Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt Nam

Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt Nam Tổ chức phi chính trị và bất vụ lợi, được sáng lập từ nhu cầu thực tiễn

Thứ hai, 27/4/2026, 14:16 (GMT+7)'Công nhân cần lương đủ sống, không chỉ việc làm'Lê Tuyết - VnExpressTổng Bí thư, Chủ t...
28/04/2026

Thứ hai, 27/4/2026, 14:16 (GMT+7)
'Công nhân cần lương đủ sống, không chỉ việc làm'
Lê Tuyết - VnExpress

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu TP HCM và các cơ quan liên quan chăm lo để công nhân không chỉ có việc làm mà còn cải thiện điều kiện sống, tại cuộc gặp người lao động sáng 27/4.

"Nhiều lao động làm việc liên tục nhưng tích lũy thấp, dễ gặp khó khăn khi ốm đau, biến cố. Chính quyền và công đoàn cần nhìn thẳng thực tế, lắng nghe và có giải pháp phù hợp", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói tại sự kiện nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động, Tháng Công nhân 2026 và chuẩn bị Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam.

Ông nhận định TP HCM là trung tâm kinh tế lớn, tập trung đông lao động từ nhiều địa phương. Nhiều người rời quê đến thành phố làm việc, đóng góp cho tăng trưởng nhưng đối mặt áp lực về thu nhập, nhà ở, chi phí sinh hoạt, việc học của con cái và chăm sóc y tế.

Người đứng đầu Đảng, Nhà nước yêu cầu TP HCM tiếp tục coi việc chăm lo đời sống công nhân là nhiệm vụ trọng tâm, rà soát nhu cầu nhà ở xã hội, nhà lưu trú, trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa tại khu công nghiệp, khu chế xuất. Mục tiêu là bảo đảm công nhân có nơi ở ổn định, điều kiện chăm lo gia đình và tiếp cận dịch vụ thiết yếu.

Ông cũng đề nghị tiền lương không chỉ dừng ở mức tối thiểu mà cần hướng tới mức bảo đảm cuộc sống; đồng thời tăng cường đào tạo, khuyến khích sáng kiến trong doanh nghiệp. "Mỗi chính sách đúng, mỗi việc làm thiết thực, mỗi sự quan tâm kịp thời đều có thể giúp một gia đình bớt khó khăn", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.

Với tổ chức công đoàn, ông yêu cầu tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động, có mặt kịp thời khi xảy ra khó khăn như mất việc, nợ lương, tai nạn lao động. Doanh nghiệp cần quan tâm tiền lương, phúc lợi, an toàn lao động, điều kiện làm việc và cơ hội nâng cao tay nghề.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng khuyến khích công nhân học nghề, rèn luyện kỹ năng số, ngoại ngữ, chủ động thích ứng với yêu cầu sản xuất mới.

Trước đó, ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho biết cả nước có khoảng 17 triệu công nhân, chủ yếu 19-35 tuổi, làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, công nghệ cao. Tuy nhiên, nhiều người có việc làm và thu nhập chưa ổn định, tích lũy thấp; nhu cầu về nhà ở, trường học, y tế và mức lương đủ sống còn lớn.

Riêng TP HCM có hơn 7 triệu công nhân, phần lớn là lao động nhập cư, chịu áp lực về chỗ ở và chi phí sinh hoạt. Tại cuộc gặp, một số công nhân cho rằng lương hiện chưa đáp ứng nhu cầu tối thiểu, đề xuất chuyển từ lương tối thiểu sang lương đủ sống; đồng thời cần phát triển nhà ở xã hội gần khu công nghiệp với chi phí phù hợp.

Từ phía công nhân, nhiều ý kiến cũng cho rằng mức lương hiện nay của người lao động chưa đủ sống, chỉ cần gặp biến có là dễ rơi vào túng quẫn.

Chị Huỳnh Thị Lý, công nhân Công ty Yazaki hơn 20 năm, cho biết từng mắc bệnh nặng nhưng được hỗ trợ điều trị, bố trí việc nhẹ để duy trì thu nhập khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Theo chị, nhiều công nhân phải gánh chi phí sinh hoạt, nuôi con, chăm cha mẹ. Vì vậy họ cần được hỗ trợ tốt hơn về bảo hiểm, nhà ở và môi trường sống để giảm áp lực.

Trong khi đó, anh Lưu Văn Nhiệm, Công ty Sài Gòn Stec, làm việc tại TP HCM 16 năm, cho hay áp lực tăng khi doanh nghiệp đòi hỏi năng suất, kỹ năng cao hơn. Dù có sáng kiến giúp công ty tiết kiệm chi phí, công nhân vẫn thiếu cơ hội đào tạo và cơ chế khuyến khích.

"Người lao động cần được học nghề thường xuyên và có thu nhập đủ sống để gắn bó lâu dài", anh nói.

Khoảng trống khi không còn công đoàn ở một số cơ quan hành chínhThu Hằng - thuhangbtn@gmail.com - báo Thanh Niên24/04/20...
28/04/2026

Khoảng trống khi không còn công đoàn ở một số cơ quan hành chính
Thu Hằng - [email protected] - báo Thanh Niên
24/04/2026 18:33 GMT+7

Trước thực tế thiếu vắng tổ chức đại diện cho người lao động tại một số cơ quan hành chính, nhiều cán bộ công đoàn đã đề xuất nghiên cứu tái lập công đoàn, nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động và duy trì các hoạt động phong trào.

