thiền định, mình không cảm giác nóng. Tôi cảm nhận điều này, dù trời nóng mấy đi nữa, nhập định không thấy nóng, nhưng xả định, trở lại tâm bình thường, thì vọng thức của mình có phân biệt nóng, lạnh. Còn lúc mình nhiếp tâm tu, trong tâm không có nóng. Ráng tập cho được thân nóng nhưng tâm không nóng. Bước đường tu giống nhau, nhưng người nào đạt được bốn điều là thân tâm không bị chi phối bởi đói khát, nóng lạnh thì Phật ghi nhận là Sơ quả.

Thứ nhất là thân nóng mà tâm không nóng. Tôi cảm nhận khi đốt liều hương trên đầu, nóng đến mức nước mắt, nước mũi chảy ra. Nhưng tôi thấy Hòa thượng Trí Hữu đưa ngón tay vào ngọn lửa đốt đến cháy rụng ngón tay. Tôi hỏi Hòa thượng nóng không. Ngài nói nóng thì làm sao đốt được con.

Cho nên các thầy tu có thực tập thân nóng nhưng tâm không nóng, tức trụ tâm lại, thân không nóng. Thân có đau nhức nhưng tâm không đau nhức. Còn thân chưa đau nhức mà tâm đau nhức là nghiệp. Tôi nhớ khi y tá cầm kim chích, chưa chích nhưng mình thấy đau là thân chưa đau mà tâm đau, đó là nghiệp của chúng sanh, như vậy là mình cách đạo còn xa lắm.
Các vị đắc đạo, thân chết nhưng tâm không chết là không đau, nên họ ngồi yên được mà nhập định rồi chết. Người chưa đắc đạo, hay còn dư nghiệp, cuối đời thường bệnh hoạn. Tôi còn chút phước, đến nay 86 tuổi vẫn ít bệnh. Làm sao cuối đời không bệnh, hay có bệnh nhưng không cảm giác bệnh là tu có kết quả. Tôi hay thí nghiệm pháp này. Nhiều bữa tôi bị cảm, nghĩ chắc hôm nay không giảng kinh được, nhưng lên pháp tòa, lo giảng, quên bệnh và hết bệnh luôn. Các Phật tử tập dù mình đang bệnh nhưng lo tập trung làm việc gì đó khiến mình quên bệnh và làm xong việc, mình cũng hết bệnh thiệt. Chứ hở một chút uống thuốc làm thân mình suy nhược lần, đến một lúc không có thuốc thì chết. Mình tập chữa bệnh bằng tâm là theo đường đạo.

Phật bảo làm sao thân đau nhức mà tâm không đau nhức. Thân có nóng, lạnh nhưng tâm không biết nóng, lạnh. Tôi thấy các vị tu sĩ trên núi Tuyết, trong khi mình mặc hai, ba lớp áo, đầu đội mũ bông mà còn lạnh run, còn họ ở trần đi trong tuyết một cách tự nhiên. Tôi nói ông này đắc đạo.

Khi họp Hội nghị tôn giáo thế giới ở Ý, tôi có chia sẻ với một tu sĩ của Kỳ Na giáo. Ông nói ngày chỉ ăn một bữa và chỉ ăn trái cây, không ăn thực phẩm nấu chín. Và bấy giờ, trời rất lạnh nhưng ông chỉ mặc một chiếc áo mỏng bình thường. Bước ban đầu tu là xóa nghiệp đói khát, nóng lạnh trước, cho đến ghét thương cũng không còn là vượt qua sự chi phối của tình cảm xã hội. Người ta tu đã luyện tập pháp này trước. Mình tu Đại thừa, nhưng không tập pháp này, nên nhiều khi đụng chạm với cuộc đời, coi chừng phiền não phát sinh.

