VÕ BÌNH ĐỊNH

16/10/2015

Tấn pháp là phương pháp luyện tập đôi chân và di chuyển theo hướng của nguyên lý bát quái. Bát quái tượng trưng cho tám quẻ, theo tám hướng và tám con vật. Trong tấn pháp gồm có 9 bộ là: Long tấn, Xà tấn, Kim kê tấn, Hồi phụng tấn, Hồng Hổ tấn, Bạch Hạc tấn, Hắc Hầu tấn, Lạc Nhạn tấn và Trung bình tấn. Trong phần trước, chúng tôi đã giới thiệu về Long tấn, Xà tấn, nay xin tiếp tục giới thiệu các phần còn lại.
+ Phụng tấn
Cấn khúc quyển Đông Bắc, Hồi Phụng, hướng Cấn gạch dưới nguyên, Đông Bắc phụng tấn về.
Bài Phụng hoàng quyền:
Phi Phụng tề my - Ngư hồi lưu thủy
Phụ tử tương tùy - Phục hổ xưng phong
Thiền sư tống khách - Tiên ông tọa thạch
Bạch điểu quá hà - Phù hoa cái dực
Tạm dịch nghĩa:
Phụng bay ngàn mây - Cá theo nước chảy
Cha con theo nhau - Cọp núp gió xoáy
Thầy chùa tiễn khách - Tiên ông ngồi trên đá
Chim trắng qua sông - Bông nổi trùm cành
Tư thế chuẩn bị: Hai tay xòe ra, bốn ngón tay khép lại, ngón tay cái cong vào lòng bàn tay. Hơi hạ người, trọng tâm dồn xuống chân phải. Đưa bàn chân trái ngửa lên trên về phía phải. Bàn chân trái cao ngang tầm đầu gối chân phải. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
+ Kê tấn: Ngựa kim kê
Chấn ngưỡng bổn chính Đông, kim kê. Hướng Chấn, gạch trên nguyên, chánh Đông tấn gà vàng.
Bài kim kê quyền:
Kim kê độc lập - Đại bàng triển dực
Phản đả song chùy - Phi long chiến gốc (giác)
Xung thiên phạt mộc - Khước hổ tấn khai
Huỳnh ngư đảo hải - Thiết đả mai vân
Tạm dịch nghĩa:
Gà vàng đứng một mình - Đại bàng xòe cánh
Đánh ngược hai chùy - Rồng bay húc sừng
Hướng trời chặt cây - Mở tới móng cọp
Cá vàng lượng biển - Sét đánh mây hoa
Tư thế chuẩn bị: Hạ người thấp xuống. Chân phải bước lên trước, mũi bàn chân chạm đất. Chân trái đưa về sau, trọng tâm dồn lên chân trái, đầu gối khuỵu. Hai tay đưa ra trước, bàn tay phải cao bằng mí mắt, tay trái ngang vai. Mắt nhìn thẳng phía trước.
+ Nhạn tấn:
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái để trước, kéo đầu gối trái lên và nhảy qua phía trái. Chân trái vừa chạm đất, kéo gối phải lên. Đồng thời đánh thốc cú tay phải lên hướng trước mặt. Ngồi xuống, bàn chân phải kê đúng vào mông phải. Chân trái khuỵu. Tay phải đè lên đầu gối chân trái cao ngang vai, bàn tay ngửa xoay ra trước. Tay trái để nguyên ngang hông trái. Trọng tâm dồn về chân phải. Mắt nhìn về trước.
Tốn hạ đoạn Đông Nam lạc nhạn. Hướng Tốn gạch ngoài cách quãng; Đông Nam tấn nhạn đáp
Bài lạc nhạn quyền:
Lạc nhạn bình sa, ứng trảo quyền
Song long tưởng nguyệt, lập trung thiên
Chuyển thân nghịch cước, kim tiêu cước
Lảo hổ hoành sơn, tảo trực tiền
Tạm dịch nghĩa:
Nhạn đáp cát bằng đường quyền, móng chim ưng
Hai rồng nghịch trăng đứng giữa trời
Trở mình đá nghịch ngọn đá mũi tên vàng
Cọp già ngang núi, quét thẳng phía trước
+ Hạc tấn:
Ly trung hư chính nam bạch hạc
Hướng ly gạch giữa cách quãng
Chính nam, tấn hạc trắng
Tư thế chuẩn bị: Xoay bả vai trước. Chân trái bước chéo qua phải, kéo đầu gối chân phải lên ngang ngực. Từ đầu gối đến ngón chân tạo thành một góc vuông 90 độ. Cẳng chân và bàn chân thẳng.
