Phường Duy Tân Tỉnh Ninh Bình

Directions

Phường Duy Tân Tỉnh Ninh Bình Trang thông tin của Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Phường Duy Tân, Tỉnh Ninh Bình

Chung tầm nhìn, vững bước tương laiTác giả: Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân - PHẠM KIÊN (từ Brussels, Vươn...
25/10/2026

Chung tầm nhìn, vững bước tương lai

Tác giả: Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân - PHẠM KIÊN (từ Brussels, Vương quốc Bỉ)

Trong một thế giới nhiều biến động, sự tương đồng về lợi ích và niềm tin chính trị đang đưa Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) và Bỉ đến gần nhau hơn. Được tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong chuyến thăm lần này, chúng tôi cảm nhận rõ hơn khát vọng phát triển của Việt Nam kết nối trọn vẹn với tầm nhìn châu Âu qua các thỏa thuận hợp tác về công nghệ, nhân lực và hạ tầng chiến lược.

“Thống nhất trong đa dạng”

Tọa lạc ở trung tâm thủ đô Brussels của Vương quốc Bỉ, tòa nhà Europa-trụ sở của Hội đồng châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu (EU) được ví như “trái tim của châu Âu”. Điểm độc đáo nhất của Europa nằm ở cách nhà kiến trúc sư lừng danh Philippe Samyn "tái sinh" hơn 3.750 khung cửa sổ gỗ sồi được thu gom từ khắp các công trình thuộc quốc gia thành viên EU. Không chỉ là một giải pháp tái chế chất liệu tiên phong, sự “chắp vá” có chủ đích của hàng nghìn ô cửa mang hình dáng, kích thước và kỹ nghệ chế tác khác nhau truyền đi thông điệp "Thống nhất trong đa dạng" của EU.

Đến thủ đô Brussels trong một buổi sáng mùa thu rét ngọt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhắc lại thông điệp ấy với các lãnh đạo, học giả, nhà nghiên cứu và đại diện đoàn ngoại giao nước bạn: “Tôi cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rất vui mừng có mặt tại Vương quốc Bỉ-trung tâm chính trị của EU. Vương quốc Bỉ sở hữu di sản ngoại giao vô giá: Nghệ thuật dung hòa khác biệt và xây dựng đồng thuận. Năng lực quản trị sự đa dạng đã biến nơi đây thành biểu tượng của tinh thần: “Thống nhất trong đa dạng”-triết lý cốt lõi mà EU, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và cộng đồng quốc tế đang rất quan tâm trong thế giới biến động hiện nay”. Với Việt Nam, EU là một trong những đối tác ưu tiên hàng đầu, có nhiều lợi ích và tiềm năng hợp tác lâu dài

Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước với nghi thức trang trọng, Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa thân tình nhắc lại những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam và sự đón tiếp nồng hậu của Việt Nam trong chuyến thăm tháng 1-2026. Từ Hà Nội đến Brussels, sự tin cậy được tiếp nối khi hai nhà lãnh đạo sớm gặp lại nhau sau dấu mốc xác lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tháng 1-2026. Điều ấy khẳng định một tinh thần hợp tác khẩn trương, trách nhiệm của hai nhà lãnh đạo đối với công việc chung và tương lai của các dân tộc.

Truyền thông châu Âu đánh giá cao những kết quả hợp tác Việt Nam-EU trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, công nghệ, chuyển đổi xanh và an ninh sau cuộc hội đàm cấp cao tại Brussels. Hãng tin DW (Đức) dẫn lời chuyên gia Alfred Gerstl (Đại học Vienna, Áo) đánh giá, Việt Nam là đối tác chiến lược quan trọng giúp EU thực hiện mục tiêu an ninh kinh tế. Truyền thông chuyên ngành cũng chú ý đến vai trò của Việt Nam, khi đại diện EU coi Việt Nam là đối tác ưu tiên của EU tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Một điểm nhấn trong chuyến thăm lần này đó là tinh thần hợp tác được đặt trong yêu cầu nâng cao khả năng tự chủ, tự cường của cả hai nền kinh tế. Trưa 22-10, sức nóng của tọa đàm cấp cao giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với lãnh đạo doanh nghiệp tiêu biểu châu Âu và Bỉ được tạo nên bởi sự hội tụ của lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu châu Âu và Bỉ, từ năng lượng, công nghệ cao, y tế, dược phẩm đến hàng không, cảng biển và logistics. Thách thức lớn nhất được đặt lên bàn nghị sự không chỉ ở việc gia tăng kim ngạch thương mại, mà là làm sao để chuyển dịch từ hợp tác thương mại thuần túy sang hợp tác công nghệ cao và phát triển bền vững. Trong dòng thảo luận sôi động ấy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh bài toán cốt lõi: Việt Nam và châu Âu cần nâng cao hàm lượng công nghệ, tiêu chuẩn phát triển, năng lực cạnh tranh và nâng cao vị thế của doanh nghiệp hai bên trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, thước đo một dự án công nghệ được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đưa ra từ những kết quả có thể nhận biết: Bao nhiêu kỹ sư Việt Nam được đào tạo, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, dự án tạo thêm năng lực cạnh tranh gì. Đó là cách nhìn đi tới phần lợi ích lâu dài của đầu tư. Bởi, vốn có thể tạo nên nhà máy, song chính con người và khả năng làm chủ mới giúp nền kinh tế tiến xa. Đi cùng lời đề nghị là trách nhiệm của phía Việt Nam: Chuẩn bị dự án tốt hơn, minh bạch thông tin, xử lý vướng mắc theo đầu mối, tiến độ và kết quả rõ ràng.