Từ con người giữ năm giới, tam quy, rồi đến chư thiên giữ thập thiện giới thì khi họ xuất gia tu, thâm nhập đời sống tu hành dễ dàng. Thực tế cho thấy có người tu một mạch tới Sơ quả, có người đi nửa chừng rồi trở lại cuộc sống thế tục. Người tu dễ dàng, vì đời trước, họ đã thực hiện pháp hành của người tu, nên đời này tuy còn mang thân cư sĩ, nhưng tâm họ đã khác. Đó là người đi thuận chiều, từ con người đi lên chư thiên giữ thập thiện giới, nên thân họ không có ba nghiệp: sát, đạo, dâm. Mặc dù họ là cư sĩ có vợ chồng, nhưng không có quan hệ sanh con đẻ cháu, giống như Ma-ha Ca Diếp có gia đình, nhưng hai ông bà không ở với nhau, nên khi gặp Phật đi tu, ông này đắc đạo dễ. Vì đã tròn thập thiện rồi, từ trên trời xuống đây tu dễ. Trong loài người, người nào tròn thập thiện thì vị trí của họ là trời, họ là người cõi trời có nghĩa là người không sát sanh hại mạng, con vật nào họ cũng thương, không giết nó.

Một hôm, tôi đang lắng nghe Hòa thượng Trí Tịnh, có một con muỗi đậu trên tay Hòa thượng. Tôi xua tay đuổi nó, Hòa thượng không cho. Nếu còn tánh ác thì mình đập nó liền, tu rồi thì không giết nó, nhưng mình đuổi nó. Hòa thượng phát tâm Đại thừa, hành Bồ-tát đạo, Ngài nói nó cần một giọt máu để sống, mình thừa máu mà không cho nó thì hổ thẹn. Tu Đại thừa, ý sát sanh không có, trong lòng mình không muốn giết và mình cũng không muốn người khác giết. Cho nên người này đi tu dễ. Họ đã tròn được thập thiện.

Có người cư sĩ tại gia nói với tôi rằng họ không lập gia đình vì họ thấy phiền phức. Chưa xuất gia nhưng họ tập ly dục trước, để sau này đi tu dễ, không bị ràng buộc, vì một mình đi đâu cũng được, vô chùa nằm đâu cũng được. Còn dắt vợ con theo thì rắc rối lắm.

Vì vậy, còn là cư sĩ nhưng tập hạnh xuất gia trước, nên khi đi tu giống như cởi áo bỏ xuống, con người thực của mình hiện ra. Bề ngoài còn áo cư sĩ, đầy tóc chúng sanh, nhưng tâm bên trong sạch rồi, không sợ đói khát, nóng lạnh, không sợ người ta khen chê, sống thanh thản, tự nhiên, lúc nào cũng tự kiểm tra tâm mình thì người này tu dễ, anh này là Bồ-tát. Phật tử chưa xuất gia nhưng là Bồ-tát tại gia. Làm vua, làm quan, làm tướng và dùng chức vụ này hộ trì Chánh pháp thì cũng là Bồ-tát. Làm quan, làm tướng mà phá chùa thì hỏng rồi, không tồn tại lâu dài.

Bồ-tát hiện hữu ở địa ngục và ở trong loài súc sanh, cho đến ngạ quỷ cũng là Bồ-tát. Ngạ quỷ Bồ-tát là khi mình đói, người khác cũng đói mà mình dám chia cho họ ăn, thì đó là hạnh Bồ-tát. Còn mình có nhưng giấu để ăn một mình là tâm ngạ quỷ. Tôi có người bạn ở thời chiến tranh nên lúc nào ông cũng mua sẵn hũ gạo để phòng hờ, sợ đói. Cả tháng sau, gạo bị sâu mọt thì lấy ra ăn, rồi mua gạo khác cất giấu tiếp.

Tôi nói ở trong chùa này, anh em đông. Lúc đó, tất cả đều đói mà thầy còn hũ gạo để dành, thầy ăn được không? Quý vị nghĩ xem, nếu đói thì cùng đói, no thì cùng no. Bây giờ mình có một ổ bánh mì, người bên cạnh đói, mình chia cho họ một nửa, ông này cũng đỡ đói, mình cũng đỡ đói. Lát nữa, không có gì thì cùng chịu đói. Họ đói, mình đói thì thấy bình thường. Người ta có ăn mà mình không có ăn, mình thấy khổ.

Trên bước đường tu, tôi thực tập khi thấy người ta có ăn, mà mình không có ăn nhưng không khổ. Muốn vậy thì tập trung lại, gọi là nhập định không nghĩ tới ăn nữa, sẽ không đói. Tôi thấy rõ, một ngày hay hai ngày không ăn không thấy đói, vì cơ thể mình chưa đói thiệt, chỉ có cái tâm đói thôi. Phải nhớ rằng cái tâm đói là tâm ngạ quỷ. Tu mà còn giữ cái tâm đói không bao giờ tới với đạo được.

