Xương rồng

Xương rồng Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Xương rồng, Community Center, Cầu Quảng Huế, Huyện Đại Lộc, Quang Nam.

13/05/2025

PHẢN BÁC MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của cả hệ thống chính trị và toàn dân.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ mọi thủ đoạn xuyên tạc về cuộc cách mạng này. Do đó, việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái, bịa đặt, bóp méo của các thế lực thù địch là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA NHỮNG KẺ CHỐNG ĐỐI

Hiện nay, trên các trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài như BBC, RFA, VOA… và các trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch liên tục đưa tin, bài, hình ảnh, video bôi nhọ, xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị mà chúng ta đã và đang tiến hành rất ráo riết. Chúng bịa đặt rằng: “Sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”; hay “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Tiếp đến là những giọng điệu: “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”...

Từ những luận điệu vô căn cứ này, chúng ngụy biện, xảo ngôn với lời lẽ đầy sai trái rằng: Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”...

Thực tế, chúng ta đã quá quen thuộc với những thủ đoạn và lời lẽ chống phá của các thế lực thù địch. Bởi vậy, việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái này lúc nào cũng rất cần thiết. Đó không chỉ khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng trong cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong cuộc cách mạng quyết liệt đang được cả hệ thống chính trị tiến hành, tạo tiền đề vững chắc để chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO CUỘC CÁCH MẠNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn rất quan tâm đến việc tinh gọn bộ máy qua các thời kỳ cách mạng. Người chỉ rõ: “Khi bộ máy cồng kềnh thì biên chế phình ra và dẫn tới vừa quan liêu, vừa lãng phí”. Do đó, Người thường xuyên yêu cầu các cơ quan phải “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”. Tinh giản theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tinh là năng suất lên cao, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Để tinh giản biên chế, Người đưa ra biện pháp: “Phải sắp xếp cho gọn gàng, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình”.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn để cải cách, đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TƯ, ngày 9-2-2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, ngày 1-8-2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 39-NQ/TƯ, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 25-10-2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là những chủ trương, đường lối đúng đắn, thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Về tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhiệm vụ này đang đặt ra rất cấp thiết. Hiện nay, 70% ngân sách dùng để nuôi bộ máy, trong khi đó, công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian còn bất cập, một bộ phận còn cồng kềnh, chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cản trở phát triển, tăng thủ tục hành chính, lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, công dân, làm lỡ thời cơ phát triển đất nước.

Trong bài viết: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết.

Và quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, phù hợp yêu cầu phát triển của thời đại. Đây không chỉ là một định hướng cải cách hành chính, mà còn là trọng điểm chiến lược để tạo dựng một hệ thống quản lý nhà nước khoa học, minh bạch, tập trung vào giá trị thực chất nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng cường sức sống cho hệ thống quản lý điều hành đất nước. Đó là nguyên tắc quan trọng và cũng là điều kiện tiền đề cho việc phát triển hơn nữa lao động, tri thức, kỹ thuật, công nghệ, nguồn vốn để không ngừng tạo ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

THỰC TIỄN BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Thực hiện chủ trương của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối, tầng nấc trung gian đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Chỉ riêng đối với Bộ Công an, từ năm 2018 đến nay, qua hai lần kiện toàn tổ chức bộ máy, Bộ Công an đã giảm 7 tổng cục và tương đương, 55 đơn vị cấp cục, 7 trường Công an nhân dân, 20 sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy cấp tỉnh, gần 1.200 đơn vị cấp phòng, trên 3.500 đơn vị cấp đội. Sau sắp xếp, kiện toàn bộ máy, Bộ Công an vẫn hoạt động hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự với nhiều dấu ấn nổi bật, đóng góp rất quan trọng vào những thành tựu, kết quả chung của đất nước.