Khoảng trống trong tổ chức các hoạt động
Tại hội nghị Ban Chấp hành Tổng liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam lần thứ 10, khóa XIII diễn ra chiều 24.4, vấn đề tái lập tổ chức công đoàn trong các cơ quan hành chính thu hút nhiều ý kiến thảo luận.

Không ít đại biểu cho rằng việc thiếu vắng tổ chức công đoàn đang tạo ra khoảng trống trong việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động, đặc biệt là nhóm lao động hợp đồng.

Bà Công Thanh Thảo, Trưởng ban Công đoàn Công an nhân dân, cho biết sau khi kết thúc công đoàn trong cơ quan hành chính, lực lượng vũ trang, nhiều đơn vị tha thiết, mong muốn đề xuất và kiến nghị với công đoàn cấp trên làm thế nào đó đưa đối tượng hợp đồng lao động hưởng 100% lương ngân sách được tham gia tổ chức công đoàn.

Theo bà Thảo, nhưng bây giờ lại phân biệt người lao động hưởng 100% ngân sách và người lao động không hưởng 100% lương ngân sách là chưa hợp lý. Luật quy định người lao động là đối tượng đoàn viên công đoàn, họ cần được bảo vệ quyền lợi thông qua tổ chức công đoàn.

Từ thực tiễn địa phương, ông Nguyễn Thế Hoàn, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Hà Tĩnh, cho biết sau khi không còn tổ chức công đoàn trong cơ quan hành chính, nhiều kiến nghị đã được gửi tới công đoàn cấp trên, bày tỏ mong muốn tái lập tổ chức này.

Ông Hoàn chia sẻ: "Dù hoạt động trong môi trường công chức, viên chức, song về bản chất, những người này vẫn là người lao động. Đáng chú ý, trong các cơ quan hành chính hiện nay còn có một bộ phận không nhỏ lao động hợp đồng như nhân viên tạp vụ, vệ sinh, bảo vệ… Họ có hợp đồng lao động, tham gia bảo hiểm xã hội nhưng lại chưa có tổ chức đại diện để bảo vệ quyền lợi. Đây là một bất cập cần được xem xét".

Cạnh đó, theo ông Hoàn, việc thiếu vắng công đoàn cũng ảnh hưởng đến hoạt động phong trào tại cơ sở. Nhiều cơ quan, đơn vị cho biết các phong trào thi đua đã kém sôi nổi hơn so với trước đây. Một số nơi phải lập "Ban Đời sống" để đảm nhiệm việc thăm hỏi, tổ chức sự kiện, nhưng mô hình này thiếu tính ổn định và không gắn với trách nhiệm cụ thể.

Ông Hoàn cho rằng trong hệ thống chính trị, hầu hết các tổ chức đều có mặt tại cơ quan hành chính, song lại thiếu vắng vai trò của công đoàn - tổ chức đại diện trực tiếp cho người lao động. Do đó, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để duy trì tổ chức này, có thể linh hoạt về mức thu đoàn phí nhằm đảm bảo nguồn lực hoạt động.

Từ thực tiễn trên, ông Hoàn đề xuất 3 kiến nghị: duy trì tổ chức công đoàn tại các đơn vị hành chính; đảm bảo quyền lợi cho lao động hợp đồng; và xây dựng một tổ chức đủ mạnh để duy trì hoạt động phong trào, chăm lo đời sống cán bộ, nhân viên.

Sẽ tổng hợp ý kiến gửi tới Đại hội Công đoàn Việt Nam
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, cho biết nhiều ý kiến từ các đơn vị hành chính sự nghiệp - nơi người lao động hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước đã kiến nghị tái lập công đoàn.

Các đề xuất đi kèm với hướng điều chỉnh cơ chế tài chính, cụ thể không thu kinh phí công đoàn 2% như trước, mà chỉ thu công đoàn phí tối đa 0,5% trên cơ sở thỏa thuận giữa công đoàn và người lao động.

Theo đề xuất này, toàn bộ khoản phí 0,5% sẽ được giữ lại tại công đoàn cơ sở để phục vụ trực tiếp cho hoạt động chăm lo đời sống người lao động, không phải nộp lên cấp trên. Đây được xem là phương án nhằm giảm gánh nặng tài chính, đồng thời tăng tính chủ động cho cơ sở.

Tuy vậy, ông Tuấn cũng nhấn mạnh đây là vấn đề lớn, liên quan đến quy định của Hiến pháp và pháp luật về đối tượng tập hợp của tổ chức công đoàn.

"Chúng tôi đang ghi nhận các ý kiến để tổng hợp báo cáo gửi tới Đại hội Công đoàn Việt Nam. Trong nhiệm kỳ tới, sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng để nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét", ông nói.

Bên cạnh nội dung này, hội nghị cũng thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam. Dự kiến trong nhiệm kỳ tới, tổ chức công đoàn sẽ phát động phong trào thi đua "Lao động giỏi, năng suất cao, thu nhập tốt", cùng với các chương trình, đề án và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tình hình mới.

Theo dự kiến, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV dự kiến diễn ra từ ngày 28 - 30.5, tại Hà Nội với sự tham gia của 780 đại biểu chính thức.

