Chi Đoàn Khu Phố Nguyễn Chánh - P. Vĩnh Thông

Directions

Chi Đoàn Khu Phố Nguyễn Chánh - P. Vĩnh Thông Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chi Đoàn Khu Phố Nguyễn Chánh - P. Vĩnh Thông, Youth Organization, Đường Nguyễn Chánh, Tỉnh Kiên Giang.

30/09/2026

Từ đám mây và trí tuệ nhân tạo đến năng lực làm chủ công nghệ của Việt Nam

Việt Nam hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghệ để khai thác, làm chủ và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), đám mây và hạ tầng số bền vững, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Phát biểu tại sự kiện AWS Cloud and AI Day Hà Nội ngày 29/9, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh nhấn mạnh, Việt Nam không chỉ hướng tới mở rộng hạ tầng hay đưa thêm các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), mà quan trọng hơn là hình thành hệ sinh thái để doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, trường đại học và tổ chức nghiên cứu có thể khai thác, làm chủ và từng bước phát triển công nghệ mới.

Việt Nam hướng tới hệ sinh thái công nghệ

Tại sự kiện AWS Cloud and AI Day Hà Nội (Ngày điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo AWS tại Hà Nội) ngày 29/9, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh cho biết, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế.

Theo Thứ trưởng, nền tảng hạ tầng số của Việt Nam đang tiếp tục được mở rộng. Cả nước hiện có 42 trung tâm dữ liệu thương mại với tổng công suất thiết kế khoảng 372 MW; vùng phủ 4G đạt 99,8% và 5G khoảng 91,9% dân số.

Tuy nhiên, Thứ trưởng cho rằng, mở rộng hạ tầng vật lý hay triển khai thêm những ứng dụng AI riêng lẻ chưa phải mục tiêu cuối cùng.

“Điều mà Việt Nam hướng tới không chỉ là mở rộng hạ tầng hay đưa thêm ứng dụng AI, mà quan trọng hơn là hình thành hệ sinh thái để cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức nghiên cứu có thể khai thác, làm chủ và từng bước phát triển các công nghệ mới”, Thứ trưởng Hoàng Minh nhấn mạnh.

Từ định hướng này, Việt Nam tập trung vào bốn nhóm vấn đề gồm phát triển hạ tầng điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán; phát triển dữ liệu và các nền tảng AI mạnh, an toàn, hiệu quả; phát triển nhanh nguồn nhân lực công nghệ; và quan trọng là hình thành hệ sinh thái.

Theo Thứ trưởng, doanh nghiệp Việt Nam cần tiến xa hơn việc sử dụng cloud và AI như một dịch vụ, từng bước nâng cao năng lực công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong quá trình đó, Bộ Khoa học và Công nghệ kỳ vọng các tập đoàn công nghệ quốc tế không chỉ cung cấp dịch vụ mà tiếp tục tham gia đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái tại Việt Nam.

Công nghệ mở thêm không gian hợp tác Việt Nam-Hoa Kỳ

Tại sự kiện, từ góc độ quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, bà Jennifer Wicks McNamara, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhấn mạnh vai trò của công nghệ và hạ tầng công nghệ trong xây dựng một nền kinh tế đổi mới sáng tạo, thịnh vượng và ngày càng số hóa.

Theo Đại sứ, điện toán đám mây cung cấp hạ tầng cần thiết để doanh nghiệp đổi mới, mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện cho AI, sản xuất tiên tiến, dịch vụ tài chính, thương mại điện tử và chính phủ số phát triển.

Đại sứ cũng đề cập vai trò của môi trường chính sách đối với đầu tư công nghệ. Theo đó, môi trường pháp lý thuận lợi, khả năng dự báo và tính minh bạch của quy định có thể góp phần thúc đẩy đầu tư, đưa công nghệ và chuyên môn vào Việt Nam, qua đó hỗ trợ nâng cao năng suất và đổi mới sáng tạo.

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, AWS đã xây dựng một sự hiện diện to lớn tại Việt Nam, hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức của Việt Nam, đồng thời đầu tư hạ tầng số và phát triển nguồn nhân lực.