Tay phải đưa lên cao vòng xuống nửa thân gạt sang phải. Tay trái đưa lên cao hướng trước, bàn tay ngửa hướng trước, mắt nhìn thẳng.
Bài hạc quyền:
Bạch hạc tầm châu - Song phi quyển dực
Mãnh hổ ly sơn - Đơn hồi tam chiến
Thảo đả thông thiên - Ô quy thối bộ
Khẩn phá tam linh - Trung bình đảo thế
Tạm dịch nghĩa:
Hạc trắng tìm báu vật - Hai đá bay cuộn cánh
Cọp mạnh xuống núi - Về một đá ba
Đánh thẳng lên trời - Rùa đen lùi bước
Chạm phá ba sao - Trở thế trung bình
+ Hổ tấn:
Khôn tam đoạn Tây Nam hồng hổ
Hướng Khôn ba gạch đứt
Tây nam tấn cọp hồng
Tư thế chuẩn bị: Xoay vai trái về trước, tiến chân trái về trước, rộng bằng vai. Xoay hai bàn chân song song về hướng tay phải. Mắt nhìn sang trái, hạ người xuống, đồng thời đưa tay trái gạt vòng lên trước mặt. Ngừng cú tay ngang tầm mắt, tay phải gạt vung hạ bộ. Cú tay chém mạnh xuống gần bắp đùi phải. Trọng tâm cơ thể hơi dồn về chân trái.
Bài hổ quyền:
Hồng hồ khai sơn thiếc chỉ quyền.. quá hải phản dương tiên
Ô vân cái nguyệt câu hôn cước
Hắc hổ ly sơn thối ngũ liên
Tạm dịch nghĩa:
Cọp hồng mở núi đường quyền ngón sắc.. qua biển đánh lật hướng dương
Mây đen phủ trắng đá vàng ở hướng âm
Cọp đen lìa núi lui bộ năm lần
+ Hầu tấn:
Đoài thượng khuyết chính tây, hắc hẩu, Hương Đoài gạch trên đứt quãng, chính Tây. Tấn khỉ đen.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng trên ngựa.
Trung bình tấn. Kéo đầu gối trái lên cao ngang tầm ngực song song với thân mình (thẳng đứng). Cùng lúc đưa hai tay ra trước khuỵu, hai bàn tay nắm nghiêng cao mang tai. Trọng tâm dồn lên chân phải, mắt nhìn thẳng.
Bài hầu quyền:
Hắc hầu đoạt quả, bằng phi cước
Lưỡng hổ tung sơn, đả phản âm
Thoái bộ kim thương, miêu tẩy diện
Âm long để hải, hổ du tâm
Tạm dịch nghĩa:
Khỉ đen đá trái, chim bằng đá bay
Hai cọp đạp núi, đánh ngược hướng âm
Lui bộ thương vàng, mèo rửa mặt
Rồng núi đáy biển, cọp vui lòng
+ Trung bình tấn:
Trung bình tấn là bộ ngựa không di động, làm trụ di chuyển theo yêu cầu của bộ tay. Trụ có vững là tạo điều kiện tốt cho bộ tay hoạt động.
Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng, từng bước mở rộng hai bàn chân bằng vai, hai bàn chân song song, mũi bàn chân hướng trước. Khuỵu gối xuống, lưng thẳng. Hai tay cong, bàn tay nắm để ngang hông, mắt nhìn thẳng.
Theo đồ hình bát quái, võ cổ truyền Bình Định có 9 bộ chân (ngựa). Mỗi bộ chân tượng trưng cho một con vật, mỗi con vật có một hướng cố định và mỗi con vật lại kèm theo một bài quyền. Nhưng trong thực tế võ cổ truyền Bình Định thường sử dụng 4 bộ ngựa: Trung bình tấn, Đinh tấn, Chảo mã tấn và Kim kê tấn. Điều đó rút ra từ trong bát quái pháp, được đơn giản hóa để dễ dàng sử dụng trong khâu huấn luyện ở trình độ thấp. Trong mỗi bài quyền, bộ ngựa thay đổi nhau liên tục tùy theo yêu cầu cấu tạo của bài. Bài quyền càng phức tạp, thì bộ ngựa càng di chuyển thay đổi liên tục từ ngựa này sang ngựa khác. Ví dụ: "Túc bất ly địa" không có nghĩa là chân không bao giờ rời đất, mà di chuyển nhẹ nhàng trên mặt đất để di chuyển thay đổi ngựa này với ngựa khác. "Túc bất ly địa" còn có nghĩa là chân đá ra đòn rất nguy hiểm, chủ yếu đá vào bộ hạ, vùng ngực, bụng và hai bên sườn của đối phương.