Những ngày gần đây, ngay sau khi cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được phát động, toàn bộ các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã vào cuộc xây dựng đề án sắp xếp tinh gọn bộ máy theo đúng lộ trình đặt ra. Ngày 30-12-2024, Bộ Chính trị công bố quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 13 cơ quan ban Đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Đây là những hành động và kết quả thực chất của việc tinh gọn bộ máy, từ đó phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy chỉ mang tính hình thức, không thực chất, không đủ quyết tâm.

Thực tiễn cho thấy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước ta với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ”… như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao, bóp méo. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó, để công tác quan trọng này đi tới thành công đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải có tinh thần mạnh mẽ hơn, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất về tư tưởng, hành động quyết liệt, tiến hành nhanh, gọn nhưng phải hiệu quả và không để kéo dài.

Đặc biệt, cần phải công khai, minh bạch trong các bước thực hiện, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng thông tin mơ hồ, gây hoang mang; tăng cường đối thoại, giải thích trực tiếp, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong suốt quá trình thực hiện. Đồng thời, cần đẩy mạnh vai trò của báo chí và truyền thông trong đấu tranh, phản bác trực diện các luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang quyết liệt thực hiện…

Làm tốt được các yêu cầu trên, công cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhất định sẽ thành công, qua đó tạo tiền đề vững chắc khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước nhanh và bền vững; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

06/05/2025

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CÁCH MẠNG CẢI CÁCH, SẮP XẾP, TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực. Đặc biệt, với quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, của Bộ Chính trị đã tạo thống nhất trong nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, trước chủ trương, chính sách lớn mang tính bước ngoặt của Đảng và Nhà nước lại xuất hiện những “tiếng nói lạc lõng”, “bẻ lái” dư luận, xuyên tạc sự thật nhằm kích động, chống phá từ bên trong, cản trở cuộc cách mạng của đất nước.

NHẬN DIỆN NHỮNG CHIÊU TRÒ “BẺ LÁI”, XUYÊN TẠC

Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí "nuôi" bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ Nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận.

Một số trung tâm phát thanh hải ngoại và các trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch liên tục đưa tin, bài, hình ảnh, video bôi nhọ, xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị với luận điệu: “Sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”; hay “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Tiếp đến là những giọng điệu: “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”... Các luồng tin xấu, độc còn lợi dụng việc tinh gọn bộ máy để tấn công vào lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia. Chúng tung tin xuyên tạc rằng việc tinh gọn bộ máy không áp dụng cho lực lượng Công an, tinh gọn nhưng không “giảm nhân sự, mà trái lại còn tăng thêm người”. Từ những luận điệu vô căn cứ này, chúng ngụy biện ằng: "Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”"... Một số cá nhân cơ hội chính trị thổi phồng những trường hợp cán bộ tình nguyện về hưu sớm chưa nhận được các chế độ, chính sách theo Nghị định 178 của Chính phủ hoặc những trường hợp chưa kịp bố trí công việc mới, gây dư luận tiêu cực, hoài nghi về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, chúng còn kích động tâm lý bất mãn trong một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức, lợi dụng tâm lý hoang mang, lo lắng trước định hướng “sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã; thực hiện mô hình địa phương 2 cấp” và tiếp tục tinh giản biên chế, chúng tung tin đồn rằng nhiều người sẽ bị mất việc, không có chế độ hỗ trợ, gây tâm lý bất mãn. Kích động tư tưởng chống đối trong nội bộ.

Có thể dễ dàng nhận thấy thủ đoạn mà các đối tượng sử dụng là đưa ra các thông tin bịa đặt, những “câu chuyện thâm cung bí sử, thuyết âm mưu” không có thật về công tác nhân sự nhằm câu “view”, câu “like”, đưa tít giật gân, từ những vấn đề có thật, chúng thêm thắt, cường điệu hoá, rồi đưa tin theo kiểu lập lờ “đánh lận con đen”. Chúng triệt để khai thác các tính năng của mạng xã hội như Facebook, YouTube, Tiktok… với độ tương tác rộng, chia sẻ nhanh chóng, kết hợp cài cắm thông tin xấu, độc với thông tin chính thống hòng tạo ra sự nhiễu loạn, làm cho người dùng khó phân biệt đâu là “thật – giả”, “đúng – sai”.