NẾU NHÀ NƯỚC KHÔNG THỂ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CHÍNH CƠ QUAN NHÀ NƯỚC THÌ HÃY TÔN TRỌNG QUYỀN CỦA DÂN, ĐỂ DÂN TỰ LẬP NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP Ở CẢ CÁC CÔNG TY TƯ NHÂN LẪN CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC. VIỆC CỦA DÂN ĐỂ DÂN LÀM.

Việt Nam : Người lao động bị giảm thu nhập, làm việc thêm giờ do ô nhiễm, nhiệt độ cực đoanĐăng ngày: 29/09/2025 RFI Ô n...
29/09/2025

Việt Nam : Người lao động bị giảm thu nhập, làm việc thêm giờ do ô nhiễm, nhiệt độ cực đoan
Đăng ngày: 29/09/2025 RFI

Ô nhiễm không khí và nắng nóng kéo dài không chỉ tác động đến sức khỏe và tỉ lệ tử vong, mà còn ảnh hưởng đến việc làm tại Việt Nam. Một bộ phận người lao động phải làm việc thêm 1 tiếng 45 phút và bị giảm thu nhập 129.000 đồng/tháng trong những giai đoạn như vậy. Đây là một trong những nhận định được nêu trong nghiên cứu “Nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm ảnh hưởng đến hiệu suất lao động ở Việt Nam như thế nào?”

Nghiên cứu được ông Nguyễn Việt Cường, viện phó Viện Nghiên cứu Phát triển Mêkông và kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD thực hiện trong khuôn khổ Dự án GEMMES Việt Nam và được đăng trong số 79 AFD Research Paper (Tài liệu Nghiên cứu của AFD), tháng 07/2025.

Kinh tế gia Cecilia Poggi, điều phối các chương trình nghiên cứu liên quan đến bảo trợ xã hội, thế giới lao động và hòa nhập xã hội tại AFD, đã dành cho RFI Tiếng Việt buổi phỏng vấn về chủ đề này.

RFI : Vào cuối tháng 7 trong Tài liệu Nghiên cứu của AFD, ông Nguyễn Việt Cường và bà đã xuất bản một nghiên cứu về "Tác động của nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm không khí đối với nguồn cung lao động và thu nhập: dữ liệu từ Việt Nam". Tình hình ở Việt Nam đáng báo động đến mức nào để một nghiên cứu như vậy được thực hiện ?
Cecilia Poggi : Tình hình hiện nay vẫn chưa hoàn toàn đáng báo động. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng với việc các đợt nắng nóng cực đoan ngày càng trầm trọng, chẳng hạn như đợt nắng nóng 44°C được ghi nhận vào tháng 04/2024 ở miền Bắc Việt Nam, cùng với các đợt ô nhiễm ngày càng gia tăng, những câu hỏi như thế này cần được đặt ra.

Các dữ liệu cũng cho thấy rõ điều đó. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, gây thiệt hại khoảng 3,2% GDP vào năm 2020. Và mặc dù đã có các chính sách chủ động nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí, Việt Nam vẫn luôn có mức độ bụi mịn PM2.5 cao, tương đương với Trung Quốc và cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu trong hơn 20 năm qua.

RFI : Nghiên cứu nêu rằng không thấy những tác động đáng kể của nhiệt độ cực đoan hoặc ô nhiễm không khí đến sự tham gia của lực lượng lao động nhưng các tác giả đã quan sát thấy nhiều tác động nhỏ nhưng đáng kể đến thời gian làm việc và thu nhập. Có thể giải thích hiện tượng này như thế nào ?
Cecilia Poggi : Nhìn chung, mọi người không nghỉ việc vì những thay đổi bất thường về thời tiết hoặc ô nhiễm. Do đó, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn ổn định.

Tuy nhiên, thực tế lại tế nhị hơn. Nắng nóng gay gắt hoặc một ngày ô nhiễm cao khiến khó có thể duy trì số giờ làm việc hoặc năng suất tương tự như bình thường. Điều này có thể được giải thích bởi những tác động đến sức khỏe, như mệt mỏi hoặc các vấn đề về hô hấp, hoặc chủ ý giảm tốc độ làm việc vì lý do an toàn.

Và chúng tôi chứng minh rằng việc làm vẫn còn, nhưng khả năng làm việc với năng suất tương đương có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là trong giai đoạn ô nhiễm nghiêm trọng hơn mức bình thường.

Ví dụ, chúng tôi nhận thấy rằng một ngày nắng nóng mỗi tháng làm giảm khoảng 0,5% giờ làm việc hàng tuần và 0,7% thu nhập hàng tháng. Và tác động này thậm chí còn rõ rệt hơn khi liên quan đến ô nhiễm : Tăng thêm một microgam trên một mét khối hạt mịn PM2.5 dẫn đến giảm 1% số giờ làm việc, tương ứng với việc bị mất 1 tiếng 45 phút mỗi tháng. Ô nhiễm cũng tác động đến thu nhập hàng tháng, theo đánh giá trong nghiên cứu của chúng tôi là 1,7%, khoảng 129.000 đồng/tháng, tương đương từ 3 đến 4% mức lương tối thiểu thấp nhất theo chuẩn 2023.

Xin lưu ý rằng hiện tại chúng tôi đang tiến hành bản phân tích thứ 10 để hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm, cũng như nhiệt độ khắc nghiệt đối với sức khỏe. Bài báo nghiên cứu thứ hai sẽ phân tích tác động đến chi phí y tế và tỷ lệ tử vong.