16/10/2015

Tiều phu đả hổ
Gần 200 năm trước ở khu vực Núi Bà, huyện Phù Cát, Bình Định, có xuất hiện một con cọp 3 chân "thành tinh" hung dữ, đã ăn thịt nhiều người dân.
Bữa nọ, có một ông tiều phu đốn củi rất giỏi võ, đang gánh củi về lúc trời xẩm tối thì bị con cọp này nhảy tới vồ. Ông lão rút cây đòn xóc (nhọn 2 đầu) làm vũ khí chiến đấu với hổ nhiều giờ trong hang núi. Sau đó, con cọp hung dữ kia bị thương chạy mất không thấy trở lại nữa. Ông tiều cũng thương tích đầy mình.
Ông tiều phu giỏi võ ngày ấy đã tự ghi chép lại những thế mãnh hổ đã dùng, hệ thống lại thành bài và sáng tác ra bài "Quyền 3 chân hổ".
Không ai nhớ ông tiều ấy tên gì, nhưng dân làng quanh khu vực Núi Bà (nơi có rất nhiều cọp, tới ngày giải phóng vẫn còn) rất biết ơn ông vì nhờ bài quyền mà họ thoát hiểm khi đụng cọp dữ.
Võ sư Hà Trọng Sơn đã may mắn học được bài quyền ấy và truyền đạt lại cho võ sư Hà Trọng Ngự.
Bài quyền ấy có lời thiệu: "Tả hữu, diện tiền bái tổ sư/ Chúa sơn lâm vung đôi hổ trảo/ Vờn bóng nguyệt, đảo sơn di hải/ Phá âm dương, xoay chuyển càn khôn/ Đảo sơn cước, tiền môn phá trận/ Chuyển bàn long, trá tẩu ẩn hình/ Vươn oai hổ ba chân đả diện/ Vuốt sơn lâm, tả hữu vờn mồi/ Tung thiết trảo đảo sơn tọa thạch/ Tấn song phi, trấn bộ lưỡng biên/ Vồ tam thế, hồi quy hạc tập/ Đảo lưỡng quyền lập bộ như tiền".
Khổ luyện
Trong quá trình huấn luyện võ công cho võ sư Hà Trọng Ngự, "Hùm xám miền Trung" Hà Trọng Sơn đã chỉ sơ qua cho Ngự những nét cơ bản về "Quyền 3 chân hổ".
Mãi tới năm võ sư Ngự được 39 tuổi và dạy võ ở Quy Nhơn thì "hùm xám" xuống thăm và kiểm tra thấy Ngự đã nhuần nhuyễn những nét cơ bản ấy, ông mới dốc lòng truyền dạy. Một tháng ròng rã võ sư Ngự mới học xong.
Ông Sơn bắt Ngự dùng sạn đổ vào một cái chảo to, có hòa lẫn thuốc võ vào rồi bắc trên lửa xào nóng. Kế đó Ngự phải luyện hổ trảo bằng cách dùng hai tay bấu, hốt cho tay chai lại, có độ cứng... Ấy cũng bởi vũ khí của hổ là vuốt. Chụp được mồi, xé mồi, cắn mồi được cũng chính là vuốt.
Bên cạnh đó phải luyện tấn pháp thật vững vàng. Tất cả đều phải tuân thủ theo quy ước: "Song thủ ngũ hành vi căn bản/ Lưỡng túc bát quái vi căn" (Tập tay phải lấy ngũ hành (kim mộc, thủy, hỏa, thổ) làm căn bản, còn tập tấn dùng 2 chân, phải lấy bát quái làm căn bản).
Thời "Hùm xám" tập luyện thường ngâm mình trong thuốc mã tiền đựng trong một cái lu lớn. Thuốc hiếm nên võ sư Ngự dùng thùng đạn ngâm thuốc rồi đút 2 chân, 2 tay vào thùng, sau đó thoa thường xuyên. Khi tay đã chai cứng phải chụp vô thân cây chuối, vào bao cát, lốp bánh xe để tay thêm sắc bén.
Muốn thân pháp nhún nhảy như hổ thì phải đào một cái hố có chu vi 1m2, sâu tùy mức độ (bằng ngực, nách). Nhảy cao bao nhiêu thì hố càng sâu hơn. Khi nhảy cao được rồi, phải cột 2 vật nặng vào 2 chân, khi xưa là cát, bây giờ là chì. Đầu tiên trọng lượng vật nhẹ, khi nhảy lên cao thì tăng lên, nặng nhất là mỗi chân phải mang 10kg. Sau khi luyện thành công thì võ sĩ đó có thể nhảy cao đến 2m.
Trong số những võ sĩ đẳng cấp học bài quyền này, ngoại trừ em ruột - cũng là đệ tử của võ sư Hà Trọng Ngự là võ sư Hà Trọng Khánh thì chỉ có con trai của võ sư Ngự là Hà Trọng Kha Vy (28 tuổi) tập thành công bài quyền này. Anh cũng là người kế nghiệp võ của võ sư Hà Trọng Ngự.