Thông qua hợp tác với KidsEdu, Amazon đã hỗ trợ tập huấn hơn 5000 giáo viên mầm non trên khắp Việt Nam về giảng dạy STEM, giúp đưa giáo dục công nghệ và khoa học đến các địa phương trên cả nước.

Bà Jennifer Wicks McNamara khẳng định: "Để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số trong những năm tới đây, Việt Nam cần cải thiện năng suất trong toàn bộ nền kinh tế, và các công nghệ số có thể trở thành động lực mạnh mẽ cho việc nâng cao năng suất.

Tuy nhiên, chỉ một mình công nghệ là không đủ. Việt Nam sẽ cần một môi trường pháp lý tạo thuận lợi, tiếp tục khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư, cho phép cộng đồng doanh nghiệp quốc tế - đặc biệt là Hoa Kỳ - triển khai các công nghệ mới một cách hiệu quả".

AWS mở rộng hiện diện hạ tầng tại Việt Nam

Từ phía doanh nghiệp công nghệ quốc tế, AWS cho biết quá trình hiện diện tại Việt Nam đang được mở rộng qua nhiều lớp hạ tầng và dịch vụ.

AWS bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 2017. Sau Edge Location được đưa vào hoạt động năm 2022 và Direct Connect tại Hà Nội năm 2025, AWS Local Zone tại Hà Nội chính thức đi vào hoạt động từ ngày 19/6/2026.

Việc phát triển hạ tầng này hướng tới nhu cầu xử lý dữ liệu với độ trễ thấp, đồng thời đáp ứng yêu cầu về lưu trữ và xử lý dữ liệu tại Việt Nam của các tổ chức, doanh nghiệp.

Tại sự kiện, Tổng Giám đốc AWS Việt Nam Eric Yeo cho rằng, Việt Nam đang gia tăng mức độ quan tâm và ứng dụng công nghệ, qua đó từng bước hiện thực hóa tham vọng trở thành một trung tâm AI của ASEAN vào năm 2030.

Theo AWS, việc mở rộng hạ tầng cloud đi cùng hệ sinh thái đối tác, cộng đồng nhà phát triển và các chương trình đào tạo nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và triển khai những công nghệ mới.

Doanh nghiệp Việt ứng dụng AI tăng từ 18 lên 26% trong 1 năm

Một trong những nội dung đáng chú ý tại AWS Cloud and AI Day Hà Nội là kết quả nghiên cứu “Khai phá Tiềm năng AI Việt Nam 2026” do Strand Partners thực hiện theo ủy quyền của AWS.

Theo nghiên cứu, khoảng 26% doanh nghiệp Việt Nam, tương đương khoảng 245.000 doanh nghiệp, đã ứng dụng AI vào hoạt động, tăng từ 18% năm 2025. Trong số các doanh nghiệp đã ứng dụng, 73% cho rằng AI đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh tổng thể; 75% ghi nhận năng suất tăng và 64% cho biết AI giúp doanh thu tăng trung bình 15%.

Tuy nhiên, những con số này cũng cho thấy khoảng cách giữa việc thử nghiệm công nghệ và khai thác công nghệ ở quy mô lớn.

Có tới 61% doanh nghiệp đã ứng dụng AI vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm. Chỉ 23% cho biết đã có chiến lược AI chính thức và toàn diện. Đáng chú ý, chỉ 13% doanh nghiệp có khung đo lường lợi tức đầu tư từ AI rõ ràng và được áp dụng nhất quán, trong khi 46% chưa có phương pháp đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả đầu tư.

Nhân lực cũng là một điểm nghẽn. 54% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng thiếu hụt kỹ năng số và AI đang cản trở việc ứng dụng, mở rộng công nghệ; 87% nhà tuyển dụng đánh giá đào tạo lại đội ngũ hiện tại là yếu tố quan trọng trong chiến lược AI.

Những số liệu này đặt ra yêu cầu không chỉ phổ cập công cụ AI mà còn nâng cao năng lực tổ chức, nhân lực và quản trị để biến công nghệ thành giá trị kinh tế.

Từ AI tạo sinh đến AI tác nhân

Một xu hướng khác được các diễn giả tại sự kiện đề cập là sự phát triển của AI tác nhân (agentic AI), những hệ thống có khả năng thực hiện một chuỗi nhiệm vụ thay vì chỉ phản hồi từng yêu cầu riêng lẻ.