RFI : Trong nghiên cứu, bà và cộng sự cũng đề cập đến sự bất bình đẳng về tác động của ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan đối với người lao động. Tại sao lại có sự bất bình đẳng này ?
Cecilia Poggi : Không phải tất cả người lao động đều bị tác động như nhau, và nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng không phải tất cả đều có thể thích nghi như nhau. Cho nên xuất hiện sự bất bình đẳng trước những hiện tượng này.

Nghiên cứu cho thấy rằng người lao động thường xuyên phải làm việc theo giờ cố định không thể dễ dàng bù đắp số giờ bị mất, cho nên họ cảm nhận được tác động của ô nhiễm nhiều hơn so với những người lao động tự do vì những người này có thể phân bổ khối lượng công việc của họ trong nhiều ngày.

Một điều đáng quan tâm là những người lao động ngoài trời, mặc dù tiếp xúc nhiều hơn với hiện tượng biến đổi khí hậu, nhưng thực sự lại ít bị ảnh hưởng hơn khi họ tự kinh doanh, làm việc độc lập bởi vì họ có thể sắp xếp lại công việc của mình. Ví dụ trường hợp của những nông dân tự do ở nông thôn hoặc những người bán hàng rong ở thành phố. Ngược lại, khi nhân viên phải làm việc ở ngoài trời, ví dụ trong ngành xây dựng, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những tác động tiêu cực rõ rệt hơn nhiều.

RFI : Liệu có một vùng hoặc nhiều vùng ở Việt Nam bị tác động nặng hơn cả từ những hiện tượng ô nhiễm không khí và nhiệt độ cực đoan này ?
Cecilia Poggi : Để trả lời câu hỏi này, trước tiên tôi muốn nhắc lại rằng các vùng miền ở Việt Nam chịu mức độ ô nhiễm khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Một nghiên cứu bổ sung mà đồng tác giả là phó giáo sư Nguyễn Thị Nhật Thanh thuộc trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy có sự biến động mạnh mẽ theo vùng về cách tình trạng ô nhiễm biển đổi tùy thuộc vào thời tiết hoặc hiện tượng khí tượng.

Do đó câu trả lời không đơn giản như vậy, bởi vì, ví dụ, ở miền Bắc Việt Nam, những thay đổi về nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí về lâu dài, trong khi lượng mưa và tốc độ gió lại có tác động ngay lập tức trong việc thay đổi nó. Tuy nhiên, những tác động này không giống ở miền Nam Việt Nam, nơi tất cả các tác động có xu hướng xảy ra ngay lập tức.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng ở cấp độ quốc gia, các tác động xấu của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan và ô nhiễm đối với thời gian làm việc thể hiện rõ rệt ở khu vực thành thị hơn là khu vực nông thôn.

Tiếp theo, nếu gộp các khu vực thành vùng lớn như miền Nam, miền Trung hoặc miền Bắc, chúng ta cũng thấy rằng trong cả hai trường hợp, tác động của những ngày nắng nóng hoặc các đợt ô nhiễm ở miền Nam rõ rệt hơn so với miền Bắc hoặc miền Trung.

Và với những tác động này, chúng tôi khuyến nghị rằng các biện pháp đối phó, phòng ngừa nên được thực hiện tùy theo các khu vực và phải được thử nghiệm bởi các cơ quan chức năng, đặc biệt là về mặt bảo vệ việc làm trước những thách thức ô nhiễm.

RFI : Vậy, trước những hiện tượng này, các nhà nghiên cứu khuyến nghị chính phủ Việt Nam nên có những biện pháp nào để giải quyết ?
Cecilia Poggi : Dựa trên kết quả nghiên cứu, trước tiên cần xem xét việc bổ sung các cách thức liên quan tới sức khỏe và an toàn lao động. Việt Nam hiện đã lập giới hạn nhiệt độ đối với công việc trong nhà, nhưng chưa có tiêu chuẩn nào về chất lượng không khí tại nơi làm việc. Đây là một lĩnh vực mà Việt Nam có thể tham khảo từ các quốc gia đã đặt ra ngưỡng phơi nhiễm ô nhiễm không khí tại nơi làm việc.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách có thể thử nghiệm các giải pháp về công việc đặc thù để ứng phó với các đợt ô nhiễm cao, có tính đến đặc điểm công việc của người lao động. Ví dụ, đối với người lao động ở các khu vực đô thị bị ô nhiễm, chúng ta có thể phân tích chi tiết hơn xem liệu thời gian làm việc linh hoạt hoặc làm việc từ xa có thể vẫn cho phép duy trì năng suất trong những ngày ô nhiễm cao hay không.

Cuối cùng, để tiếp tục các chính sách về môi trường cũng cần giải quyết gốc rễ của ô nhiễm. Vì vậy, về lâu dài, việc tiếp tục thực hiện các chính sách môi trường đang triển khai sẽ góp phần cải thiện đời sống của mọi người với việc giảm phát thải, tăng cường giao thông công cộng bền vững và thêm không gian xanh. Bên cạnh đó cũng không được quên những thách thức quan trọng, ví dụ như cần hạn chế việc cứng hóa nền đất hay bê tông hóa quá mức trong quá trình đô thị hóa.

RFI : Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ chương trình GEMMES Việt Nam. Xin bà giải thích thêm về chương trình này và nghiên cứu của bà trong khuôn khổ chương trình !
Cecilia Poggi : GEMMES Việt Nam giai đoạn 2 là chương trình nghiên cứu ba năm do Cơ quan Phát triển Pháp - AFD tài trợ, phối hợp với Cục Biến đổi Khí hậu, bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và được triển khai với sự hợp tác của các chuyên gia và tổ chức khoa học, đại học Việt Nam. Trong giai đoạn 1, chương trình tập trung vào vấn đề khí hậu.

