17/08/2026
Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”
Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.
Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.
Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.
Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.
Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.
Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.
Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.
Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.
Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.
Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.
Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.
Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.
Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia
Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.
Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.
Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.
Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.
Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.
Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.
Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.
Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.
Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.
Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.
Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