Biến chủ trương thành những hành động, ngay tại tọa đàm, rất nhiều thỏa thuận hợp tác về giáo dục-đào tạo, hiệu quả năng lượng, chuyển dịch năng lượng được trao trước sự chứng kiến của lãnh đạo các nước.

Những kết quả đạt được từ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới EU tạo xung lực mới trong hợp tác thương mại-đầu tư giữa Việt Nam với EU và các nước thành viên; xây dựng quan hệ Việt Nam-EU thành hình mẫu trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-EU.

Điểm đồng mở thêm cơ hội hợp tác

Ngay ngày đầu tiên trong chuyến thăm Vương quốc Bỉ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đón nhận những thông tin tốt lành. Ngay trước cuộc hội kiến, lãnh đạo Nghị viện Bỉ vui mừng thông báo với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Hạ viện Liên bang Bỉ đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA). Đích thân Nhà vua Bỉ Philippe thông báo tin vui này trong cuộc hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Hiệp định EVIPA không chỉ là công cụ bảo hộ pháp lý chất lượng cao nhằm thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao mà còn thể hiện sự tin cậy chính trị sâu sắc giữa hai dân tộc; đây là minh chứng sinh động cho dư địa và quyết tâm hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, tin vui tốt lành này sẽ mở ra thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho hợp tác giữa hai nước, nhất là các doanh nghiệp. Thành quả ấy không chỉ đến từ hôm nay mà chính là từ chiều sâu kết nối, điểm đồng, sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và khát vọng phát triển của hai dân tộc.

Việt Nam và Bỉ thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 22-3-1973 và kể từ đó luôn duy trì mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi các chuyến thăm cấp cao và tiếp xúc tại các diễn đàn đa phương. Nhà vua Bỉ đã nhiều lần thăm Việt Nam. Chiều 23-10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham quan Nghị viện Liên bang Bỉ và ký sổ lưu bút. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ cảm ơn sâu sắc việc Hạ viện Liên bang Bỉ là nghị viện nước ngoài đầu tiên và duy nhất thông qua Nghị quyết kêu gọi hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam cho Việt Nam. Bỉ là đối tác thương mại lớn thứ 6 của Việt Nam tại EU, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Bỉ trong ASEAN.

Vui mừng trước những kết quả đạt được, song Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Bỉ thời gian qua vẫn chưa tương xứng với quan hệ chính trị cũng như tiềm năng và thế mạnh của hai bên. Bài phát biểu chính sách của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Viện Quan hệ quốc tế Hoàng gia Egmont đã chạm đúng mối quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu và đại diện đoàn ngoại giao. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu một nghịch lý của thế giới hôm nay: Kết nối sâu hơn nhờ công nghệ, nhưng chia rẽ nhanh hơn vì địa chính trị. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam và các đối tác càng cần tìm thấy những điểm đồng để cùng hợp tác, vượt qua khác biệt.

Đáng chú ý là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhìn nhận các tiêu chuẩn xanh mới của châu Âu. Việt Nam coi đó là động lực tái cấu trúc nền kinh tế xanh, đồng thời mong muốn EU đồng hành về công nghệ và tài chính. Thông điệp ấy cho thấy tinh thần chủ động trước những yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Với Bỉ, những đề xuất đi vào các thế mạnh cụ thể: Kết nối hệ sinh thái công nghệ, hợp tác nghiên cứu bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học; xây dựng “liên minh tri thức” dựa trên nền tảng hợp tác giữa các trường đại học hai nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh một khuôn khổ hợp tác phải mang lại kết quả cụ thể, tạo sự gắn kết lợi ích giữa các bên.

Chuyến thăm EU và Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thành công rất tốt đẹp. Đúng như điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhận định, đó là sự gặp gỡ giữa hai nguồn cảm hứng: Phương châm trên Quốc huy Vương quốc Bỉ “Đoàn kết tạo nên sức mạnh” và di huấn bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Đó chính là mẫu số chung cho thời đại mới: Đoàn kết trong đa dạng, song hành trong tôn trọng khác biệt, để cùng nhau viết nên một chương mới cho hòa bình và thịnh vượng của cả hai châu lục.

Báo QĐND

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Chủ tịch Hạ viện Peter De Roover (bên phải) và Chủ tịch Thượng viện Vincent Blondel.









Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức EU và Vương quốc BỉTác giả: PHẠM KIÊNTrưa 24-1...
25/10/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức EU và Vương quốc Bỉ

Tác giả: PHẠM KIÊN

Trưa 24-10 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Brussels, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ, theo lời mời của Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa và Thủ tướng Vương quốc Bỉ Bart De Wever.

Tiễn đoàn tại sân bay quân sự Melsbroek có đại diện Bộ Ngoại giao Bỉ, Đại sứ Bỉ tại Việt Nam, Lãnh sự danh dự Việt Nam tại Antwerp; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Bỉ, Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên minh châu Âu Nguyễn Hương Trà cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Vương quốc Bỉ.

Trong khuôn khổ chuyến thăm EU, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi sâu, rộng về các vấn đề khu vực và quốc tế; nhất trí tăng cường trao đổi, tham vấn và phối hợp tại các diễn đàn đa phương, ủng hộ chủ nghĩa đa phương, Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; phát huy hiệu quả quan hệ ASEAN - EU, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Trên cơ sở chia sẻ tầm nhìn về phát triển kinh tế biển xanh, bảo vệ đại dương và bảo đảm an ninh hàng hải, hai bên nhất trí nghiên cứu, thúc đẩy hợp tác kinh tế biển trở thành trụ cột hợp tác tiếp theo trong quan hệ hai bên.