Đối tượng mà các thế lực thù địch hướng đến là thanh niên, cán bộ, công chức trong các cơ quan thuộc diện sắp xếp, tinh gọn, người dân, cán bộ hưu trí… nhằm cố tình kích động, gây nhiễu thông tin hòng gây chia rẽ trong nội bộ, hạ thấp uy tín các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang nói chung và của lực lượng Công an nhân dân (CAND) nói riêng. Từ đó gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm lung lạc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, phá hoại cuộc cách mạng của đất nước trong thời đại mới… Do vậy, việc nhận diện và ngăn chặn âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy để xuyên tạc, chống phá có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp thiết hiện nay.

CHỦ TRƯƠNG LỚN TẠO TIỀN ĐỀ ĐƯA ĐẤT NƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan và toàn diện, có thể thấy tổ chức của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn còn bộc lộ một số vấn đề bất cập như bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, trùng dẫm, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, cùng một vấn đề, một vụ việc liên quan đến chức năng của nhiều cơ quan nhưng không xác định được vai trò của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, trách nhiệm phối hợp của từng cơ quan, đơn vị… Trong bài viết có tựa đề “Tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả”, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế của tổ chức bộ máy: Việc đổi mới công tác cán bộ vẫn chưa có đột phá lớn; nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa đầy đủ và sâu sắc, quyết tâm chưa cao; tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng giẫm, chồng chéo; chi phí vận hành hệ thống tổ chức quá lớn, chiếm tới 70% tổng chi ngân sách thường xuyên của Nhà nước… Đây là nguyên nhân dẫn đến tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực xã hội, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiều hệ lụy tiêu cực khác, kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển của đất nước. Từ việc phân tích, chỉ ra những hạn chế, bất cập, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tầm quan trọng và tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy theo phương châm “Tinh – gọn – mạnh – hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả”, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung thực hiện trong thời gian tới.

ĐỀ XUẤT CÁC QUY ĐỊNH VỀ DẪN ĐỘ TỪ VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀIDự án Luật Dẫn độ do Bộ Công an chủ trì xây dựng dự kiến trình Q...
05/05/2025

ĐỀ XUẤT CÁC QUY ĐỊNH VỀ DẪN ĐỘ TỪ VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI

Dự án Luật Dẫn độ do Bộ Công an chủ trì xây dựng dự kiến trình Quốc hội xem xét cho ý kiến vào Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV.

Xây dựng Luật Dẫn độ phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế
Dự thảo Luật Dẫn độ gồm 5 chương, 45 điều. So với Luật Tương trợ tư pháp (TTTP), trong lĩnh vực dẫn độ, dự thảo Luật Dẫn độ có bổ sung nhiều điểm mới trong đó có quy định về “Dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài” là một trong những nội dung đáng chú ý.

Theo dự thảo luật, hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam phải đáp ứng điều kiện tương tự như hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài.
Về tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam và xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, đồng thời bổ sung quy định về Cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam. Việc xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật CAND và các luật khác có liên quan, do đó, trong luật này không quy định lại.

Về thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, đồng thời bổ sung nội dung “Trên cơ sở ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an có thể đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ”.

Đối với quyết định dẫn độ cho nước ngoài, trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, TAND cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau đây: Quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ; quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ. TAND cấp tỉnh mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ. Thời hạn ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đã được rút ngắn hơn so với Luật TTTP, phù hợp chính sách đã được thông qua trong Báo cáo đánh giá tác động của chính sách.