Theo nghiên cứu được công bố tại sự kiện, khoảng 38% doanh nghiệp được khảo sát đã biết đến agentic AI. Trong số này, 8% đã tích hợp AI agent vào các quy trình cốt lõi, còn 19% đang thử nghiệm hoặc triển khai thí điểm.

Những doanh nghiệp đã triển khai AI agent cho biết công nghệ này giúp cải thiện năng suất, hiệu quả vận hành, tốc độ ra quyết định và khả năng mở rộng hoạt động.

Các trường hợp doanh nghiệp được chia sẻ tại sự kiện cho thấy Cloud đang ngày càng đóng vai trò là hạ tầng cho quá trình đưa AI vào hoạt động thực tế.

Tại TCBS, hơn 460 nhân sự đang sử dụng Kiro, môi trường phát triển phần mềm agentic AI của AWS. Doanh nghiệp cho biết thời gian phát triển tính năng được rút ngắn gần 25%, trong khi hơn 70% mã nguồn do AI tạo ra được duyệt ngay từ lần đầu.

Trong khi đó, nền tảng trí tuệ giọng nói NoteX cho biết vận hành trên AWS giúp giảm 30% độ trễ và chi phí xử lý AI. Startup Diaflow, phát triển nền tảng điều phối AI agent, đã thu hút hơn 40.000 khách hàng và xử lý hơn 100 triệu tác vụ AI.

Nguồn: Báo Nhân Dân



30/09/2026
30/09/2026

Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam tăng 1 bậc, hướng tới nhóm 40 thế giới vào năm 2030

Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 quốc gia, nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm 2025. Tính từ năm 2016 đến nay, thứ hạng GII của Việt Nam đã cải thiện 16 bậc, từ vị trí 59 lên 43.

Tối 29/9 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index-GII) năm 2026 tại Geneva.

Theo kết quả công bố, Việt Nam được xếp hạng 43/139 quốc gia, nền kinh tế, tăng một bậc so với năm 2025. Tính từ năm 2016 đến nay, thứ hạng GII của Việt Nam đã tăng từ vị trí 59 lên 43, cải thiện 16 bậc.

Đáng chú ý, nhóm chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng hai bậc, từ vị trí 37 lên 35. Kết quả này góp phần đưa thứ hạng chung của Việt Nam tăng một bậc, đạt mục tiêu Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026.

Việt Nam tiếp tục đứng thứ hai trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp, sau Ấn Độ; đồng thời đứng thứ ba ASEAN, sau Singapore và Malaysia. WIPO cũng ghi nhận Việt Nam là một trong bảy quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013 và là một trong ba quốc gia có thành tích đổi mới sáng tạo vượt trội so với mức độ phát triển.

Đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc nhờ 3 yếu tố chính

Đánh giá về kết quả này, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng, việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng hai bậc là kết quả đáng ghi nhận, phản ánh tinh thần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW rất quyết liệt trong hơn một năm qua.

Theo Bộ trưởng, kết quả trên đến từ 3 yếu tố chính. Thứ nhất, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có bước tăng mạnh mẽ.

Thứ hai, từ quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hệ thống chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước được hoàn thiện.

Thứ ba là sự tham gia ngày càng rõ nét của các bên liên quan, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến các viện nghiên cứu, trường đại học, góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Việt Nam đã thay đổi cách tiếp cận, đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm trong mô hình phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời tập trung hoàn thiện thể chế, ưu tiên nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, chuyển từ quản lý nặng về đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra.

Trong năm 2026, một số chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam có mức cải thiện đáng chú ý. Đơn đăng ký sáng chế theo nước xuất xứ tăng ba bậc, lên vị trí 63; sản lượng công nghệ cao tăng một bậc, lên vị trí 25; mức độ phức tạp của sản xuất và xuất khẩu tăng tám bậc, lên vị trí 44. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp theo nước xuất xứ tăng ba bậc, lên vị trí 48.

Ở nhóm thế mạnh, Việt Nam tiếp tục đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Việt Nam cũng đứng thứ ba về tỷ trọng nhập khẩu công nghệ cao, thứ năm về số lượt tải ứng dụng điện thoại di động và thứ sáu về tốc độ tăng năng suất lao động.