Trong khuôn khổ chuyến thăm Vương quốc Bỉ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Thủ tướng Bỉ Bart De Wever. Hai bên nhất trí cần tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị, duy trì trao đổi, tìm hiểu mối quan tâm, nhu cầu của nhau để mở rộng quy mô hợp tác, quyết tâm hướng tới đưa quan hệ song phương lên một tầm cao mới. Hai bên thống nhất cần tạo ra những bước đột phá mới về kinh tế, thương mại và đầu tư; đẩy mạnh các dự án hợp tác quy mô lớn, mang tính chiến lược trong các lĩnh vực Bỉ có thế mạnh truyền thống và Việt Nam có nhu cầu cấp thiết.

Cũng trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc hội kiến với Chủ tịch Thượng viện Vincent Blondel và Chủ tịch Hạ viện liên bang Bỉ Peter De Roover. Dịp này, Hạ viện liên bang Bỉ đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) vào đêm 22-10 và khẳng định đây là minh chứng sinh động cho dư địa và quyết tâm hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước.

Cũng trong khuôn khổ các hoạt động tại Vương quốc Bỉ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đến thăm và phát biểu chính sách tại Viện Quan hệ quốc tế Hoàng gia Egmont. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, là một trong những quốc gia Đông Nam Á hợp tác toàn diện nhất với EU và đang đảm nhiệm vai trò điều phối viên quan hệ ASEAN - EU, Việt Nam sẵn sàng đóng vai trò “mô hình thử nghiệm” và cầu nối chiến lược, thúc đẩy đưa hợp tác ASEAN - EU trở thành một trục liên khu vực kiểu mẫu, đóng góp thiết thực cho hòa bình và thịnh vượng ở cả hai châu lục.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện Việt Nam tại Bỉ và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại châu Âu; tiếp đại diện chuyên gia, trí thức tiêu biểu người Việt Nam tại Bỉ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước biểu dương và động viên bà con tiếp tục phát huy tốt hơn nữa vai trò cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam với các nước châu Âu. Đồng thời mong doanh nhân, doanh nghiệp thúc đẩy đưa hàng hóa Việt Nam tới địa bàn châu Âu và kết nối doanh nghiệp châu Âu về đầu tư tại Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học nghiên cứu, phát triển công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược và triển khai các chương trình, dự án hợp tác với trong nước. Thế hệ trẻ tiếp tục hội nhập, phát triển, giữ gìn bản sắc Việt.

Báo QĐND

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, phu nhân Ngô Phương Ly và các quan chức của Vương quốc Bỉ tại lễ tiễn đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.









Thủ tướng Lê Minh Hưng: Phát triển thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt NamTác giả: MẠNH HƯNGChiều 24-10, tiếp...
25/10/2026

Thủ tướng Lê Minh Hưng: Phát triển thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam

Tác giả: MẠNH HƯNG

Chiều 24-10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, phát biểu thảo luận tại tổ về các dự án luật: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, cần có những chính sách ưu tiên lựa chọn sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm và năng lực cạnh tranh, phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Đối với dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, dự thảo luật có một số nhóm chính sách lớn, trước hết là hoạt động phát triển hệ sinh thái, thử nghiệm có kiểm soát trong ngành công nghiệp văn hóa. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đã được pháp luật quy định, nhưng riêng trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần quy định cụ thể hơn nữa.

Theo Thủ tướng, việc nhà nước đầu tư và hỗ trợ hình thành các phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là chính sách cần thiết để hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo, phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa và nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ của các chủ thể sáng tạo, đặc biệt là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy chuyển đổi số và khai thác hiệu quả các tài nguyên về văn hóa. Tuy nhiên, Thủ tướng nhấn mạnh, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định này trong mối quan hệ tổng thể với các quy định liên quan của dự thảo luật như cơ chế hình thành, quản lý và vận hành.

Thủ tướng nêu rõ, hạ tầng công nghiệp văn hóa không chỉ nhìn nhận là công trình, mặt bằng hay khu sản xuất mà còn là sự liên kết giữa di sản, cộng đồng, không gian sáng tạo, hạ tầng số và các dịch vụ văn hóa phù hợp. Hạ tầng văn hóa có thể được tổ chức theo mô hình mạng lưới, không nhất thiết phải liền kề, nhưng có sự liên kết về tài nguyên văn hóa, sản phẩm, dịch vụ, hạ tầng và cơ chế quản lý, có tính liên thông và tổng thể.

Thủ tướng đề nghị, trong dự thảo luật phải nghiên cứu để rà soát và thiết lập hạ tầng văn hóa, đặt ra những yêu cầu về bảo vệ di sản, giữ gìn cảnh quan môi trường, quản lý phù hợp với sức chịu tải, đồng thời, bảo đảm sự tham gia và hưởng lợi chính đáng của cộng đồng, nghệ nhân, các chủ thể sáng tạo ở địa phương.

Dự thảo luật cũng quy định những vấn đề về phát triển thị trường công nghiệp văn hóa, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm. Theo Thủ tướng, đây là một trong những chính sách rất quan trọng, với quan điểm rất mới, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa, từ chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa sang kết hợp hài hòa giữa phát huy giá trị văn hóa với khai thác tiềm năng kinh tế và đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước.

Thủ tướng nêu rõ, giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu mà còn ở khả năng khai thác, phát triển thành các sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới. Chẳng hạn như một sản phẩm điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử thì từ nội dung số có thể khai thác được trên nhiều nền tảng, nhiều thị trường, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực liên quan như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghệ số. Do vậy, cần có những chính sách ưu tiên lựa chọn sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm và năng lực cạnh tranh, phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Đối với dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Thủ tướng cho biết, tinh thần chung là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong dự thảo luật, Chính phủ đã đề xuất nhiều cơ chế chính sách mới như quản lý theo nguy cơ, rủi ro, theo chuỗi, chuyển đổi số, đặc biệt là một đầu mối quản lý thống nhất. Thủ tướng nhấn mạnh, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm, ở địa phương là các sở y tế, cấp xã có Phòng Văn hóa xã hội, trong đó sẽ có nhân sự chuyên về lĩnh vực này.

Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, liên quan đến vấn đề bãi bỏ một số điều kiện kinh doanh trong dự thảo luật, như dịch vụ giám định về sở hữu trí tuệ, Thủ tướng cho biết, để bảo đảm vai trò quản lý nhà nước ở mức độ phù hợp đối với hoạt động này, dự thảo luật bổ sung quy định về nghĩa vụ thông báo thông tin của tổ chức, cá nhân hoạt động giám định để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung liên quan đến nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giám định và các nguyên tắc trong việc thực hiện hoạt động giám định để bảo đảm chất lượng hoạt động giám định sau khi cắt giảm điều kiện.

Báo QĐND



Thủ tướng: Khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởngThủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạ...
25/10/2026

Thủ tướng: Khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa thực sự trở thành động lực tăng trưởng

Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu mà còn ở khả năng khai thác, phát triển thành các sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, chiều 24/10, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa phải bảo đảm sự tham gia và hưởng lợi chính đáng của cộng đồng

Phát biểu ý kiến về dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho biết, dự thảo Luật đề cập đến việc phát triển hệ sinh thái thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là nội dung cần được rà soát kỹ để bảo đảm thống nhất với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Thủ tướng, lần sửa đổi này chỉ tập trung vào những nội dung có tính chất đặc thù của ngành công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ sẽ chỉ đạo hoàn thiện các quy định trong dự thảo Luật, đồng thời xác định rõ những nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết tại nghị định và các văn bản hướng dẫn.

Về hỗ trợ sáng tạo, xác lập và xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa, Thủ tướng nhấn mạnh sự cần thiết Nhà nước tham gia đầu tư, hỗ trợ hình thành các phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.

Việc này nhằm tạo công cụ hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo, phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa, nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ của các chủ thể sáng tạo, nhất là cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa.

Đồng tình với ý kiến một số đại biểu, Thủ tướng cho rằng quy định này cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện trong mối quan hệ tổng thể với những nội dung khác của dự thảo Luật. Trong đó, cần làm rõ cơ chế hình thành, quản lý, vận hành, kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu; xác định cụ thể phạm vi dịch vụ được cung cấp miễn phí và nguồn lực bảo đảm thực hiện.

Về phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật đề cập đến nhiều loại hình hạ tầng công nghiệp văn hóa và đưa ra nhiều thiết chế mới với mục tiêu tạo lập hệ sinh thái hạ tầng công nghiệp văn hóa.

Chẳng hạn như công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; cơ chế tổ chức hoạt động, sự kiện trong tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; đánh giá hiệu quả đối với hạ tầng công nghiệp văn hóa; sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư, công trình xây dựng và hạ tầng văn hóa số...

Thủ tướng nêu rõ, hạ tầng công nghiệp văn hóa không nên chỉ được nhìn nhận là công trình, mặt bằng hay khu sản xuất, mà còn là sự liên kết giữa di sản, cộng đồng, không gian sáng tạo, hạ tầng số và các dịch vụ văn hóa phù hợp.

Bên cạnh đó, hạ tầng văn hóa cũng có thể được tổ chức theo mô hình mạng lưới, không nhất thiết phải liền kề nhưng cần có sự liên kết về tài nguyên văn hóa, sản phẩm, dịch vụ, hạ tầng và cơ chế quản lý, bảo đảm tính liên thông và tổng thể. Đây là những nội dung mà dự thảo Luật phải rà soát, nghiên cứu.

"Việc thiết lập hạ tầng công nghiệp văn hóa cần gắn với các yêu cầu bảo vệ di sản, giữ gìn cảnh quan môi trường, quản lý phù hợp với sức chịu tải, đồng thời bảo đảm sự tham gia và hưởng lợi chính đáng của cộng đồng, nghệ nhân và các chủ thể sáng tạo tại địa phương", Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh.

Đối với phát triển thị trường công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật đã thiết kế nhiều nội dung liên quan đến phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam; sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; phát triển thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; hỗ trợ phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa...

Trong đó, chính sách phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm là một nội dung quan trọng, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy phát triển công nghiệp văn hóa: từ chú trọng bảo tồn các giá trị văn hóa sang kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa với khai thác tiềm năng kinh tế, đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước.

Theo Thủ tướng, giá trị của sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm ban đầu mà còn ở khả năng khai thác, phát triển thành các sản phẩm phái sinh, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, mở rộng thị trường và hình thành những chuỗi giá trị mới.

Chẳng hạn, từ một sản phẩm điện ảnh, phim hoạt hình hoặc trò chơi điện tử, có thể khai thác nội dung trên nhiều nền tảng, tiếp cận nhiều thị trường, đồng thời thúc đẩy các lĩnh vực liên quan như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghệ số.

"Vì vậy, cần có chính sách ưu tiên lựa chọn những sản phẩm văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, có năng lực cạnh tranh và khả năng phát triển thành thương hiệu riêng của công nghiệp văn hóa Việt Nam", Thủ tướng đặc biệt lưu ý.

Về chính sách tài chính và hỗ trợ đầu tư, Thủ tướng cho biết đây là những chính sách ưu đãi đặc thù mới nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Việc bổ sung các đối tượng thụ hưởng chính sách này phải được rà soát kỹ, nhất là liên quan đến ưu đãi đầu tư, ưu đãi về chính sách thuế, để bảo đảm thống nhất với các dự án luật đang trình Quốc hội và quy định của pháp luật hiện hành.

Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị

Cho ý kiến đối với dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định mục tiêu và tinh thần chung là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Trong dự thảo, Chính phủ đã đề xuất nhiều cơ chế, chính sách mới, như quản lý theo nguy cơ, tức là quản lý dựa trên mức độ rủi ro; quản lý theo chuỗi; chuyển đổi số và thiết lập một đầu mối quản lý thống nhất.

Theo đó, Bộ Y tế là cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm; tại địa phương, Sở Y tế thực hiện nhiệm vụ tương ứng. Ở cấp xã, phòng văn hóa-xã hội sẽ được bổ sung nhân sự chuyên về bảo đảm an toàn thực phẩm.

"Đây là định hướng nhằm bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm", Thủ tướng nhấn mạnh.

Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, Chính phủ sẽ nghiên cứu, tiếp thu theo hướng không quy định lại những vấn đề đã được điều chỉnh trong các luật khác có liên quan, mà chỉ tập trung vào những nội dung đặc thù về quản lý và bảo đảm an toàn thực phẩm.

Song song đó, Chính phủ cũng sẽ chỉ đạo rà soát để quy định cụ thể trong Luật những vấn đề lớn thuộc thẩm quyền của Quốc hội, như quyền lợi của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm... Đồng thời, giảm bớt một số nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết.

Bày tỏ đồng tình với ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc cần làm rõ cơ chế hậu kiểm và quy định về tần suất kiểm tra, Thủ tướng cho biết, hiện nay, doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn thực phẩm; các cơ chế kiểm soát sau, cũng như tần suất lấy mẫu để kiểm tra, kiểm định có ý nghĩa rất quan trọng.

Tuy nhiên, Thủ tướng cũng cho rằng, trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm không chỉ thuộc về cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Y tế hay Sở Y tế, mà cần có sự tham gia của hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các doanh nghiệp sản xuất; và chính người tiêu dùng cũng phải đấu tranh mạnh mẽ với những hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.

"Đây là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị", Thủ tướng khẳng định, đồng thời lưu ý cần làm rõ cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin giám sát của Mặt trận Tổ quốc và phản ánh của người dân tại các cơ quan chức năng, bảo đảm việc xử lý được thực hiện nhanh chóng. Trong những trường hợp cấp bách, cần có cơ chế đình chỉ hoặc tạm dừng hoạt động sản xuất để ngăn chặn kịp thời nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

Theo Thủ tướng, những nội dung này sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong dự thảo Luật, và cụ thể hóa trong nghị định và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ.








Các nội dung được quan tâm trong Dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổiDự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa...
25/10/2026

Các nội dung được quan tâm trong Dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi

Dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, còn ý kiến khác nhau.

Thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng về rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản còn chồng chéo, bất cập, chưa phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ; luật chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.

Bên cạnh đó, sau 13 năm triển khai thi hành, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã nhận diện rõ những hạn chế, bất cập; cùng với tình hình vi phạm hành chính, sự phát triển của kinh tế-xã hội hiện nay đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 8/9/2026, Chính phủ có Tờ trình số 665/TTr-CP trình Quốc hội về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Dự án Luật đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các vị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến.

Trên cơ sở ý kiến của các cơ quan, đại biểu nêu trên, Chính phủ đã tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự án Luật và có Tờ trình số 879/TTr-CP ngày 10/10/2026 trình Quốc hội về dự án Luật.

Dự thảo Luật hiện tại đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, còn ý kiến khác nhau, cụ thể như sau:

1. Về việc không quy định cụ thể tại dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Có ý kiến cho rằng việc không quy định cụ thể tại dự thảo Luật về các cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sẽ dẫn đến không rõ đầu mối chịu trách nhiệm chính thực hiện nhiệm vụ này, không phù hợp với nguyên tắc quy định chi tiết ngay trong luật, pháp lệnh, nghị quyết và xác định cụ thể tên bộ, ngành, cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính đối với các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.

Ý kiến này được giải trình, làm rõ như sau:

a) Về cơ sở chính trị:

Việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, Luật chỉ quy định những vấn đề có tính ổn định, lâu dài, liên quan đến quyền con người, quyền công dân và các nguyên tắc, chính sách lớn; đối với các nội dung mang tính kỹ thuật, quy trình, tổ chức thực hiện hoặc có tính biến động cao thì giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thi hành.

b) Về cơ sở pháp lý:

- Khoản 3 Điều 96 Hiến pháp quy định Chính phủ thống nhất quản lý về các lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; khoản 5 Điều 96 Hiến pháp quy định Chính phủ thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia và lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. Đây là cơ sở hiến định để làm rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc phân công, phân định nhiệm vụ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ trong thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

- Luật Tổ chức Chính phủ quy định nguyên tắc phân định thẩm quyền, tại khoản 4 Điều 6 Luật này quy định “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực; thực hiện phân công phạm vi quản lý nhà nước cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ”.

Như vậy, việc phân công cơ quan nào trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; Luật Tổ chức Chính phủ là luật gốc của nền hành chính nhà nước, cần được quán triệt và thực hiện thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Tại Văn bản số 229/UBTVQH16-PLTP ngày 03/9/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Văn bản số 9406/VPCP-TCCV ngày 15/9/2026 của Văn phòng Chính phủ nêu: “Tuân thủ nguyên tắc quy định chi tiết ngay trong luật, pháp lệnh, nghị quyết và xác định cụ thể tên Bộ, ngành, cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính đối với các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội”.