Ngoài ra, đối với kháng cáo, kháng nghị quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ, cụ thể, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, TAND cấp cao mở phiên họp xem xét, quyết định của TAND cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Quy định này liên quan đến việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm của TAND cấp cao trong việc phúc thẩm quyết định dẫn độ.

Về xem xét yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, đồng thời bổ sung quy định “Trường hợp yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người mà yêu cầu dẫn độ sau được gửi đến khi TAND có thẩm quyền đã thụ lý yêu cầu dẫn độ trước thì Bộ Công an đề nghị TAND có thẩm quyền đó hủy quyết định đã thụ lý theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật này và trả lại hồ sơ yêu cầu dẫn độ đã thụ lý cho Bộ Công an để tiếp tục xem xét, quyết định”. Quy định này được bổ sung sẽ giải quyết được nhiều tình huống khác phát sinh trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, cần thiết phải hủy quyết định thụ lý.

Về các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ, dự thảo Luật quy định để đảm bảo thực hiện yêu cầu dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định tại BLTTHS. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện khi nước ngoài chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức đến Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này. Đây là quy định được kế thừa từ Điều 502 BLTTHS.

Đối với trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ, dự thảo Luật quy định trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó là thành viên thì thực hiện theo quy định tại Điều 113 BLTTHS, nếu nước yêu cầu cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung quy định “Trường hợp nước ngoài chưa ký kết điều ước quốc tế về dẫn độ với Việt Nam yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ thì trình tự, thủ tục bắt khẩn cấp để dẫn độ được thực hiện theo quy định pháp luật Việt Nam”. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật TTTP. Quy định này được xây dựng góp phần thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên, dự phòng cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong BLTTHS trong thời gian sắp tới; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016.

Về dẫn độ đơn giản, dự thảo Luật quy định trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đồng ý bằng văn bản với việc bị dẫn độ về nước ngoài thì TAND có thẩm quyền phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản. Trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản được thực hiện như sau: Tòa án nhân dân thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ; TAND phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan có thẩm quyền xác minh sự đồng ý bị dẫn độ; Tòa án nhân dân phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật TTTP.

Về thi hành quyết định dẫn độ, dự thảo Luật quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật, Chánh án TAND có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định dẫn độ, Cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành bắt người bị dẫn độ theo quy định tại Điều 113 BLTTHS.

Về hoãn dẫn độ và tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Đối với quy định dẫn độ tạm thời, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng quy định về từ chối dẫn độ cho nước ngoài, cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, đồng thời bổ sung một số trường hợp bắt buộc từ chối dẫn độ như: Người bị yêu cầu dẫn độ có khả năng bị truy bức, tra tấn ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị hoặc vì lý do khác; hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự; bổ sung trường hợp có thể từ chối dẫn độ, bao gồm tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm liên quan đến chính trị, quân sự.

Về xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài trong các trường hợp khác, dự thảo Luật quy định “Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài những người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, trên cơ sở đề nghị của nước ngoài, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể xem xét áp dụng thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này”. Việc bổ sung quy định này bảo đảm tránh bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

KHÔNG THỂ ĐÁNH LẬN BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là sự kiện lịch sử t...
29/04/2025

KHÔNG THỂ ĐÁNH LẬN BẢN CHẤT, XUYÊN TẠC Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975

Chiến thắng 30/4/1975 không chỉ là sự kiện lịch sử trọng đại mà còn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Đây là kết quả tất yếu của một hành trình dài đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và các thế lực tay sai, vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Thế nhưng cho đến nay, sau 50 năm giải phóng, vẫn tồn tại những luận điệu xuyên tạc, cố tình gọi cuộc chiến vệ quốc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, đưa ra những quy kết sai trái về Ngày Giải phóng 30/4 nhằm bôi nhọ lịch sử, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến.

TÁI DIỄN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

Các thế lực thù địch, phản động luôn ra rả vu cáo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”. Luận điệu này có từ lâu, đến nay vẫn tái diễn.