23/06/2015

Bình Định luôn gợi trong trí mỗi người dân Việt Nam ấn tượng sâu sắc về một vùng đất giàu truyền thống thượng võ, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử vàng của dân tộc. Trên mảnh đất này, từ lâu, võ cổ truyền đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng tham gia luyện tập.
* Trường tồn cùng thời gian
Người Bình Định vốn mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo, nhân ái, kiên cường, dũng cảm và đặc biệt rất khảng khái, hào hiệp. Chính phẩm chất tuyệt vời đó đã hun đúc nên tinh thần thượng võ. Võ cổ truyền Bình Định xuất hiện từ rất lâu. Nhưng trước thời Tây Sơn (khoảng năm 1600), môn võ này còn ở dạng sơ khai. Chỉ đến thời Tây Sơn, võ cổ truyền Bình Định mới phát huy được những tinh hoa. Cùng với sự hưng thịnh của triều đại Tây Sơn, nó đã được xây dựng thành hệ thống võ học, đưa vào hệ thống thi cử, đào tạo tướng sĩ. Đặc biệt, được nghiên cứu và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự phục vụ chiến trường. Thời ấy, ở Bình Định, nơi đâu cũng thấy xuất hiện những trường dạy võ. Võ cổ truyền Bình Định thời Tây Sơn hội tụ những tinh hoa giữa các dòng võ, môn phái khác nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp, chắt lọc tìm ra cái tinh túy nhất để bồi đắp, bổ sung vào kho tàng võ học chân truyền của dân tộc. Đó là kết quả của sự giao lưu, hòa nhập giữa các dòng võ và quy tụ nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan, võ sư nổi tiếng.
Võ cổ truyền Bình Định luôn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Chính sức mạnh bất diệt đó đã giúp cho võ cổ truyền Bình Định trường tồn cùng với thời gian. Mặc dù, sau khi Tây Sơn suy thoái, Nguyễn Ánh đã tìm mọi cách để tiêu diệt mọi thành quả của nhà Tây Sơn, nhưng với sức mạnh lâu đời, võ cổ truyền vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Nó vẫn được bí mật truyền dạy trong các nhà chùa hoặc các bìa rừng. Đặc biệt, vẫn được nhiều người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, lưu truyền sử sách cho con cháu mai sau. Nửa đầu thế kỷ XIX, sự du nhập mạnh mẽ các dòng võ nước ngoài vào Việt Nam vẫn không làm mai một những tinh hoa vốn có của võ cổ truyền Bình Định. Trải qua bao biến cố thăng trầm, ngày nay, võ cổ truyền vẫn giữ được những nét đẹp độc đáo riêng.
* Hội tụ những tinh hoa
Ngày nay, võ cổ truyền đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định. Luyện tập võ nghệ đã trở thành một phong trào thu hút đông đảo quần chúng. Không chỉ có nam nhi; mà cả phái yếu cũng tham gia rèn luyện. Mỗi năm một lần, Sở TDTT Bình Định đều tổ chức giải vô địch các CLB võ cổ truyền trong toàn tỉnh. Giải vô địch hàng năm, đã thực sự trở thành ngày hội tôn vinh những võ sĩ, võ đường nổi tiếng. Người dân Bình Định hăng say luyện tập, bởi võ cổ truyền không chỉ là môn thể thao nâng cao sức khỏe, khai thông tinh thần, mà còn vì nó là "vật gia bảo truyền quý giá" của ông cha để lại.
Người Việt Nam dù đi đâu xa vẫn nhớ về cội nguồn, tổ tiên, tự hào về một dân tộc anh hùng với bao võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống thượng võ hào hùng chống giặc ngoại xâm. Với bốn nội dung cơ bản: Luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần, võ cổ truyền Bình Định đã thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu giữa bên trong với bên ngoài.
Tinh thần nhân bản của võ cổ truyền Bình Định được thể hiện rõ nét ở truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa. Đó là truyền thống quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân đất võ. Ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi gặp gian nguy. Người có võ công càng cao, thì đức lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo.
Luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp phát triển nền võ học chân truyền, cả quá khứ, hiện tại và tương lai là bản chất cốt lõi của võ cổ truyền Bình Định. Chính mục đích cao cả đó, đã góp phần làm nên nét đẹp toàn diện của con người, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Sở TDTT Bình Định đã có cả một công trình khoa học nghiên cứu về nguồn gốc và đặc trưng của võ cổ truyền, nhằm gìn giữ, tôn vinh, phát huy những thế mạnh vốn có của một môn thể thao giàu truyền thống dân tộc.

23/06/2015

Trong các bộ môn về quyền thuật của võ cổ truyền Bình Định, không thể không đề cập đến bài quyền "Ngọc Trản" bởi lẽ đây là "bài ruột" mang đầy đủ các yếu tố cơ bản và là một trong những bài chính thống, tiêu biểu, được tất cả các môn phái trong tỉnh truyền dạy và phổ biến rộng rãi trong nhân dân từ xưa đến nay.