"Điểm nghẽn" về nguồn nhân lực và doanh nghiệp

Bên cạnh những kết quả đạt được, GII 2026 cũng cho thấy một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Đầu ra tri thức như sáng chế và bài báo khoa học chưa được cải thiện tích cực trong những năm qua; nguồn nhân lực chất lượng cao trong các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn hạn chế.

Một số chỉ số liên quan đến giáo dục và nghiên cứu còn ở thứ hạng thấp. Chỉ số chi cho giáo dục tính theo GDP đứng thứ 112; bài báo khoa học quốc tế trên tỷ PPP GDP đứng thứ 106. Trong khi đó, nhóm chỉ số về lao động có kiến thức trong khu vực doanh nghiệp đứng thứ 85.

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, để cải thiện các kết quả này, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược và đội ngũ có trình độ sau đại học.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế, bởi đây là những sản phẩm có liên quan trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo.

Bộ trưởng đặc biệt nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp trong giai đoạn tới. Các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn về cả tài chính và con người cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và năng suất lao động.

“Chỉ khi các doanh nghiệp thực sự vào cuộc, tôi nghĩ rằng chúng ta mới có thể đạt được các mục tiêu về đổi mới sáng tạo theo tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nói.

Hướng tới nhóm 40 quốc gia dẫn đầu vào năm 2030

Theo Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu chỉ số GII không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định một số nhiệm vụ trọng tâm gồm tiếp tục hoàn thiện thể chế; tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thu hút các tập đoàn, công ty lớn nước ngoài hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, mở rộng đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ chiến lược tại Việt Nam.

Cùng với đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu, tăng cường hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; thu hút nguồn vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ; hình thành các cụm, liên kết đổi mới sáng tạo và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ công nghệ để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh.

Kết quả GII 2026 cho thấy đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang có chuyển biến tích cực, song mục tiêu vươn vào nhóm 40 và nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới đòi hỏi tiếp tục cải thiện đồng thời chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu, hiệu quả đầu tư và mức độ tham gia của khu vực doanh nghiệp.

Nguồn: Báo Nhân Dân





29/09/2026

Dấu ấn đậm nét của "ngoại giao nguyên thủ"

Qua các hoạt động đối ngoại cấp cao, Việt Nam thể hiện rõ tư duy chủ động, tích cực đóng góp vào quản trị toàn cầu, đồng thời củng cố vị thế quốc gia và tranh thủ nguồn lực quốc tế cho phát triển.

Nhân chuyến công tác tham dự Đại hội đồng Liên hợp quốc và làm việc tại Hoa Kỳ, thăm cấp Nhà nước đến Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Đại sứ, Tiến sỹ Tôn Sinh Thành, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, giảng viên cao cấp tại Học viện Ngoại giao Việt Nam đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam về bước phát triển của nền ngoại giao đa phương Việt Nam, tầm quan trọng của "ngoại giao nguyên thủ" và tư duy đối ngoại mới trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

- Thưa Đại sứ, tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra thông điệp: "Khôi phục lòng tin không đòi hỏi các quốc gia xóa bỏ khác biệt, mà cùng nhau quản trị khác biệt một cách có trách nhiệm." Đại sứ có đánh giá thế nào về ý nghĩa của thông điệp này?

Đại sứ Tôn Sinh Thành: Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc về việc quản trị khác biệt có trách nhiệm dựa trên luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong bối cảnh thế giới đang bị phân cực, chia rẽ và tồn tại nhiều khác biệt như hiện nay. Điều cốt yếu là chúng ta phải xử lý, chấp nhận sự tồn tại khách quan của các khác biệt đó thế nào.

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất rõ ràng, đó là kiểm soát chúng một cách có trách nhiệm thông qua đối thoại, tuyệt đối không sử dụng vũ lực, nhằm ngăn chặn nguy cơ bùng phát các xung đột.

Ngay cả trong những vấn đề phức tạp như tranh chấp lãnh thổ, con đường duy nhất là phải giữ vững sự kiểm soát và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982, thay vì dùng sức mạnh vũ lực để giải quyết.

