07/05/2026
04BV. Nguyễn Đăng Khoa - HNM tỉnh Nghệ An
HỘI NGƯỜI MÙ TỈNH NGHỆ AN
THÔNG TIN
CUỘC THI: KHẮC SÂU LỜI BÁC - TỎA SÁNG TẤM GƯƠNG
“TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ”
Bài viết: THEO DẤU CHÂN CỦA BÁC
1. Thông tin của thí sinh dự thi viết về bản thân.
Họ và tên: Nguyễn Đăng Khoa
Sinh năm: 12/01/1942
Địa chỉ: Xóm Nam Lĩnh – Xã Đại Huệ - Nghệ An
Nghề nghiệp: Thương binh
Tỉnh, thành Hội: Nghệ An
THEO DẤU CHÂN CỦA BÁC
Năm 1993, năm củng cố và phát triển tổ chức Hội của Hội người mù Việt Nam, Hội người mù huyện Nam Đàn được thành lập, tôi được phân công làm chủ tịch Hội. Buổi đầu muôn vàn khó khăn đã xảy ra, về vật chất hai bàn tay trắng, về kiến thức và nghiệp vụ công tác 4 bàn tay không thế nhưng vượt qua tất cả đưa huyện hội Nam Đàn trở thành dẫn đầu của Nghệ An. Lo lắng cho công việc đêm nằm trằn trọc thâu đêm không ngủ, chìa khoá để mở ra cho mọi việc là kiến thức và vốn sống, muốn có kiến thức thì phải học. Câu chuyện “Thưa Bác sao Bác giỏi thế ạ” trong cuốn những cuộc đời hoạt động của Bác Hồ lần lượt hiện về trong tôi: Trong một cuộc hội nghị của cán bộ trung ương do Bác Hồ chủ trì diễn ra ở Việt Bắc đến giờ giải lao tất cả các đại biểu đều ra bờ suối Lê Nin rửa chân tay mặt mũi và ghỉ ngơi, bác cùng ra với mọi người, Bác ngồi trên một hòn đá hút thuốc lá. Mọi người thấy bác ra ùa đến vây quanh Bác để được nhìn Bác kĩ hơn và nghe Bác nói chuyện. Phía bên trái Bác có một cán bộ nhấp nha nhấp nhổm như muốn nói điều gì mà không sao nói được cuối cùng cũng nói ra được điều mình muốn nói: Thưa Bác sao Bác giỏi thế ạ. Bác không trả lời ngay, Bác cúi xuống bỏ mẫu thuốc lá xuống dưới đất lấy dép đè lên. Ngửa đầu lên Bác nhìn đồng chí cán bộ rồi chậm rãi nói: Bác có giỏi gì đâu, Bác cũng như các chú thôi chỉ khác là hôm nay Bác nhặt nhạnh vài chữ ngày mai Bác nhặt thêm dăm ba chữ, chịu khó là có thôi. Chú có nhớ cha ông ta dạy gì không: Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão và năng nhặt thì chặt bị đó sao. Mọi người xung quanh cười ồ lên, đồng chí cán bộ nói: Thưa Bác cháu hiểu rồi ạ. Câu chuyện chỉ đơn giản vậy thôi nhưng đối với tôi đây là một bài học vô cùng quý giá, tôi coi đây là một bảo bối để tôi học tập nâng cao trình độ nhận thức giúp tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác của Hội. Tất cả mọi kiến thức thì tôi có thể tìm kiếm, học hỏi được, riêng kiến thức về Hội tôi hoàn toàn bế tắc, một thời gian sau có dịp đi Hà Nội tôi về Trung ương Hội hy vọng có tìm kiếm được cái gì không nhưng đến nơi các bác trong văn phòng Trung ương Hội đi vắng cả, ngồi tiếp tôi là anh Lê Hậu tổng biên tập tạp chí đời mới, sau khi nói chuyện anh Hậu hiểu được băn khoăn của tôi. Anh Lê Hậu đưa cho tôi một tập dự thảo sự hình thành và phát triển của Hội người mù Việt nam, tôi bảo cán bộ sáng phôtô ra hai bản, bản chính trả lại cho anh Hậu. Trên tàu về Nghệ An, cán bộ sáng Phan Hồng Đức đã đọc cho tôi nghe văn bản dự thảo ấy. Ngay từ những dòng đầu đã gây cho tôi cảm xúc không sao cầm được nước mắt:
Những ngày hạ tuần tháng 4 năm 1969 Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta rất yếu mệt vì những cơn đau tim nặng, tuy vậy hàng ngày trên giường bệnh ông Vũ Kỳ vẫn đọc báo cho Bác nghe. Một hôm ông Vũ Kỳ đọc trên báo đại đoàn kết một tin ngắn: Ngày 17/4/1969 tại câu lạc bộ thống nhất bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hội người mù Việt Nam đã mở đại hội lần thứ nhất bầu ra Ban chấp hành, thông qua Điều lệ và chính thức đi vào hoạt động, nghe tin ấy mặc dù rất mệt nhưng khuôn mặt của Bác rất vui, Bác bảo ông Vũ Kỳ lấy bút đỏ đánh dấu hỏi sang bên cạnh tin đó, nhìn khuôn mặt của Bác ông Vũ Kỳ đoán biết Bác đang suy nghĩ một điều gì đó, ông không đọc báo nữa. một lúc sau Bác nói ông Vũ Kỳ: Chú trao đổi với Bộ nội vụ nói với Hội người mù Việt Nam.