Bài quyền Ngọc Trản có lối đánh công phu, toàn diện, kín đáo, chắc đòn, kết hợp nhu cương đúng lúc, đúng chỗ. Lại có những thế né tránh, phản đòn rất lợi hại. Di chuyển nhẹ nhàng, nhanh nhạy, linh hoạt, khi trụ ngựa và ra đòn thì vững chắc và mạnh.
Bộ tay ra đòn mạnh, nhanh, chính xác, có lúc vờ như thủ để đánh lừa đối phương, hay dụ đối phương với thế vây hãm để tiêu diệt theo dạng "Hư hư thực thực".
Đặc biệt vừa qua, Ban nghiên cứu (Sở TDTT Bình Định) cũng đã phát hiện một số tư liệu cổ đều có ghi tên bài thiệu về quyền "Ngọc Trản". Để góp phần làm sáng tỏ và đi đến thống nhất tên gọi, lời thiệu với từng động tác một cách chuẩn xác hơn, chúng tôi xin giới thiệu cụ thể bài quyền Ngọc Trản.
Qua bài thiệu cổ mới phát hiện của bài Ngọc Trản, ta nhận thấy tính liên hoàn âm-dương được xuyên suốt.
Ví dụ như: Hoành Tả, Tọa, Bạch xà lan hổ.
Thì: Hữu hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy
Và: Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ,
Thì: Tả hoành sát, Thanh long biên giang, Phụ tử tương tùy.
So sánh các bài thiệu cổ mới phát hiện với bài thiệu đã lưu hành hiện nay có một vài chỗ khác biệt. Có lẽ người đời sau đã ghi nhầm, hay tam sao thất bổn.
Ví dụ: Hoành Tả, Tọa, bạch xà lan lộ.
Thì lại: Tả hoành sát, Thanh long biên giang.
"Hoành Tả" và "Tả Hoành" không mang tính âm-dương, ngũ hành của người xưa về cách cấu trúc một bài võ trong võ cổ truyền Bình Định.
Qua thời gian, bài quyền Ngọc Trản vẫn sáng chói như một chén ngọc. Số vốn quý võ công đã được gói ghém trong đó cũng được lưu truyền cho những người có đạo đức tốt, có tấm lòng vì con người, vì nền võ học của dân tộc.

Ngọc Trản còn có nghĩa: "Ngọc" là sự trong sáng, trung thực, phản chiếu sự vật được thể hiện ý niệm, trí tuệ. "Trản" là san bằng mọi chướng ngại mang tính đối phó ở giai đoạn đầu, tức hóa giải và có hài hòa ở giai đoạn cuối được thể hiện ở tay, chân và thân mình. Trong đó dĩ nhiên cần phải tính đến công sức luyện tập tinh nhuệ của thể chất, ý thức được thống nhất thành một ý niệm duy nhất. Ý niệm đó chuyển toàn bộ như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó là một bí quyết luyện tập của lối quyền âm-dương trong Ngọc Trản công.
a) Nội dung bài thiệu cổ về quyền "Ngọc Trản" được trích trong tập tư liệu Hán-Nôm được phát hiện tại từ đường dòng họ Trương ở xã Mỹ Hòa-Phù Mỹ do ông Trương Đức Hồng cung cấp, ông Phạm Đình Phong sưu tầm.
* Phần Phiên âm:
1. Ngọc Trản ngân đài.
2. Tả, hữu tấn khai thập tự.
3. Luyện diệp liên hoa.
4. Đả sát túc, tọa, hồi mai phục.
5. Tấn đả tam chiến
6. Thoái thủ nhị linh.
7. Hoành tả, tọa, bạch xà lan lộ.
8. Hữu hoành sát thanh long biên giang.
9. Phụ tử tương tùy.
10. Hoành hữu, tọa, bạch xà lan lộ.
11. Tả hoành sát thanh long biên giang.
12. Phụ tử tương tùy.
13. Hồi tàng địa hổ.
14. Song phi, quyển dực.
15. Hạ bàn đoản đả.
16. Hồi, tiểu tọa khai cung.
17. Huỳnh long quyển địa.
18. Tấn, đả song quyền.
19. Hoành tả, phục hạc khai linh.
20. Trực tiền quyển địa.
21. Tấn, đả song quyền.
22. Hoành hữu, phục hạc khai linh.
23. Trực tiền quyển địa.
24. Tấn, đả song quyền.
25. Hướng, hậu đả thập tự.
26. Diện tý.
27. Hồi, tẩu mã giang tiên.
28. Bái tổ, lập như tiền.
* Dịch nghĩa:
1. Chén ngọc đài vàng.
2. Tiến, mở thế chữ thập bên trái và bên phải.
3. Chọn lá liền hoa.
4. Đánh sít chân, tọa thế "hồi mai phục".
5. Tiến, đánh ba bận.
6. Lui, hai tay sắc sảo.
7. Xoay trái, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
8. Chém ngang bên phải bằng thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
9. Thế cha con nương tựa nhau.
10. Hoành bên phải, tọa thế "Bạch xà lan hộ" (con rắn trắng qua đường cỏ).
11. Hoành bên trái quét thế "thanh long biên giang" (con rồng xanh trên sông bên).
12. Thế cha con nương tựa nhau.
13. Trở về thế rắn hổ đất núp.
14. Đá song phi (hai chân bay) rồi thế chim cuốn cánh.
15. Đánh vắt mâm dưới.
16. Về, tọa, xổm mở cánh cung.
17. Thế rồng vàng cuốn đất.
18. Tiến đánh hai đấm.
19. Xoay trái, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
20.Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
21. Tiến đánh hai đấm.
22. Xoay phải, thế "phục hạc khai linh" (chim hạc giúp phơi cánh).
23. Thế cuốn đất, đánh thẳng phía trước.
24. Tiến đánh hai đấm.
25. Chuyển phía sau đánh thế chữ thập.
26. Mặt nhìn hướng tý (hướng Bắc).
27. Trở về thế "tẩu mã giang tiên" (ông tiên ruổi ngựa trên sông).
28. Vái tổ, đứng như trước.
b) Những động tác trong bài quyền Ngọc Trản:
- Đứng theo tư thế dịch cân, thủ môn hiệu theo võ Bình Định, lễ tổ, mắt nhìn thẳng ra phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.1), trụ ngựa theo tư thế ngựa tứ bình. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Ở bộ vị (xem ảnh H.2), dương quyền ở hai tay trái và phải ở bộ vị, xòe hai chưởng, sau đó tay phải theo dương chưởng, tay trái theo âm chưởng, áp sát vào nhau thủ sát nơi chấn thủy. Bái tổ. Hai mắt nhìn thẳng.