Giai đoạn 2 hiện nay hỗ trợ chính phủ thực hiện tham vọng trung hòa các-bon và đồng thời trở thành một quốc gia có thu nhập cao. Cụ thể hơn, chúng tôi có ba trục nghiên cứu. Trục đầu tiên tìm cách hiểu rõ hơn về các đợt nắng nóng cực đoan bằng cách nghiên cứu các mô hình khí hậu. Trục thứ hai xem xét các tác động kinh tế vĩ mô của quá trình chuyển đổi năng lượng. Trục thứ ba, trong đó có nghiên cứu mà chúng ta đang đề cập, xem xét cách biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi năng lượng tác động đến người dân, hay đúng hơn là các khía cạnh xã hội của những quá trình chuyển đổi này.

Chương trình này thực sự là một ví dụ về sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và các tác nhân công và cho thấy rằng nghiên cứu có thể hỗ trợ việc xác định và triển khai các chính sách công cho quá trình chuyển đổi sinh thái. Toàn bộ kết quả sẽ được hoàn thiện vào mùa hè 2026. Công chúng quan tâm có thể truy cập vào trang web của AFD, trên đó có một trang dành riêng cho chương trình GEMMES Việt Nam 2.

RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn kinh tế gia Cecilia Poggi, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD.

Thu Hằng

01/03/2025

Muốn đạt được quyền lợi của mình, các bạn công nhân cần đoàn kết lại. Xin xem video này nhé.

01/03/2025

Muốn đạt được quyền lợi của mình, các bạn công nhân cần đoàn kết lại để có sức mạnh. Hãy xem video này nhé

LUẬT CÔNG ĐOÀN (MỚI) CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG ĐỘC LẬPTác giả: T.K.TranLuật Công đoàn do chính Công đoà...
07/02/2025

LUẬT CÔNG ĐOÀN (MỚI) CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG ĐỘC LẬP
Tác giả: T.K.Tran

Luật Công đoàn do chính Công đoàn Việt Nam soạn thảo sửa đổi. Một số điều luật có khả năng ngăn chận sự phát triển của các tổ chức lao động độc lập cũng đã được ghi trong luật: Tài chính
của các tổ chức NLĐ tại DN sẽ bị giới hạn. Phê bình công đoàn có thể sẽ bị kết tội.

Luật Công đoàn (sửa đổi)2024 đã được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ngày 27/11/2024, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Theo các quan chức công đoàn, có 3 lý do chính yếu để phải sửa đổi Luật Công đoàn, đó là: bổ túc hoàn chỉnh, khắc phục những thiếu sót trong luật Công đoàn 2012, sửa đổi luật để bảo đảm tương thích với những bộ luật khác như bộ luật Lao động 2019 và để thích ứng với những điều ước quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại tự do.

Cơ quan soạn thảo luật Công đoàn 2024 là Công đoàn Việt Nam. Theo lời của các quan chức công đoàn thì việc sửa đổi luật kéo dài quãng 3 năm đã diễn ra kỹ lưỡng với nhiều hội thảo hội nghị để tham vấn. Đã có ít nhất là 4 bản dự thảo luật được đưa ra để thảo luận. Về phía chính phủ đã có tới 6 lần đưa ý kiến, việc mà theo các thông tin báo chí thì từ trước tới nay chưa từng xẩy ra. Việc sửa luật đã khó khăn như vậy có lẽ do luật phải đề cập tới những vấn đề mới mẻ, “nhạy cảm“, không có tiền lệ. Đó là những chương, điều lệ liên quan tới các tổ chức lao động độc lập gọi là “tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp“ (tổ chức của NLĐ tại DN). Thông thường - nhưng không chính xác - người ta gọi những tổ chức này là “công đoàn độc lập“.

“Tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp “ là gì?

Từ 4 năm nay Bộ luật Lao động 2019 đã cho phép thành lập những tổ chức lao động độc lập này, song trên thực tế chính phủ VN tới nay vẫn trì hoãn, không ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành luật, nên tới nay chưa có bất cứ tổ chức lao động độc lập nào được thành lập hợp pháp.

Một cách tóm tắt: Tổ chức của NLĐ tại DN là những tổ chức lao động độc lập nằm ngoài Công đoàn Việt Nam, bình đẳng với công đoàn cơ sở (đơn vị nhỏ nhất của công đoàn). Khác với công đoàn nhà nước hiện tại, vốn là một tổ chức chính trị-xã hội của đảng CSVN, các tổ chức của NLĐ tại DN hoạt động thuần túy trong lãnh vực lao động, không có những mục tiêu chính trị.

Luật Công đoàn 2024 tác động vào tài chánh của những tổ chức lao động độc lập như thế nào?

Luật Công đoàn 2024 có tất cả 37 điều, nội dung chính yếu liên quan tới tổ chức, hoạt động, quyền, trách nhiệm của công đoàn, đoàn viên công đoàn… . Tuy chưa được thành lập, song các tổ chức lao động độc lập cũng sẽ phải chịu sự chi phối của luật công đoàn về một khía cạnh quan trọng nhất nhì của mọi tổ chức. Đó là khía cạnh tài chánh.