Hai ngày sau ban thường vụ Trung ương Hội do ông Nguyễn Công Tiễu làm chủ tịch tiếp thu sự chỉ đạo của Bộ nội vụ phân công ông Huỳnh Đình Thảo soạn thảo báo cáo chi tiết này. Trong báo cáo chi tiết ấy Ban thường vụ Trung ương Hội đã đề đạt ý kiến xin được lấy lời dạy tàn nhưng không phế của người làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Hội và làm phương châm phấn đấu cho mọi thành viên của Hội. Khi nghe ông Vũ Kỳ đọc đến đoạn này Bác rất vui , cười rất tươi và nói “Bác đồng ý”. Ông Vũ Kỳ ghi sang bên cạnh ba chữ Bác Đồng ý và gạch chân ba lần. Từ đó lời dạy tàn nhưng không phế của Bác lan toả rất nhanh cả bề rộng lẫn chiều sâu, từ Trung uơng Hội đến các cấp Hội và thành viên của Hội.
Đúng như bác Lê Hồng Thuỷ phó chủ tịch Trung ương Hội đã viết trong lời nói đầu của cuốn khả năng của người mù: Lời dạy tàn nhưng không phế của Bác Hồ không phải chỉ là một lời dạy, lời động viên chí nghĩa chí tình mà còn là một chân lí khách quan khoa học. Đối với bản thân tôi làm theo lời dạy của Bác trong công tác của tập thể cũng như trong cuộc sống đời thường đã có nhiều thành công rất cụ thể, chính lời dạy của Bác đã giúp tôi biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể trong mọi mặt, không những lúc còn làm công tác Hội mà lúc trở về cuộc sống đời thường cũng vậy tôi luôn tâm niệm một điều và tự đặt ra cho mình một cái kỉ luật , kế hoạch, nhiệm vụ mình phải tự thi đua với mình, ngày hôm nay phải làm được số công việc hơn ngày hôm qua, ngày mai xây dựng kế hoạch thực hiện cho được số lượng công việc hơn ngày hôm nay. Tuy vậy một điều vẫn luôn canh cánh trong lòng chưa tìm được xuất xứ của lời dạy tàn nhưng không phế, mãi đến năm 2006 kỉ niệm 50 năm Bác dạy tàn nhưng không phế trong Tạp chí đời mới chuyên mục đất nước con người đăng nguyên văn bài viết của ông Vũ Kỳ có tiêu đề: Bác Hồ thăm trường thương binh hỏng mắt ở Hà Nội. Cầm cuốn tạp chí trong tôi như rộn lên vội vàng tranh thủ đọc:
“Giao thừa Bính Thân 1956 Bác Hồ đến thăm trường thương binh hỏng mắt Hà Nội nhưng không được báo trước. Lúc ấy toàn thể anh em thương bệnh binh, cán bộ công nhân viên tập trung tại hội trường để chuẩn bị đón giao thừa thì một chiếc ô tô nhỏ lướt nhẹ vào đỗ nhẹ trong sân, một nhân viên nhà trường nhận ra Bác nên hô to: Bác Hồ…Bác Hồ…đến, lập tức trong hội trường vang lên Bác Hồ muôn năm, Bác Hồ muôn năm, lãnh đạo nhà trường ra tận xe đón Bác. Bác vào hội trường đếm từng hàng ghế, bắt tay từng người. Một đồng chí thương binh đứng lên hỏi: Thưa Bác, Bác có khoẻ không ạ, đứng giữa hội trường Bác trả lời: Bác khoẻ nhưng Bác khoẻ các chú có vui không, cả hội trường đồng thanh đáp: Thưa Bác vui ạ. Bác nói, thế thì nghe Bác hỏi đây, tết này các chú ăn Tết có những gì, đồng chí thương binh lúc nãy trả lời Bác: Thưa Bác chúng cháu ăn tết có xôi và thịt lợn ạ. Bác nói: Đất nước mới hoà bình được một nửa, nhân dân ta còn nghèo, chúng ta ăn tết như vậy là tốt rồi. Ngừng một lát Bác nói: Bây giờ Bác nói như thế này nhé: Mỗi chú tuỳ theo hoàn cảnh của mình học lấy một nghề để tiếp tục được đóng góp, tiếp tục được phục vụ, làm được như vậy là các chú tàn nhưng không phế. Ngừng một lát Bác hỏi: Bác nói như vậy các chú có đồng ý không cả hội trường đồng thanh đáp Thưa Bác đồng ý ạ, Thưa Bác đồng ý ạ…
Bỗng phía cuối hội trường một giọng nói run run: Thưa Bác Tết năm nay Bác đến chúng cháu rất vui, nhưng chúng cháu chỉ được nghe Bác nói chứ không được nhìn thấy Bác, cho phép cháu cầm tay Bác được không ạ.