Cơ quan soạn thảo thấy rằng, việc phân công cơ quan nào thuộc Chính phủ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính không ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trình tự tố tụng, thực hiện các khuyến nghị, cam kết, thỏa thuận quốc tế hoặc vấn đề khác được xác định là cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Do đó, việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này không trái với nội dung của Văn bản số 229/UBTVQH16-PLTP và Văn bản số 9406/VPCP-TCCV.

c) Về cơ sở thực tiễn:

Vừa qua, Chính phủ đã sắp xếp, điều chỉnh, phân định một số nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan thuộc Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực để phù hợp tình hình thực tiễn. Nhiều trường hợp cùng một lĩnh vực quản lý nhà nước nhưng Chính phủ giao một số cơ quan cùng thực hiện công tác quản lý nhà nước để phù hợp tình hình thực tiễn. Nếu quy định cụ thể trong dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sẽ không bảo đảm tính linh hoạt do Quốc hội sẽ phải sửa đổi Luật khi Chính phủ điều chỉnh sự phân công giữa các cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

d) Qua rà soát, nhiều luật mới ban hành trong thời gian gần đây không quy định cụ thể tên cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện công tác quản lý nhà nước:

- Luật Viên chức năm 2025: điểm a khoản 2 Điều 39 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức và phân công, phân cấp cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về viên chức.” Việc phân công cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về viên chức (Bộ Nội vụ) được quy định tại Điều 56 Nghị định số 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

- Luật Cán bộ, công chức năm 2025: khoản 2 Điều 41 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức” mà không quy định cụ thể cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này.

- Luật Thương mại điện tử năm 2025: khoản 2 Điều 7 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thương mại điện tử”. Theo đó, việc phân công cơ quan đầu mối tham mưu, giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thương mại điện tử (Bộ Công Thương) được quy định tại khoản 1 Điều 49 Nghị định số 248/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử.

- Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: khoản 1 Điều 32 quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở trong phạm vi cả nước” và không quy định cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

- Luật Dầu khí năm 2026 chỉ quy định “cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí” mà không quy định cụ thể tên cơ quan này.

- Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 được sửa đổi, bổ sung năm 2026: tại điểm a khoản 2 Điều 89 quy định trách nhiệm của Chính phủ “thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng”.

Như vậy, việc không quy định cụ thể trong dự thảo Luật về cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là cần thiết, có cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn rõ ràng. Trong quá trình xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, Chính phủ sẽ phân công, phân định cụ thể nhiệm vụ giữa các cơ quan trong việc thực hiện nội dung này, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, phù hợp tình hình thực tiễn.

2. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính
Có ý kiến đề nghị cân nhắc việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (từ 01 năm đến 02 năm theo Luật hiện hành lên 01 đến 03 năm để bảo đảm phù hợp với nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính đã được quy định tại khoản 1 Điều 3 của dự thảo Luật là “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời” và “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng”. Việc nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tuy sẽ tạo điều kiện để các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thêm thời gian để phát hiện và xử lý triệt để các hành vi vi phạm hành chính nhưng cần được tiếp tục rà soát, có sự phân hóa cụ thể đối với những lĩnh vực được phép kéo dài thời hiệu xử phạt để bảo đảm việc ngăn chặn kịp thời, hạn chế thấp nhất việc gây hậu cho người dân, xã hội.

Ý kiến này được tiếp thu, giải trình, làm rõ như sau: Dự thảo Luật đã nâng thời hiệu xử phạt tối đa từ 2 năm lên 3 năm, đồng thời nâng thời hiệu xử phạt lên 2 năm hoặc 3 năm đối với một số lĩnh vực nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải bị xử lý nghiêm minh; đồng thời nâng cao tính răn đe, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của các cá nhân, tổ chức. Bên cạnh đó, việc nâng thời hiệu chỉ áp dụng đối với một số lĩnh vực xảy ra nhiều hành vi phạm phức tạp, tác động lớn đến trật tự xã hội, cần nhiều thời gian để xác minh, phân tích kiểm định, giám định như: an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; bảo vệ môi trường; khoáng sản.

Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất thời hiệu xử phạt phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

3. Về mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính

Nội dung này có ý kiến khác như sau: Việc nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức là khá cao (tăng 1,5 lần). Nếu mức phạt tiền quá cao, vượt quá khả năng tài chính thực tế của đa số cá nhân và nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dẫn đến tình trạng trốn tránh việc thực hiện, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc xử phạt nói riêng và thi hành pháp luật nói chung. Đồng thời, việc tăng mức phạt lên quá cao so với tốc độ tăng trưởng thu nhập hay khả năng chi trả của người dân, doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức và đời sống của người dân, dễ tạo ra những ý kiến, quan điểm trái chiều nên cần được tính toán, đánh giá tác động kỹ lưỡng về nhiều mặt.

Bên cạnh phương án tăng mức phạt tiền thì cần xem xét giải pháp áp dụng triệt để các biện pháp khắc phục hậu quả (như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc phá dỡ công trình không đúng quy định, buộc nộp lại số lợi bất chính có được do thực hiện vi phạm…) và hình thức phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động…).

Ý kiến được tiếp thu, giải trình, làm rõ như sau: Dự thảo Luật đã nâng mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính từ 01 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ 02 tỷ đồng lên 03 tỷ đồng đối với tổ chức; đồng thời nâng mức phạt tiền tối đa đối với một số lĩnh vực. Việc nâng mức phạt tiền để phù hợp với mức tăng lương cơ sở, thu nhập bình quân đầu người, sự phát triển của kinh tế - xã hội, bảo đảm tính răn đe, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; khám bệnh, chữa bệnh. Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để đề xuất mức phạt tiền tối đa phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

Quá trình xây dựng các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực, Chính phủ sẽ rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng để áp dụng các hình thức xử phạt khác (như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính) và các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với tính chất, mức độ của từng hành vi vi phạm và tình hình thực tiễn chứ không chỉ áp dụng hình phạt tiền.