Đối với tổ chức công đoàn nhà nước (Công đoàn Việt Nam) thì quỹ tài chánh đến từ 4 nguồn:

- Đoàn phí do đoàn viên công đoàn đóng góp. Hiện nay là 1% tiền lương mà đoàn viên phải trích ra từ tiền lương của họ.
- Kinh phí công đoàn, đó là phí tổn mà chủ doanh nghiệp phải nộp cho công đoàn. Tiền này lấy ra từ lợi nhuận của doanh nghiệp, hiện nay theo quy định của luật là tương đương với 2% tiền lương của người lao động. Chủ doanh nghiệp phải đóng tiền này bất kể doanh nghiệp có hay không có công đoàn hay tổ chức lao động độc lập.
- Nguồn tài trợ của chính phủ lấy ra từ ngân sách nhà nước.
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động văn hóa, thể thao hay từ nguồn tài trợ hợp pháp.

Nguồn tiền từ kinh phí công đoàn rất quan trọng, chiếm tới 60-70% tổng số tài chính của công đoàn.

Nguồn tiền này sẽ phải chia bớt cho các tổ chức lao động độc lập khi những tổ chức này hoạt động.

Kinh phí công đoàn đã là đề tài được quan tâm nhiều nhất trong các cuộc thảo luận về sửa đổi luật công đoàn. Về việc phân phối kinh phí công đoàn, các dự thảo đầu tiên từ năm 2021 đã đưa ra
phương án là công đoàn cấp trên được 25% kinh phí công đoàn, 75% còn lại chia cho công đoàn cơ sở và các tổ chức lao động độc lập theo một tỷ lệ nhất định. Một phương án khác không ghi việc phân phối trong luật mà giao cho chính phủ quy định sau này (2).
Tuy nhiên Luật Công đoàn 2024 lại cho phép Công đoàn toàn quyền phân phối kinh phí công đoàn (điều 31, khoản 4), mở đường cho các quan chức công đoàn có thể linh động gia giảm tùy ý phần tài chánh sẽ phải dành cho các tổ chức lao động độc lập.

Như vậy là các tổ chức lao động độc lập có thể sẽ phải đối mặt với một bất công được pháp luật che chở. Một bất công mà các quan chức công đoàn gọi là làm luật “linh hoạt“, “theo hướng mở“, “sự mở là đổi mới lớn trong tư duy làm luật“… (3).

Luật Công đoàn 2024 tác động vào hoạt động của các tổ chức lao động độc lập như thế nào?

Một trong những sửa đổi quan trọng nhất của Luật Công đoàn 2024 là điều khoản về những hành vi bị nghiêm cấm (điều 10). So sánh với Luật Công đoàn 2012 thì điều khoản này gia tăng gấp đôi, từ 4 lên tới 8 hành vi nghiêm cấm. Trong đó đáng chú ý là khoản 7 với nội dung như sau: “Lợi dụng quyền công đoàn để vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân“, và khoản 8: “Thông tin không đúng sự thật, kích động, xuyên tạc, phỉ báng về tổ chức và hoạt động công đoàn“.

Theo đó, Luật Công đoàn có những điều khoản cho phép trấn áp những tiếng nói lao động đối lập.

Phê phán công đoàn có thể sẽ bị ghép tội tương tự như nhà nước dùng điều 331 Bộ luật hình sự 2015 để bắt giam những nhà bất đồng chính kiến hay giải thể những tổ chức xã hội dân sự với cáo
buộc “hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước…“.

Luật Công đoàn 2024 đã được Quốc hội thông qua. Bao giờ có Nghị định cho phép thành lập các tổ chức lao động độc lập?

Khi buộc phải giải trình lý do tại sao nhà nước trì hoãn việc ban hành Nghị định hướng dẫn việc thành lập các tổ chức lao động độc lập, các quan chức VN thường nêu lý do là cần phải sửa đổi luật Công đoàn trước đó.

Điển hình là phát biểu của ông Ngô Hoàng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Lao Động-Thương Binh&Xã Hội) trong cuộc họp trực tuyến với Bộ Lao động Hoa kỳ ngày 15/11/2023 như sau: “Việc ban hành Nghị định mất nhiều thời gian hơn so với dự kiến là do Nghị định…có nhiều nội dung mới, phức tạp, lần đầu tiên được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam nên cần có quá trình nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng sao cho vừa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của quan hệ lao động của Việt Nam. …Nghị định có một số nội dung liên quan đến Luật Công đoàn trong khi Luật Công đoàn cũng đang trong quá trình xem xét để sửa đổi, bổ sung nên cần có sự phối hợp, điều phối bảo đảm sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật“(4).

Hiện nay Luật Công đoàn do chính Công đoàn Việt Nam soạn thảo sửa đổi. Một số điều luật có khả năng ngăn chận sự phát triển của các tổ chức lao động độc lập cũng đã được ghi trong luật: Tài chính của các tổ chức NLĐ tại DN sẽ bị giới hạn. Phê bình công đoàn có thể sẽ bị tội. Quốc hội cũng đã thông qua luật không công bằng này.

Mặc dù vậy, cho tới nay vẫn chưa có dấu hiệu gì cho thấy nhà nước sẽ sớm ban hành Nghị định hướng dẫn việc thành lập những tổ chức lao động độc lập.

