29/06/2026
...
https://www.facebook.com/share/p/1BEHGwMPy9/
Trương Đăng Quế (1793 – 1865) không chỉ là một đại thần, ông là "vị kiến trúc sư" của triều đình nhà Nguyễn suốt bốn đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức. Trong chính sử, ông hiện lên như một nhân vật văn võ toàn tài, người nắm giữ vận mệnh quốc gia trong những khúc quanh ngặt nghèo nhất của thế kỷ 19.
Trương Đăng Quế quê ở Quảng Ngãi, cha ông là Trương Đăng Phác, từng làm Tri phủ cho triều Tây Sơn. Năm 1819, dưới thời vua Gia Long, ông đỗ Hương tiến (Cử nhân), là người khai khoa, mở đầu truyền thống khoa bảng đất Quảng Ngãi .
Trương Đăng Quế là người có kiến văn sâu rộng, năng lực đa diện, được cả giới quan trường lẫn bách tánh nể trọng. Năm 1828, ông viết cuốn “Nhật Bản kiến văn lục”, là cuốn sách do người Việt Nam ghi chép về đất nước và con người Nhật Bản thuộc loại rất sớm.
Năm 1836, Trương Đăng Quế nhận nhiệm vụ tổ chức thực hiện công trình chỉnh đạc điền thổ, thiết lập địa bạ, đinh bạ ở Nam Kỳ, góp phần quan trọng trong công cuộc ổn định vùng đất mới, được người đương thời hết sức khen ngợi và người đời sau, trong đó có nhiều học giả Pháp, đánh giá là công trình đạc điền khoa học lớn nhất thế kỷ 19 ở Việt Nam.
Tác phẩm “Thủy chiến tiên cơ quyết thắng” ông viết năm 1840 nêu lên sự cần thiết xây dựng thủy binh, đắp thành lũy phòng ngự dọc theo ven biển đề phòng ngoại xâm. Về nội trị, trong nhiều sớ tấu dâng lên nhà vua, Trương Đăng Quế đề nghị tiết kiệm công quỹ, không xuất của kho mua hàng xa xỉ của phương Tây, chấn chỉnh, tinh giảm hàng ngũ quan lại, chú trọng bổ nhiệm, cất chức cho nhiều người có thực học, thực tài.
Về mặt văn hóa, Trương Đăng Quế từng chủ trì hoặc biên tập nhiều bộ sách địa chí, lịch sử quan trọng, thuộc vào hàng công phu nhất thời cận đại như: Đại Nam liệt truyện (Tiền biên), Đại Nam thực lục (Tiền biên), Đại Nam thực lục (Chính biên, chép đến đời vua Thiệu Trị), Hoàng Nguyễn thực lục (Tiền biên), Hoàng Nguyễn thực lục (Hậu Chánh biên)... Ông sáng tác nhiều thơ văn, tập hợp trong các tác phẩm: Học văn dư tập, Quảng Khê văn tập, Nhật Bản kiến văn lục, Sứ trình vạn lý tập…
Khi vua Minh Mạng băng hà, Trương Đăng Quế là một trong những Phụ chính đại thần đứng đầu. Dưới triều Thiệu Trị, quyền lực và ảnh hưởng của ông đạt đến đỉnh cao nhất.
• Ổn định biên cương: Chính ông là người đã cùng các tướng lĩnh giải quyết êm đẹp vấn đề Chân Lạp, thực hiện chính sách "vỗ về" thay vì sa lầy vào chiến tranh, giúp quốc khố bớt kiệt quệ.
• Tư vấn quân sự: Khi tàu chiến Pháp uy hiếp Đà Nẵng năm 1847, Trương Đăng Quế đã có những sớ tấu bàn về việc phòng thủ cửa biển, cho thấy tầm nhìn chiến lược về một nguy cơ mới từ đại dương.
Trước khi vua Thiệu Trị qua đời, ông đã cầm tay Trương Đăng Quế dặn dò việc phò tá hoàng tử Hồng Nhậm (vua Tự Đức). Đây là giai đoạn sóng gió nhất trong cuộc đời ông:
• Vụ án Hồng Bảo: Trương Đăng Quế bị rơi vào vòng xoáy chính trị khi anh trai vua Tự Đức là Hồng Bảo mưu giành ngôi vị. Với tư cách là người thực thi di chiếu, ông giữ thái độ kiên quyết bảo vệ tính chính thống của Tự Đức, dẫn đến những oán hận sâu sắc trong nội tộc nhà vua.
• Đối diện với thực dân: Khi liên quân Pháp - Ban Nha nổ súng tại Đà Nẵng (1858): Nhiều tài liệu ghi nhận ông là người cầm đầu phái chủ chiến trong những ngày đầu Pháp tấn công Đà Nẵng. Ông bị quân xâm lược Pháp bấy giờ coi là đối tượng "e dè và căm ghét nhất" vì thái độ cứng rắn, không chịu nhượng bộ. Tuy nhiên, khi đối diện với hỏa lực vượt trội của tàu chiến Pháp, Trương Đăng Quế không mù quáng, khi thấy quân triều đình liên tiếp thất bại ở Nam Kỳ và sức khỏe bản thân suy giảm, ông bắt đầu có xu hướng ủng hộ đàm phán để cứu vãn tình thế. Chính điều này khiến ông bị một số sử gia và phe "chủ chiến cực đoan" sau này phê phán là nhu nhược.
Năm 1863, sau nhiều lần thỉnh cầu, vua Tự Đức mới cho ông về hưu. Khi ông mất, nhà vua vô cùng thương tiếc, ban tên thụy là Văn Lương, khắc tên vào đền Hiền Lương. Chính sử cũng ghi chép ông là người sống thanh liêm, giản dị dù quyền cao chức trọng.
Năm 1876 (Tự Đức thứ 28) nhà vua cho đưa thờ ông trong Thế miếu, nơi thờ phụng các vua nhà Nguyễn và phối thờ các đại công thần. Ngày nay, nhiều địa phương ở Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh cũng lấy tên ông đặt cho các tuyến đường nội thị trọng yếu. Nhà thờ và lăng mộ Trương Đăng Quế được xây dựng tại làng Mỹ Khê Tây, huyện Bình Sơn, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.