3. Về việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Có ý kiến cho rằng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp cưỡng chế nhà nước, có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nên việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế cần quán triệt đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trong đó có nội dung về “bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân...” và cần được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện và thời hạn áp dụng, đồng thời phải có đánh giá tác động thật đầy đủ, kỹ lưỡng để bảo đảm tính thuyết phục và tạo sự đồng thuận cao.

Ý kiến này được làm rõ như sau:

a) Qua tổng kết thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính cho thấy, hiện nay pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mới chỉ có 05 biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trong đó có 04 biện pháp là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có hình thức xử phạt tiền và biện pháp cuối cùng là để cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt có biện pháp khắc phục hậu quả.

Tuy nhiên, trên thực tế còn một số hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn… và thi hành biện pháp khắc phục hậu quả chưa có cơ chế cưỡng chế cụ thể khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành. Việc thiếu các biện pháp bảo đảm cưỡng chế thi hành trên thực tế dẫn đến tình trạng quyết định xử phạt vi phạm hành chính không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, nhất là đối với các cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ, né tránh nghĩa vụ chấp hành.

b) Dự thảo Luật đã bổ sung các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt mới, gồm:

- Tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân, người đứng đầu tổ chức chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Trên thực tiễn, không ít trường hợp cá nhân vi phạm hoặc người đại diện, người đứng đầu tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn, né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt, gây khó khăn cho công tác tổ chức thi hành và thu hồi tiền phạt. Do đó, việc bổ sung biện pháp này nhằm ngăn ngừa hành vi trốn tránh nghĩa vụ, bảo đảm đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.

- Niêm phong trụ sở, địa điểm, cơ sở hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Việc bổ sung biện pháp niêm phong trụ sở, địa điểm hoặc bộ phận cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành biện pháp xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc biện pháp khắc phục hậu quả như buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh.

- Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Việc bổ sung biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; qua đó tạo tính răn đe cao, buộc tổ chức, cá nhân phải chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt được thực hiện nghiêm túc, đúng thời hạn.

- Tạm dừng đăng kiểm; tạm dừng đăng ký xe; tạm dừng cấp giấy phép lái xe.

Việc bổ sung biện pháp này nhằm tạo cơ chế áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành biện pháp xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn, bảo đảm gắn nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt với quyền tham gia giao thông, qua đó nâng cao tính răn đe, phòng ngừa vi phạm tái diễn và góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.

- Yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số hoặc thực hiện biện pháp ngăn chặn kỹ thuật, chặn truy cập đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động có thời hạn, biện pháp khắc phục hậu quả trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật.

Việc bổ sung biện pháp cưỡng chế này nhằm bảo đảm cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả trên môi trường điện tử.

c) Quá trình xây dựng dự án Luật, cơ quan soạn thảo đã đánh giá tác động kỹ lưỡng, toàn diện về việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế nêu trên. Dự thảo Luật cũng đã quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp này, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không làm ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan đến hành vi vi phạm, phù hợp với thực tiễn.

4. Về việc bổ sung biện pháp cưỡng chế “tạm hoãn xuất cảnh,” “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước,” “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số”
Có ý kiến cho rằng các biện pháp này sẽ tác động lớn đến quyền con người, quyền công dân. Do đó việc bổ sung các biện pháp này cần được cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng và quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng ngay tại dự thảo Luật.

Ý kiến được tiếp thu, làm rõ như sau:

a) Việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế “tạm hoãn xuất cảnh”, “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước”, “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số” đã được cơ quan soạn thảo nghiên cứu, rà soát, đánh giá kỹ lưỡng để bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thi hành hiệu quả. Trên thực tế, không ít trường hợp cá nhân vi phạm hoặc người đại diện, người đứng đầu tổ chức lợi dụng việc xuất cảnh để trì hoãn, né tránh nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt. Đồng thời, nhiều cá nhân, tổ chức cố tình chây ỳ không thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tiếp tục các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để thu lợi.

Riêng đối với biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số”: hiện nay, hoạt động vi phạm trên môi trường số, đặc biệt là thương mại điện tử xuyên biên giới, ngày càng phổ biến và có nhiều trường hợp đối tượng vi phạm là tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ qua Internet nhưng không có trụ sở, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Đối với các trường hợp này, nhiều biện pháp xử phạt truyền thống như tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động hoặc các biện pháp cưỡng chế gắn với hiện diện vật lý trên thực tế rất khó hoặc không thể thực hiện được. Vì vậy, cần bổ sung cơ sở pháp lý chung về các biện pháp ngăn chặn, xử lý và cưỡng chế trên môi trường số để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và khả năng thực thi pháp luật đối với các hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Do đó, cần thiết phải bổ sung 03 biện pháp cưỡng chế này để bảo đảm việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

b) Qua rà soát các quy định pháp luật, cơ quan soạn thảo thấy rằng hiện nay, một số văn bản quy phạm pháp luật đã có quy định về các biện pháp này.

- Đối với biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước”:

+ Tại khoản 2 Điều 33 Luật Thủ đô năm 2024 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp được áp dụng biện pháp yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh”.