THAM KHẢO
(1) https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/chinh-sach-moi/76673/da-co-luat-cong-doan-2024-thay-the-luat-cong-doan-2012
(2) https://vanbanphapluat.co/luat-cong-doan-sua-doi
(3) https://laodongcongdoan.vn/tap-chi-in/lao-dong-va-cong-doan-thang-11-nam-2024.paper ,trang 2
(4) https://tapchilaodongxahoi.vn/doi-thoai-lao-dong-viet-nam-hoa-ky-gop-phan-lam-sau-sac-hon-nua-quan-he-doi-tac-chien-luoc-toan-dien-giua-hai-nuoc-1329529.html

Dự thảo Luật Việc làm: Người lao động sẽ không được trợ cấp thất nghiệp khi bị sa thảiRFA2024.12.03Dự thảo Luật Việc làm...
03/12/2024

Dự thảo Luật Việc làm: Người lao động sẽ không được trợ cấp thất nghiệp khi bị sa thải
RFA
2024.12.03

Dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) đang lấy ý kiến của người dân có thêm quy định người lao động bị sa thải hoặc bị buộc thôi việc không được nhận trợ cấp thất nghiệp dù bảo hiểm thất nghiệp được trích từ chính tiền lương của họ.

Theo bản dự thảo được các Đại biểu Quốc hội bàn thảo hồi cuối tháng 11, người lao động bị sa thải theo pháp luật về lao động hoặc bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo pháp luật về viên chức sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Luật Việc làm 2013 quy định người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp tối đa bằng 1% tiền lương tháng; người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Quy định về mức đóng bảo hiểm này vẫn được giữ nguyên trong dự thảo mới.

Một nhân viên kế toán của một công ty tư nhân ở Hà Nội cho rằng việc người lao động bị sa thải nhưng không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp do chính mình đóng là chuyện bất hợp lý. Bà nói với RFA trong điều kiện ẩn danh vì lý do an toàn:

“Nếu không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp, tôi có thể sử dụng số tiền đó gửi tiết kiệm và sử dụng khi khó khăn như mất việc làm.”

Một luật sư trong nước cũng không nêu danh tính để bình luận thoải mái cho biết, theo Bộ luật Lao động năm 2019, ngoài những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc gây hại cho người sử dụng lao động, người lao động có thể bị sa thải vì vi phạm nội quy lao động hoặc lỗi vi phạm hành chính.

Theo ông, nếu chỉ vì những hành vi không nghiêm trọng mà người lao động lại bị tước quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp thì sẽ không phù hợp cả về lý và về tình, gây khó khăn khi họ đã bị mất việc làm kèm theo mất thu nhập.

Nhà hoạt động công đoàn Nguyễn Tiến Trung từ Đức nói rằng quy định mới là “trò lập lờ đánh lận con đen, vì tiền của người lao động đóng vào chứ có phải của Đảng Cộng sản cho người lao động đâu mà họ có quyền tước đoạt!”. Ông nói:

“Theo tôi, quy định mới người lao động bị sa thải không được nhận trợ cấp thất nghiệp nhằm mục đích ngăn công nhân đình công ‘tự phát’ hoặc tham gia nghiệp đoàn độc lập.

Những công nhân làm như vậy bị sa thải và sẽ không có lương, đó là một cách để khống chế người lao động.”

Bị sa thải không được hưởng trợ cấp thất nghiệp là bất hợp lýNhật Dương, VnEconomyDự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) đã bổ ...
02/12/2024

Bị sa thải không được hưởng trợ cấp thất nghiệp là bất hợp lý
Nhật Dương, VnEconomy

Dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) đã bổ sung trường hợp người lao động bị sa thải, bị xử lý kỷ luật, buộc thôi việc sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp, dù trước đó họ đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong suốt thời gian làm việc…

Góp ý vào dự án Luật, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng quy định này cần xem xét kỹ, vì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người lao động.

CẦN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC CÓ ĐÓNG, CÓ HƯỞNG
Đại biểu Phạm Văn Hòa, đoàn tỉnh Đồng Tháp, đánh giá quy định như vậy là bất công đối với người lao động. Ví dụ trường hợp vi phạm pháp luật, bị đuổi việc, bị sa thải hoặc lý do khác trong doanh nghiệp, nhưng người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm thất nghiệp, thì tiền của họ đã đóng vào mà không cho hưởng là bất hợp lý.

“Những trường hợp này nếu không cho hưởng, người lao động thất nghiệp sẽ rất khó khăn vì không có chế độ trợ cấp. Tôi đề nghị quy định có đóng có hưởng, dù bất cứ trường hợp nào”, đại biểu Phạm Văn Hòa nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Hoàng Bảo Trân, đoàn tỉnh Bình Dương, cho rằng trên thực tế nhiều trường hợp người lao động đóng đầy đủ bảo hiểm thất nghiệp nhưng không thể hưởng vì lý do bất khả kháng, phải đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không thể báo trước theo quy định. Hoặc đôi khi người lao động vi phạm kỷ luật không hoàn toàn xuất phát từ lỗi cá nhân, mà từ áp lực hoặc nhiều điều kiện làm việc bất công, dẫn đến mất cân bằng quyền lợi.

Do đó, đại biểu kiến nghị Ban soạn thảo cần xem xét, quy định về điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp đảm bảo theo nguyên tắc có đóng, có hưởng nhằm cân bằng, hài hòa quyền lợi của người lao động khi thất nghiệp, nhất là trong các trường hợp bất khả kháng.