23/06/2015

Thảo gồm bảy bộ giống nhau, được phân ra để đánh: Mặt trước ba bộ, mặt sau ba bộ, về mặt trước đánh thêm một bộ; mỗi bộ gồm bốn ngọn: Chần, Đâm, Móc, Hắt Giật.
a) Những động tác "bái tổ"

Những động tác "bái tổ" ở "thảo thất bộ" có kèm theo cách hít thở khởi đầu của môn nội công. Cần chú ý luyện tập hít thở cho đều:
- Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ ngửa ngang hông. Mắt nhìn thẳng ra phía trước
- Kẹp sát hai nách, từ từ đưa hai nắm quyền lên, vừa đưa lên mũi vừa hít vào (chú ý: răng hàm cắn sát, môi khép lại, đầu lưỡi tựa vào chân răng hàm trên, hít vào thở đều bằng mũi) và dừng lại khi hai nắm quyền tới hai chân mày (xem ảnh H.2)

- Bây giờ cong hai mu bàn tay đổi lại, từ từ đâm thẳng hai nắm quyền xuống đất và từ từ thở ra, dừng lại khi hai nắm quyền tới hạ bộ (xem ảnh H.3).
- Tay tới hạ bộ, xoay đầu hai nắm quyền vào bụng đẩy ngược lên, vừa đẩy lên, vừa hít vào, ta dừng lại khi hai tay thẳng ở trước.
- Hai cánh tay ép sát lại, từ từ rút về, thủ quyền ngang hông, vừa rút quyền về, vừa thở ra.
b) Ba bộ mặt trước:
- Bộ một: Ở tư thế "Ngựa Tứ Bình", bàn chân trái xoay ngang theo chiều vai trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "ngựa kim kê", tay phải chần từ trái sang phải.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải lại giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Bây giờ tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay phải tì sát với cổ tay trái.
Ở tư thế này phải bắt nắm quyền tới phía trước, tay trái giật chỏ về sau và thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải chuồi về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống từ mặt chân trái, tay phải rút về thủ ngang hông.
Tiếp đến tay phải lại đâm "ngọn kim" ra, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái móc "ngọn thủy" lên, đồng thời cổ tay trái ép sát cổ tay phải.
Ở tư thế đó, tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái và bàn chân trái lui về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời chân phải "chần" xuống từ trái sang phải, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc "ngọn thủy" lên, chéo quyền với tay trái.
Tiếp đến tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba, ta xoay người về phía sau theo chiều vai trái. Hai tay quyền vẫn thủ theo, ta chỉnh lại, đứng theo "ngựa kim kê".
c) Ba bộ mặt sau:
- Bộ một: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời, tay phải "chần" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Bây giờ tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ hai: Bàn chân trái đưa lên thế chỗ bàn chân phải, chân phải rút về thế chỗ chân trái, đồng thời tay trái "chần" xuống, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại đâm thẳng quyền ra, tay trái lại giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay phải.
Bây giờ tay trái hắt nắm quyền ra trước, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
- Bộ ba: Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Đánh xong bộ ba ở mặt sau, ta xoay người sau theo chiều vai trái trở lại mặt trước, tay vẫn thủ quyền, chỉnh lại tư thế đứng theo "ngựa kim kê".
d) Bộ thứ bảy ở mặt trước:
Bàn chân phải đưa lên thế chỗ bàn chân trái, chân trái rút về thế chỗ chân phải, đồng thời tay phải "chần" xuống, tay trái rút về về sau thủ quyền ngang hông.
Tay trái lại đâm thẳng quyền ra, tay phải giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
Tay phải lại móc tiếp "ngọn thủy" lên và áp sát tay trái.
Sau đó, tay phải hắt nắm quyền ra trước, tay trái giật chỏ về sau thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ:
Chân phải rút ngựa về sau, theo ngựa kim kê, tay trái thủ ra trước, tay phải rút về thủ ngang hông, hạ ngựa xuống, vế ngang gối, mắt nhìn về trước, bái tổ.