Quan điểm nhất quán này giúp Việt Nam kiên định nguyên tắc không chọn bên, không phụ thuộc vào bất kỳ bên nào mà luôn đứng về phía luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Đây chính là nền tảng cốt lõi giúp đất nước giữ vững độc lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền và tự chủ chiến lược của mình.

- Đại sứ nhìn nhận thế nào về sự chuyển dịch vị thế của Việt Nam từ tuân thủ luật chơi sang chủ động tham gia định hình các khuôn khổ quản trị toàn cầu mới?

Đại sứ Tôn Sinh Thành: Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Đại hội đồng Liên hợp quốc vừa qua đã đề xuất bốn định hướng lớn cho hoạt động của Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản trị công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), phải hướng tới mục tiêu phục vụ con người, bảo đảm tính bao trùm và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Những định hướng này thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy đối ngoại của Việt Nam, từ vị thế chấp nhận và tuân thủ các quy tắc, sang một bên chủ động đề xuất và đóng góp định hình luật chơi mới trên trường quốc tế, đặc biệt ở các lĩnh vực tiên phong.

Sự chuyển dịch này hoàn toàn nhất quán với các định hướng lớn của Đảng, từ Chỉ thị 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cho đến các định hướng đối ngoại trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Trên thực tế, Việt Nam đã chuyển đổi vị thế này cũng như thể hiện rõ nét vai trò mới này thông qua việc chủ động đưa ra nhiều sáng kiến hoặc đồng bảo trợ các sáng kiến với các nước khác về các vấn đề toàn cầu như bảo vệ môi trường, bảo đảm quyền cho phụ nữ và trẻ em, cùng nhiều vấn đề phát triển then chốt khác tại các diễn đàn quốc tế.

- Đại sứ có đánh giá như thế nào về sự trưởng thành của nền ngoại giao đa phương Việt Nam trong gần 50 năm qua?

Đại sứ Tôn Sinh Thành: Nhìn lại chặng đường gần 50 năm kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc vào năm 1977, nền ngoại giao đa phương Việt Nam đã có sự trưởng thành vượt bậc và toàn diện.

Từ vị thế một quốc gia chủ yếu tiếp nhận viện trợ để tái thiết sau chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành một đối tác đóng góp tích cực cả về nguồn lực lẫn kinh nghiệm cho cộng đồng quốc tế.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc vào đầu những năm 1990, chúng ta đã chủ động hội nhập sâu rộng vào các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu như ASEAN, APEC và Liên hợp quốc.

Việt Nam không chỉ tham gia mà đã, đang ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt, dẫn dắt khi nhiều lần đảm nhiệm thành công vị trí Chủ tịch ASEAN vào các năm 1998, 2010, 2020; đăng cai Hội nghị Cấp cao APEC các năm 2006, 2017 và đang tích cực chuẩn bị cho APEC 2027.

Ngay tại Liên hợp quốc, chúng ta từng giữ vai trò Ủy viên không thường trực và Chủ tịch Hội đồng Bảo an, đồng thời trực tiếp cử nhiều lượt sỹ quan, binh sỹ tham gia Lực lượng Gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan và các địa bàn châu Phi, thể hiện sự trưởng thành của ngoại giao đa phương Việt Nam cũng như cam kết thực chất vì hòa bình và an ninh thế giới.

- Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Đại hội đồng Liên hợp quốc, hoạt động song phương ở Hoa Kỳ và thăm cấp nhà nước đến Canada lần này cùng chuỗi hoạt động đối ngoại cấp cao thời gian qua đã thể hiện dấu ấn rất rõ nét của "ngoại giao nguyên thủ." Xin Đại sứ phân tích những tác động của phương thức đối ngoại cấp cao nhất này trong việc củng cố sự tin cậy chiến lược và tranh thủ nguồn lực quốc tế cho phát triển đất nước?

Đại sứ Tôn Sinh Thành: Ngoại giao nguyên thủ vốn giữ vị trí đặc biệt quan trọng bởi nguyên thủ quốc gia là người chịu trách nhiệm cao nhất về đối ngoại. Tuy nhiên, trong thời gian trước đây, do những điều kiện về giao thông, khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, nên các hoạt động của đối ngoại thường do các đại diện do nguyên thủ, Nhà nước cử như các sứ giả, đại sứ thực hiện.