Để làm rõ bản chất của vấn đề, trước hết cần phải hiểu đúng khái niệm “nội chiến”. Các khái niệm theo từ điển thì, nội chiến là cuộc chiến tranh giữa các phe phái, các lực lượng chính trị trong cùng một quốc gia, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Trong khi đó, cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ 1954 đến 1975 hoàn toàn không phù hợp với định nghĩa này. Sự thật lịch sử là sau Hiệp định Genève 1954, Mỹ đã công khai phá hoại hiệp định, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành “tiền đồn chống cộng” trong chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc.

Thực ra không phải đến khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại lên làm Tổng thống thì Mỹ mới can dự vào tình hình Việt Nam. Trước đó, Mỹ là nước viện trợ nhiều nhất cho thực dân Pháp ở Đông Dương. Vào cuối năm 1950, Mỹ viện trợ cho Pháp ở Đông Dương 133 triệu USD và chuyển giao khối lượng lớn vũ khí, tàu chiến, máy bay chiến đấu, xe quân sự. Năm 1954, viện trợ của Mỹ cho Pháp ở Đông Dương lên tới 1 tỷ USD (chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương).
Chính sử gia nổi tiếng người Mỹ Cecil B.Currey trong cuốn sách “Chiến thắng bằng mọi giá (Thiên tài quân sự Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp)” đã cho biết vào năm 1956, Allen Dulles, người đứng đầu của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) đã đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử ở Việt Nam diễn ra theo quy định của Hiệp định Genève thì “thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi”. Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không.

Con số thống kê chính thức của Mỹ cho thấy, trong 21 năm (từ năm 1954 - 1975), viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hơn 26 tỷ USD. Ngoài số tiền viện trợ trên cho chính quyền Sài Gòn, Mỹ đã trực tiếp đưa quân đội, vũ khí, các bộ máy quân sự, dân sự vào miền Nam. Nếu tính tất cả các loại chi phí, trong hơn 20 năm đó, Mỹ đã bỏ vào Việt Nam khoảng hơn 160 tỷ USD.

Tổng thống Mỹ Eisenhower trong nhiệm kỳ 1953-1961 trong diễn văn đọc ngày 4/8/1953 tại Seatle đã nói rõ: “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì khối lượng thiếc và vonfram mà chúng ta đánh giá rất cao sẽ không còn thuộc về tay chúng ta nữa”. Tờ New York Times số ra ngày 21/10/1962 một lần nữa khẳng định về điều này: “Sự buôn bán và các sản phẩm của Đông Nam Á không phải là cần thiết đối với nền kinh tế Mỹ nhưng lại là rất quan trọng đối với chúng ta và các đồng minh của chúng ta”.

Một sự thật khác chứng minh sự phụ thuộc của chính quyền Sài Gòn vào sự viện trợ của bên ngoài. Quyết tâm rút khỏi cuộc chiến đau thương và sa lầy tại Việt Nam, khi quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Paris, Quốc hội Hoa Kỳ thấy rằng tại sao phải cần thiết chi hàng tỷ USD cho đồng minh Nam Việt Nam trong khi chính nước Mỹ lại đang cần những đồng USD đó hơn bao giờ hết. Do đó, mặc dù các phái đoàn của Việt Nam Cộng hòa đã tích cực sang Hoa Kỳ để vận động Quốc hội Mỹ không cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam nhưng Quốc hội Hoa Kỳ vẫn quyết định cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam trong tài khóa 1974-1975 từ mức 1,4 tỷ USD xuống còn hơn 700 triệu USD. Tướng Mỹ Jhon Murey cho rằng “Nếu viện trợ còn 750 triệu USD, Sài Gòn chỉ còn khả năng bảo vệ một phần đất đai. Nếu xuống thấp nữa có nghĩa là xóa bỏ Việt Nam Cộng hòa”.