23/06/2015

"Thảo bộ" là bài quyền nhiều thế võ chính, phụ được phối hợp tập luyện liền nhau và liên tục của "bộ pháp", "thủ pháp", "thân pháp" và "nhãn pháp".
Ta đã biết "thảo" là bài quyền phối hợp của nhiều thế võ, nhiều bộ pháp, thủ pháp, thân pháp… và đi từ đơn giản đến phức tạp. Biết vậy, ta phải chú tâm luyện tập cho thuần phục, chính xác, công phu. Từ đó, chắc chắn sức khỏe và võ công của người luyện tập sẽ tiến bộ nhiều.
Sau đây, chúng tôi giới thiệu hai bài "thảo bộ" đơn giản ở phần phối hợp này.
- Thảo Bộ Liên Ba: Thảo gồm ba bộ. Mỗi bộ đánh liền ba lần:
Bộ một: Đánh một "Ngọn Mộc" đâm hai "Ngọn Kim".
Bộ hai: Đánh một "Ngọn Mộc" xóc hai nắm quyền lên theo "Ngọn Thủy".
Bộ ba: Bắt đâm ba "Ngọn Thổ".
a) Những động tác Bái tổ:
Trụ "Ngựa Tứ Bình".
Tiếp đến, đặt ngang bàn chân phải, chân trái bước lên, đứng theo tư thế "Ngựa Kim Kê" tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, nắm cú quyền tay trái ép sát vào lòng bàn tay cương đao (tay phải) rồi thủ dưới vú bên ngực trái. Mắt nhìn về phía trước.
b) Những động tác ở bộ một:
- Lần 1:
Ở tư thế "bái tổ" chân phải bước lên phía trước một bước và đứng theo "Ngựa Kim Kê" đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về phía sau, thủ ngang hông.
Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra phía trước và tay phải lại giật chỏ về sau, quyền thủ ngang hông.
Thủ vào hông xong, tay phải lại đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái lại giật trỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Thủ quyền khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 2:
Đưa bàn chân trái ở phía sau lên thế chỗ bàn chân phải ở trước dời về sau thế chỗ bàn chân trái ở sau, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Rồi tay phải tiếp tục đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Tiếp đến, tay trái lại đâm thẳng quyền ra phía trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông. Khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.
- Lần 3:
Hoán vị bàn chân phải ở sau lên trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống. Tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, tay phải lại đâm quyền ra, tay trái rút về thủ quyền ngang hông. Mắt nhìn về phía trước trong lúc đánh.
Sau đó xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển về phía sau, và chỉnh "ngựa" đứng đúng theo "Ngựa Kim Kê", tay quyền thủ lên.
c) Những động tác ở bộ hai:
- Lần 1:
Ở tư thế bộ một, ta bước chân phải lên một bước, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến, hai nách kẹp lại, đồng thời xòe thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí dước cằm. Mắt nhìn thẳng về phía trước mặt.
- Lần 2:
Tay phải bắt qua và dừng lại bên tai phải, bàn chân trái từ sau đưa lên thế chỗ bàn chân phải ở trước, và bàn chân phải rút về thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.
- Tiếp đến, hai nách kẹp lại, xóc thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí cằm. Mắt nhìn thẳng phía trước.
- Lần 3:
Tay trái bắt qua bên trái, bàn chân phải đưa lên trước thay chỗ bàn chân trái và bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "ngọn mộc" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
Kế tiếp, hai nách kẹp sát lại, xóc hai nắm quyền thẳng lên và dừng lại dưới cằm.
Ở tư thế bộ hai, ta xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển ngược mặt trước (mặt tiền lúc bái tổ), chỉnh lại "ngựa Kim Kê", hai tay thủ quyền.
d) Những động tác ở bộ ba:
- Lần 1: Tay phải đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 2: Chân phải đưa ra trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đưa lên ngang tai phải, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
- Lần 3: Chân trái lại đưa lên trước, bàn chân trái thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái bắt lên dừng ngang tai trái, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.
e) Những động tác bái tổ hết bài quyền:
Ở tư thế bộ ba, ta xoay ngược bàn chân trái theo chiều vai bên trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "Ngựa Kim Kê", tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, tay quyền áp sát vào lòng bàn tay cương đao, thủ ngay dưới vú bên phải, "bái tổ".