Nhưng hiện nay, trong bối cảnh khoa học kỹ thuật phát triển, giao thông thuận tiện và yêu cầu cấp bách của tình hình quốc tế, phương thức ngoại giao này trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã được thúc đẩy.

Ngoại giao nguyên thủ mang lại những ưu thế vượt trội hơn các phương thức ngoại giao khác. Việc các nguyên thủ trực tiếp tiếp xúc lẫn nhau giúp thiết lập sự tin cậy cá nhân ở cấp cao nhất, tạo ra các cam kết mạnh mẽ và tháo gỡ trực tiếp những vướng mắc phức tạp mà các cấp kỹ thuật khó xử lý, tạo ra tính hiệu quả, biểu tượng đối ngoại rất cao.

Bên cạnh đó, việc tuyên bố đường lối đối ngoại ở cấp cao nhất, như các bài phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trong các chuyến thăm vừa qua mang lại sức lan tỏa, thu hút và tầm ảnh hưởng trên toàn cầu.

Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đến Liên hợp quốc, Hoa Kỳ và Canada vừa qua rõ ràng là cơ hội rất lớn để khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Việt Nam, lan tỏa thông điệp về sự chuyển mình từ bên tuân thủ sang bên đóng góp định hình luật chơi quốc tế.

Các cuộc tiếp xúc cấp cao trực tiếp với lãnh đạo các nước, chính giới và giới tinh hoa Hoa Kỳ, Canada đã mở ra những khuôn khổ hợp tác mới, giúp tranh thủ tối đa các nguồn lực quốc tế chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước.

- Thời gian qua, cùng với việc Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều chuyến thăm tới các nước, chúng ta cũng đón tiếp liên tục các đoàn lãnh đạo cấp cao nước ngoài. Đại sứ đánh giá như thế nào về sự chuyển đổi tư duy trong nền đối ngoại của chúng ta thông qua các hoạt động ngoại giao cấp cao sôi động vừa qua?

Đại sứ Tôn Sinh Thành: Hoạt động ngoại giao cấp cao diễn ra rất sôi nổi cả ở chiều đi và chiều đến thời gian qua minh chứng cho việc chúng ta đang đẩy mạnh triển khai hội nhập quốc tế sâu rộng theo Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị và đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng là nâng tầm ngoại giao lên mức trọng yếu, thường xuyên.

Trong giai đoạn đất nước đang tăng tốc phát triển, bên cạnh việc phát huy tối đa nội lực, việc mở rộng, đẩy mạnh và nâng tầm các hoạt động đối ngoại song phương cũng như đa phương chính là bước đi chủ động nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài, đáp ứng trực tiếp yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.

- Xin trân trọng cảm ơn Đại sứ./.

TTXVN

29/09/2026

Xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật phải là một chỉnh thể thống nhất

Sáng 28/9, tại Hà Nội, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật tổ chức Phiên họp tháng 9. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo, chủ trì phiên họp.

Tham dự có các đồng chí: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo; Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo; các đồng chí trong Thường trực Ban Chỉ đạo, thành viên Ban Chỉ đạo và đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương.

Tại phiên họp, các đại biểu đã nghe các báo cáo và thảo luận, cho ý kiến đối với 6 nhóm nội dung: Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới"; nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy văn hóa tuân thủ pháp luật; các vấn đề lớn về sửa đổi Bộ luật Hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; cơ chế xử lý vi phạm hành chính; cơ chế giải giải quyết tranh chấp dân sự.

Về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng, tiến độ và trách nhiệm; tập trung xử lý các vấn đề cản trở đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc làm tăng chi phí tuân thủ... Đối với những văn bản đã xác định rõ nội dung bất cập, đầy đủ cơ sở, các cơ quan cần chủ động xử lý theo thẩm quyền hoặc tham mưu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý, không chờ kết quả tổng rà soát cuối cùng.

Kết quả rà soát phải gắn với đổi mới thể chế, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật và khơi thông nguồn lực cho phát triển. Đảng ủy Quốc hội phối hợp Đảng ủy Chính phủ cùng các cơ quan liên quan hoàn thành Báo cáo kết quả tổng rà soát và giải pháp xử lý tổng thể, trình Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai, dự kiến tháng 12/2026.