Điều đáng nói là chính những người bên kia chiến tuyến, trong đó ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng, Cựu Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn đã nói thật về thân phận nô lệ của chính quyền Sài Gòn: “Việt cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”. Trả lời trong cuộc phỏng vấn Báo Thanh Niên, số Xuân Ất Dậu (năm 2005), ông Nguyễn Cao Kỳ cũng cho biết: “Mỹ lúc nào cũng đứng ra làm kép chính, chúng tôi không có quyền lực và vai trò gì quan trọng, vì vậy nhiều người cho đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”.

KHÔNG THỂ BẺ CONG LỊCH SỬ

Về bản chất của chính quyền Sài Gòn cần phải được nhìn nhận một cách khách quan. Đây không phải là một chính quyền dân tộc chân chính mà thực chất chỉ là bộ máy cai trị do Mỹ dựng lên, tồn tại hoàn toàn nhờ vào súng đạn và USD của Mỹ. Từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu, tất cả các đời tổng thống Sài Gòn đều do Washington chỉ định và bảo trợ. Trong khi đó, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính cho nhân dân miền Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, thể hiện qua các phong trào như Đồng khởi Bến Tre (1960), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975). Sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam cũng như sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh vệ quốc chống các thế lực xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Một khía cạnh quan trọng khác là tính chất dân tộc và sự thống nhất ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến. Từ Bắc chí Nam, hàng chục triệu người như một đã đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, coi việc đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là mục tiêu tối thượng.

Chỉ hơn 1 tháng sau thất bại ở Việt Nam, trên tờ “Sao và vạch” (Stars and Stripes), ngày 14/5/1975, Maxwell D. Taylor, Đại tướng quân đội, từng là Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đã thừa nhận rằng: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Chúng ta không hề có một anh hùng nào trong cuộc chiến tranh này…”. Còn ông Henry Kissinger, người được đánh giá là một trong những “bộ óc” thông thái nhất trong lịch sử nước Mỹ, từng là Ngoại trưởng, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ từng thốt lên rằng “không thể giải thích nổi cái gì đó đã nhen lên trong dân tộc đó những ngọn lửa anh hùng và nghị lực như vậy”!

Cùng với đó là ý nghĩa quốc tế to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Việt Nam khi ấy trở thành biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức. Sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần từ Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cùng phong trào phản chiến rộng khắp ở chính nước Mỹ và phương Tây, là minh chứng hùng hồn cho tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, phong trào phản chiến tại Mỹ với những cuộc biểu tình quy mô lớn của sinh viên, trí thức, cựu chiến binh đã góp phần quan trọng buộc chính quyền Mỹ phải rút quân.

Việc cố tình gọi Chiến thắng 30/4 là kết quả của “nội chiến” thực chất là một thủ đoạn chính trị tinh vi nhằm phủ nhận thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam, xóa nhòa công lao lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là thủ đoạn để các thế lực thù địch gieo rắc sự hoài nghi, làm suy yếu sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Kỷ niệm ngày 30 tháng 4 hằng năm là dịp để mỗi người dân Việt Nam càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh kiên cường của cha ông, đồng thời kiên quyết bảo vệ chân lý lịch sử, bác bỏ mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Nhắc lại những điều trên không phải là để xới lại quá khứ đau thương mà để chúng ta thấy rõ tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng bào ta phải hi sinh biết bao máu xương mới giành được. Đó là sự thật khách quan, không thể vì bất cứ lý do gì đánh lận bản chất, xuyên tạc lịch sử. Chúng ta cũng hiểu rằng, trong giai đoạn cách mạng mới, thông điệp hôm nay là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình, ổn định và phát triển. Kỷ niệm ngày 30/4 cũng là dịp để tôn vinh những giá trị bất diệt của lòng vị tha, của hòa bình, hòa giải và hàn gắn, của tinh thần gác lại quá khứ để hướng tới tương lai…

Address

Cầu Quảng Huế, Huyện Đại Lộc
Quang Nam

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Xương rồng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share