23/06/2015

2. Tập Ngũ Hành Tay:
a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập đâm nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ nắm chắc cú quyền khi đâm ra. Hai mắt nhìn về phía trước.
b) Tập Ngọc Mộc đánh: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai nắm quyền thủ hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua đến bên tai phải, bấy giờ tay trái đưa úp lên tới chân mày, đánh mu nắm quyền hướng xuống dưới rồi hất ngược mu nắm quyền lên, dừng ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật chỏ phải về sau. Thủ quyền ngang hông.
Tiếp đến tay trái lại bắt ngang tai trái, chân phải giở úp lên ngang chân mày, đánh mu nắm quyền xuống dưới rồi hất mu nắm quyền lên dừng lại ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật trỏ trái về sau và thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập đánh nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ cú quyền nắm chặt trong khi đánh xuống và hất lên. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
c) Tập Ngọn Thủy Móc: Ở tư thế trụ "Ngựa Tứ Bình", tay phải bắt lên ngang tai bên phải, tay trái móc thẳng quyền từ hông lên và dừng lại ở vị trí dưới cằm đồng thời tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Ở tư thế vị trí đó, tay trái bắt qua dừng lại nơi bên trái, tay phải móc thẳng nắm quyền, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.
Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ quyền nắm chặt khi tập. Mắt nhìn thẳng về phía trước.
d) Tập Ngọn Hỏa né: Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ vào hông. Triển người, lắc vai trái né sang bên phải, rồi triển người lắc vai phải né sang bên trái.
- Khi né sang bên phải: Tay trái ép sát vào hông trái, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay phải thủ kề má bên trái. Mắt liếc ngó về bên trái.
- Khi né sang bên trái: Tay phải ép sát vào hông bên phải, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay trái thủ kề má bên phải. Mắt liếc, ngó về bên phải.
Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập luyện.
e) Tập ngọn Thổ đâm xuống đất: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Thủ hai nắm quyền ngang hông. Tay phải bắt ngang tai bên phải. Tay trái nắm quyền đâm thẳng xuống đất, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.
Ở tư thế đâm đó, tay trái bắt quyền lên ngang tai bên trái, tay phải nắm quyền chặt đâm thẳng xuống đất, đồng thời chỏ trái giật về sau và thủ quyền ngang hông.
Nhớ tập đâm xuống nhiều lần trong mỗi buổi tập. Mắt ngó thẳng về phía trước.
3. Tập Ngũ Hành cùi chỏ:
Hai chỏ, nếu được tập luyện công phu, thuần thục, rắn chắc... thì tác dụng trong bảo vệ và chiến đấu rất lợi hại. Chỏ ở phần căn bản cũng tập theo "Ngũ Hành".
a) Tập "Ngọn Kim" giật chỏ thẳng ra theo chiều vai:
Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ hai nắm quyền ngang hông, đưa nắm quyền tay trái lên ngang vai bên phải giật úp chỏ thẳng ra ngang vai trái.
b) Tập "Ngọn Mộc" đập chỏ ngang ra phía trước:
Ở tư thế "Ngọn Kim" của chỏ bên trái, ta đập chỏ thẳng ra phía trước mặt, dừng ở vị trí ngực và tay thẳng góc.
c) Tập "Ngọn Thủy" giật chỏ ra phía sau lưng:
Ở tư thế "Ngọn Mộc" của chỏ trái, ta giật thẳng chỏ ra sau lưng.
d) Tập "Ngọn Hỏa" tước trỏ lên ra phía trước mặt:
Ở tư thế đang tập đánh "Ngọn Thủy" ta đánh tước chỏ lên từ sau ra trước và dừng lại ở góc 45 độ tại nách.
e) Tập "Ngọn Thổ" găm nhỏ xuống đất: Ở tư thế "Ngọn Hỏa", ta găm xuống đất, nhưng găm lệch sang phía bên phải.
Tập xong tay trái, ta thủ quyền tay trái lại nơi hông rồi tập đến tay phải, như vừa tập ở tay trái. Lúc tập, mắt nhìn thẳng về phía trước.

Address

Đường Mai Xuân Thưởng, Phường Lê Hồng Phong, Thành Phố Quy Nhơn
Quy Nhon

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when VÕ BÌNH ĐỊNH posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share