Đối với Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới", Thường trực Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất cách tiếp cận hoàn thiện hệ thống pháp luật trong tổng thể hệ sinh thái thể chế phát triển; yêu cầu xác định rõ mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với tiêu chí có thể đo lường.

Đến năm 2030, phải tạo được chuyển biến rõ nét trong thực thi pháp luật, sớm khắc phục căn bản tình trạng thực thi pháp luật được xem là "điểm nghẽn", khâu yếu; xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ văn bản quy định chi tiết; đồng thời hoàn thành các nhiệm vụ lớn về Định hướng lập pháp và tổng kết Hiến pháp năm 2013. Thường trực Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất 3 đột phá về tư duy xây dựng và thực thi pháp luật; yêu cầu hoàn thiện Đề án để trình Ban Chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai.

Thường trực Ban Chỉ đạo xác định nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng để khắc phục khâu yếu, "điểm nghẽn" trong thực thi pháp luật; cần nghiên cứu, hoàn thiện quy định về tổ chức thi hành pháp luật trong dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật. Các cơ quan liên quan phải bảo đảm nguồn lực, hoàn thiện quy định về tổ chức thi hành pháp luật, nghiên cứu tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản sau ban hành, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hoàn thiện cơ chế tài chính, hạ tầng số và dữ liệu phục vụ tổ chức thi hành pháp luật.

Cơ bản thống nhất với các vấn đề lớn trong báo cáo về sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị Đảng ủy Công an Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo Bộ Công an phối hợp các bộ, ngành hoàn thiện hồ sơ các dự án luật trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai. Các dự án luật phải bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về chính sách hình sự; phòng, chống tội phạm; phòng, chống tham nhũng; bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành và bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Thường trực Ban Chỉ đạo nhấn mạnh mục tiêu cao nhất của việc xử lý vi phạm hành chính là làm cho pháp luật được chấp hành tốt hơn, vi phạm ít đi, đồng thời giữ vững trật tự, kỷ cương và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Do đó, cần rà soát tổng thể cơ chế xử lý vi phạm hành chính, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi); chuyển trọng tâm từ "phát hiện vi phạm để xử phạt" sang "quản lý rủi ro, phòng ngừa vi phạm, hướng dẫn và nâng cao tuân thủ pháp luật", gắn với chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu.

Về cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, Thường trực Ban Chỉ đạo đề nghị các cơ quan, tổ chức có liên quan tập trung thực hiện các giải pháp nhằm giảm chi phí, rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp; bảo đảm việc giải quyết tranh chấp công bằng, khách quan, kịp thời, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức cũng cần khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Trọng tài thương mại; nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Hòa giải thương mại; đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, quản trị dựa trên dữ liệu trong toàn bộ quy trình giải quyết tranh chấp và thi hành án dân sự...

Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo và các cơ quan có liên quan; đồng thời nhấn mạnh xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật phải là một chỉnh thể thống nhất. Kết quả xây dựng và thực thi pháp luật phải được đo bằng những “điểm nghẽn” được tháo gỡ, chi phí tuân thủ giảm, nguồn lực được khơi thông; kỷ luật, kỷ cương được tăng cường; quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân, doanh nghiệp được bảo đảm; kinh tế-xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện; quốc phòng-an ninh được giữ vững; niềm tin và năng lực cạnh tranh quốc gia được nâng cao.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu ngay sau cuộc họp, các cơ quan chủ trì 6 nội dung khẩn trương tiếp thu ý kiến, hoàn thiện các đề án, báo cáo và hồ sơ dự án luật bảo đảm thống nhất giữa các nội dung và theo đúng tiến độ. Việc đã rõ, thuộc thẩm quyền thì triển khai ngay; việc còn ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động và có phương án báo cáo cấp có thẩm quyền.

Nguồn: Báo Nhân Dân






27/09/2026

Address

Đường Nguyễn Chánh
Tỉnh Kiên Giang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi Đoàn Khu Phố Nguyễn Chánh - P. Vĩnh Thông posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share