Bác bước nhanh đến tay phải cầm lấy cánh tay còn lại của đồng chí thương binh, tay trái lấy khăn mùi soa lau mặt, cả hội trường lặng đi, rồi Bác nói như vậy tất cả chúng ta đều vui, vui chúng ta phải hát lên chứ rồi bác bắt nhịp bài hát kết đoàn. Cả hội trường vang lên tiếng hát và tiếng vỗ tay đều nhịp. Bác ra hiệu cho đồng chí hiệu trưởng cùng đồng chí cảnh vệ đi ra xe…”
Tôi đọc đi đọc lại bài viết này đến thuộc lòng từng dấu chấm dấu phẩy.
Nhớ lại những ngày ở chiến trường, ngày 19/11/1968 tôi bị thương hỏng hai mắt khi cái tuổi trẻ chưa qua già chưa tới, quãng đời phía trước còn dài làm như thế nào cho cuộc sống đây, tôi chưa hiểu được xuất xứ lời dạy tàn nhưng không phế như thế nào nhưng trong tâm tưởng của tôi nhắc tôi luôn làm theo lời dạy đó. Đến lúc tham gia công tác Hội tôi có thêm chữ Brai là một cứu cánh tham gia trong mọi hoạt động Hội cũng như trong cuộc sống đời thường. Tôi chuẩn bị bước sang tuổi 85 suy ngẫm lại, lời dạy bất hủ của Bác, chân lí khách quan khoa học ấy mang lại cho tôi rất nhiều thành công trong cuộc sống:
- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác hội, được vinh danh là đại biểu xuất sắc trong đại hội thi đua yêu nước của hội, 17/12/2025.
Đặc biệt nhất là năm 2005 Bộ chính trị Trung ương Đảng khoá X có chỉ thị số 06 về việc đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhân ra diện rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và Việt kiều ở nước ngoài. Đây là cơ hội tốt nhất để tôi cập nhật thông tin, sưu tầm bổ sung tài liệu, sự kiện và cả diễn biến của sự kiện. Qua đó củng cố và hoàn thiện một cách có hệ thống nhận thức của mình về Đảng kính yêu, Bác Hồ vĩ đại, đất nước anh hùng, dân tộc anh hùng. Qua đó tôi đã được rất nhiều giải cao trong các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của cả nước. Chỉ đơn cử năm 2005 tôi đạt 5 giải thưởng của Hội đồng chung khảo quốc gia, cao nhất là giải đặc biệt cuộc thi cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, 4 giải khuyến khích: Âm vang Điện Biên, Sáng mãi phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, 60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 75 năm Đảng cộng sản Việt Nam, ngoài ra còn đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.
“Bác Nguyễn Đăng Khoa kể chuyện về Bác Hồ
tại các trường phổ thông“
Về nhận thức tôi đã hoàn thành 5 bài viết về cuộc đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi bài viết dài thời lượng 1 giờ đồng hồ cụ thể như sau:
- Thời thơ ấu của Bác Hồ.
- Bác Hồ ở nước ngoài.
- 30 năm đi qua 18 nước tự học 29 ngoại ngữ và tìm đường cứu nước cho dân tộc.
- Bác Hồ về Việt Bắc chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
- Bác Hồ viết di chúc và qua 4 lần sửa chữa và bản di chúc của Bác trở thành báu vật của quốc gia.
Những giây phút cuối cùng của Bác Hồ và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về việc giữ gìn bảo vệ thi hài Bác cho con cháu mai sau. Di sản này ngày nay không phải là riêng của nhân dân và dân tộc Việt Nam mà là của nhân loại trên toàn thế giới khi tổ chức văn hoá liên hiệp quốc UNESCO vinh danh Bác là anh hùng giải phóng dân tộc danh nhân văn hoá kiệt xuất của nhân dân. 5 bài viết này tôi đã đi nói chuyện và chia sẻ với rất nhiều đoàn thể như Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Người cao tuổi, Hội thanh niên xung phong, Hội cựu giáo chức đặc biệt là các trường tiểu học và trung học cơ sở.
Tôi đã kiên trì và duy trì chuyên đề này đến 20 năm và đã trở thành báo cáo viên chuyên trách của Hội cựu chiến binh. Tin chắc rằng vẫn còn theo tôi cho đến hết cuộc đời.
Thông qua 11 lớp học tình thương tôi đã được Bộ giáo dục đào tạo đặc cách tặng thẻ nhà giáo với tấm thẻ này tôi đã nghiểm nhiên trở thành một nhà giáo như mơ ước của tôi lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Trên đây là những suy nghĩ và việc làm thực tế của tôi viết lên đây tôi không có ý khoe khoang mà muốn chia sẻ với các bạn đồng tật giúp nhau vươn lên trong cuộc sống.
Người viết: Nguyễn Đăng Khoa