Kèm theo đó, người lao động phải chứng minh được lý do chính đáng khi đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc vi phạm quy định. Đồng thời, áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh, thay vì cấm đoán hoàn toàn. Chỉ nên loại trừ hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với các trường hợp có hành vi vi phạm nghiêm trọng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp.

Về vấn đề này, đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh, đoàn tỉnh Quảng Nam đề nghị cần cho phép người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đầy đủ bằng chứng về việc bị từ chối việc làm, vì lý do đã bị sa thải, buộc thôi việc ở doanh nghiệp, đơn vị trước đó.

“Thực tế, người lao động bị sa thải rất khó tìm việc làm mới, do người sử dụng lao động mới coi sa thải như một lý lịch không tốt để từ chối họ vào làm việc. Bên cạnh đó, cần có quy định hoặc cơ chế kiểm soát phù hợp, để tránh phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động liên quan đến vấn đề người lao động đã bị sa thải, buộc thôi việc trước đó”, đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh góp ý.

Đại biểu Nguyễn Thị Hà, đoàn Bắc Ninh, cũng cho rằng quy định như dự thảo Luật vô hình chung tước bỏ quyền lợi của những lao động đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, và đi ngược với nguyên tắc đóng - hưởng của bảo hiểm xã hội.

“Quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp là sự đảm bảo khi người lao động mất việc làm, giúp họ ổn định cuộc sống trong thời gian chuyển tiếp sang công việc mới. Nếu quy định này không được điều chỉnh thì một bộ phận lao động sẽ chịu thiệt thòi, đặc biệt là những người đã đóng bảo hiểm đầy đủ nhưng lại không được hưởng những lợi ích thiết yếu khi gặp khó khăn”, đại biểu Nguyễn Thị Hà nêu quan điểm.

Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc bỏ quy định trên trong dự thảo Luật, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động. Điều này sẽ duy trì tính công bằng, minh bạch trong chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời củng cố niềm tin của người lao động với hệ thống an sinh xã hội.

CÂN NHẮC QUY ĐỊNH ĐÓNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TRÊN 144 THÁNG KHÔNG ĐƯỢC BẢO LƯU
Liên quan đến quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp, các đại biểu cũng còn nhiều băn khoăn về quy định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng không được bảo lưu, để tính hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo (Điều 60 dự thảo Luật).

Đại biểu Nguyễn Thị Như Ý, đoàn tỉnh Đồng Nai, đánh giá việc này không đảm bảo công bằng theo nguyên tắc có đóng, có hưởng. Vì vậy, đại biểu đề nghị đối với những trường hợp đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng cần được bảo lưu, để bảo đảm quyền lợi cho những lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo nếu có.

Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã được thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 quy định về điều kiện hưởng lương hưu là 15 năm. Nên trong trường hợp này, người lao động tham gia 144 tháng, nghỉ hưởng bảo hiểm thất nghiệp và hưởng bảo hiểm xã hội một lần, sau đó quay trở lại thị trường lao động thì vẫn bảo đảm điều kiện nghỉ hưởng lương hưu, có thể dễ dẫn đến làn sóng nghỉ việc.

Còn theo đại biểu Nguyễn Thị Hà, đoàn Bắc Ninh, quy định như vậy sẽ tiềm ẩn nhiều hệ lụy, vừa gây thiệt thòi cho người lao động, vừa làm suy yếu chính sách an sinh xã hội.

“Người lao động khi đạt ngưỡng 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp có thể chọn nghỉ việc để không lãng phí quyền lợi, dẫn đến tình trạng làm đủ rồi nghỉ, làm suy giảm tính ổn định của thị trường lao động, gây mất mát nguồn nhân lực có kinh nghiệm và ảnh hưởng đến doanh nghiệp”, đại biểu lo ngại.

Đồng thời, với quy định này cũng sẽ có nguy cơ khuyến khích rút bảo hiểm xã hội một lần, khi người lao động không còn động lực để gắn bó với hệ thống bảo hiểm lâu dài.

Ngoài ra, tình trạng nghỉ việc giả giữa người lao động và doanh nghiệp để trục lợi chính sách trợ cấp thất nghiệp cũng có thể gia tăng, dẫn đến thất thoát quỹ và mất cân đối nguồn lực, làm tổn hại tới quyền lợi của những người thực sự cần trợ cấp.

Góp ý thêm, đại biểu Chamaléa Thị Thủy, đoàn tỉnh Ninh Thuận cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần rà soát, nghiên cứu lại, vì quy định như dự thảo luật sẽ gây thiệt thòi cho người có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dài hơn 144 tháng.

Theo đại biểu, nên điều chỉnh theo hướng người lao động được hưởng bảo hiểm thất nghiệp tương đương với thời gian đã đóng. Nghĩa là, đóng đủ 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp.

Nếu vẫn giữ quy định là đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm một tháng trợ cấp thất nghiệp, nhưng tối đa không quá 12 tháng, thì cần quy định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng sẽ được bảo lưu, để tính hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo.

Đại biểu nhấn mạnh quy định như vậy sẽ đảm bảo tối đa quyền lợi chính đáng của người đóng bảo hiểm thất nghiệp, là có đóng có hưởng một cách tương xứng. Đây cũng là một trong những vấn đề mà người lao động đang rất quan tâm, vì ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, nhất là những người bị thất nghiệp và đang gặp khó khăn.

Address

Sài Gòn

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Nghiệp Đoàn Độc Lập Việt Nam:

Share

Category