Thân đói thì chấp nhận. Thân đói làm mình mệt mỏi, đi không được, mình phải ăn uống mới đi được, mới làm việc được, đó là việc bình thường của thân tứ đại. Còn bây giờ mình còn đi được, còn lạy Phật được, nhưng nghĩ tới ăn, điều này là thân chưa đói mà tâm đói. Cho nên phải khắc phục cái tâm đói. Muốn đắc đạo, đắc quả, phải khắc phục tâm xấu ác là việc chính của người tu.

Tu quên đói là cái tâm không đói, đó là hàng Nhị thừa. Tu dám nhường phần ăn cho người khác là Bồ-tát. Trong thế giới Thật báo của Đức Phật chỉ có Bồ-tát và Thanh văn, phàm phu không vô được. Khi nghiên cứu về điều này, tôi phát biểu, phàm phu không vô được vì Đức Phật bố trí kỹ quá, nên họ không vô được. Việc đầu tiên, Đức Phật bảo các thầy muốn đi tu phải ăn ngày một bữa, không cho ăn sáng, không cho ăn chiều thì người ham ăn không dám đi tu, là hạn chế người không thật tu.

Thế giới của Đức Phật A Di Đà chỉ có Bồ-tát và A-la-hán. A-la-hán không ăn hay ăn ít cũng được. Người ham ăn không dám về Cực lạc. Có người nói về Cực lạc không có phụ nữ, buồn quá. Cực lạc hiểu theo phàm phu là vui thì phải có ca hát, có đủ thứ. Còn Cực lạc không có ăn, không có gì hết thì làm sao vui được. Ở Cực lạc chỉ có niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Tiếng chim kêu, tiếng gió reo cũng là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Người ham hố vật chất nhiều quá, sao về đây được.

Theo Pháp hoa, từ địa ngục A-tỳ cho đến cõi Phật đều có Bồ-tát, nhưng không phải ai cũng là Bồ-tát. Ở trong địa ngục, người đã thoát ly khổ, có tâm thương người và tìm cách giải thoát cho người khổ, đó là Bồ-tát ở trong địa ngục. Nói chính xác, đó là Bồ-tát Thích Ca phát tâm vào địa ngục để cứu người thoát khổ.

Hoặc Bồ-tát Quan Âm phát nguyện ở Ta-bà vào địa phủ. Đó là cách tu của ngài, vì ở địa phủ có điều kiện thành tựu hạnh Bồ-tát.

Vì vậy, lời phát nguyện của đạo tràng Pháp Hoa chúng ta là nương theo nguyện của Quan Âm mà làm: “Cõi Ta-bà thị hiện độ sanh. Thọ trì đọc tụng chơn kinh. Quyết lòng tế độ chúng sanh muôn đời”. Ở đây có đủ thứ việc, mình làm để tạo công đức.

Thể hiện ý này, tôi tốt nghiệp xong, trở về nước. Các thầy can tôi rằng ở Việt Nam, người ta còn chạy ra nước ngoài. Thầy lại chạy vô làm gì. Tôi nói ở Việt Nam có nhiều việc làm và nhiều người cần mình. Thực tế trải qua 50 năm tôi đã làm được một số Phật sự.

Muốn tạo công đức, chúng ta nhớ lời nguyện của Quan Âm ở Ta-bà, vào địa phủ. Vì thực sự có khổ mới phát tâm được, không khổ, giàu có thường lo hưởng thụ, dễ phạm sai lầm, khó phát tâm sống thánh thiện theo hạnh Bồ-tát.

-Hòa thượng Thích Trí Quảng/Báo Giác Ngộ-
Nguồn:

GNO - Phật nói kinh Pháp hoa chỉ dạy cho Bồ-tát có nghĩa là dạy cho người ta cầu thành Vô thượng giác, cầu thành Phật thì pháp này đi suốt gọi là Nhứt thừa, tức là từ con người tu lên chư thiên, lên Nhị thừa, lên Bồ-tát, lên Phật.

Address

Thủ Đức
70000-74000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TU THEO KINH PHÁP HOA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to TU THEO KINH PHÁP HOA:

Share