+ Tại khoản 2 Điều 32 Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở quy định: “Trường hợp có hư hỏng phần sở hữu riêng mà ảnh hưởng đến các chủ sở hữu khác thì chủ sở hữu có trách nhiệm sửa chữa các hư hỏng đó, nếu chủ sở hữu không thực hiện sửa chữa thì đơn vị quản lý vận hành hoặc người được giao quản lý nhà chung cư được tạm ngừng hoặc đề nghị đơn vị cung cấp dịch vụ tạm ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước sinh hoạt đối với phần sở hữu riêng này...”.

- Đối với biện pháp “tạm hoãn xuất cảnh”:

Tại khoản 6 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung năm 2023) quy định trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh là “Người đang bị cưỡng chế, người đại diện cho tổ chức đang bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn”.

- Đối với biện pháp “ngừng cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông, hạ tầng số”

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15, đối với hành vi vi phạm trong thương mại điện tử có thể áp dụng các biện pháp như: chặn truy cập; tạm ngừng chức năng giao dịch của nền tảng thương mại điện tử; gỡ bỏ nội dung vi phạm; tạm ngừng hoặc chấm dứt tài khoản vi phạm trên nền tảng thương mại điện tử và các biện pháp khác phù hợp với đặc thù của môi trường số.

Do đó, việc bổ sung các biện pháp cưỡng chế nêu trên là bảo đảm phù hợp, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Dự thảo Luật đã quy định chặt chẽ về nguyên tắc, điều kiện áp dụng các biện pháp này, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, không làm ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức không liên quan đến hành vi vi phạm, phù hợp với thực tiễn.

5. Về việc chuyển thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ Tòa án Nhân dân khu vực sang Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã
Có ý kiến cho rằng theo các lập luận, quan điểm của Chính phủ khi xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì việc chuyển cho Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp (thay vì giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002) là xu hướng tiến bộ, vì xét về bản chất, các biện pháp này là những biện pháp cưỡng chế nhà nước, hạn chế quyền tự do của công dân, cần được xem xét quyết định theo một trình tự, thủ tục tư pháp theo đúng tinh thần “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người” đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp. Do đó, việc đề xuất chuyển lại thẩm quyền này cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là chưa thật sự phát huy tinh thần và kết quả đạt được của công cuộc cải cách tư pháp trong thời gian vừa qua.

Có ý kiến cho rằng việc chuyển giao thẩm quyền này cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời điểm này tuy cũng là phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường và phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở, nơi trực tiếp quản lý công dân, nhưng cũng cần được cân nhắc thận trọng do chính quyền cấp xã hiện đang ở vào tình trạng quá tải trong thời gian đầu thực hiện mô hình chính quyền 02 cấp.

Nội dung này được giải trình, làm rõ như sau:

a) Về cơ sở chính trị:

Ngày 18/10/2026, Văn phòng Trung ương Đảng đã có Công văn số 5841-CV/VPTW thông báo ý kiến của Bộ Chính trị về dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), trong đó đồng ý định hướng chuyển thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ Tòa án nhân dân khu vực sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

b) Về cơ sở thực tiễn:

- Đối với biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc: tính đến ngày 14/01/2026, toàn quốc có: tổng số người sử dụng trái phép chất ma tuý và người nghiện ma túy là 145.461 người, trong đó: số ngoài xã hội là 87.946 người; số trong trại tạm giam, nhà tạm giữ là 10.714 người; số trong cơ sở cai nghiện là 46.801 người.

Những người nghiện ma túy thường liên quan đến các tội phạm có tính chất nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định bổ sung Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256a). Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, những người trên 18 tuổi nghiện ma túy cần phải đưa đi cai nghiện bắt buộc chiếm tỷ lệ rất lớn trong số người nghiện ma túy và người sử dụng trái phép chất ma túy.

Hiện tại, việc xác định tình trạng nghiện ma túy, lập hồ sơ để đưa đi cai nghiện bắt buộc do Công an cấp xã thực hiện, thời gian tạm giữ người theo thủ tục hành chính để xác định tình trạng nghiện tối đa là 05 ngày. Sau đó, hồ sơ được chuyển cho Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng trong thời hạn tối đa 20 ngày.

Trong thời gian chờ Tòa án ra quyết định, không có cơ chế quản lý các đối tượng đã xác định tình trạng nghiện dẫn tới tình trạng đối tượng bỏ trốn khỏi nơi cư trú, phạm tội. Bên cạnh đó, việc Công an cấp xã (cơ quan hành chính) trực tiếp quản lý đối tượng, địa bàn, lập hồ sơ đề nghị áp dụng nhưng Tòa án nhân dân khu vực (cơ quan tư pháp) có thẩm quyền quyết định áp dụng làm phát sinh thêm khâu trung gian, kéo dài thời gian xử lý.

Bởi vậy, để quản lý chặt chẽ đối tượng phải đưa đi cai nghiện bắt buộc, phòng ngừa, ngăn chặn, kéo giảm tội phạm, xây dựng xã hội không ma túy thì việc chuyển thẩm quyền đưa đi cai nghiện bắt buộc từ Tòa án nhân dân khu vực sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nhằm tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn phòng, chống tội phạm ở Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong các nghị quyết của Đảng.

- Đối với biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:

Thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tương tự như biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc. Biện pháp này được áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm. Các đối tượng này có nguy cơ cao tiếp tục vi phạm pháp luật, phạm tội, cần thiết phải nhanh chóng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Nếu thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này tiếp tục giao cho Tòa án nhân dân khu vực sẽ dẫn đến những điểm nghẽn pháp lý, gây khó khăn trong việc phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, quản lý, giáo dục đối tượng (trong năm 2025, toàn quốc mới chỉ có 349 đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc).

Theo đó, việc chuyển thẩm quyền này nhằm:

(1) Cắt giảm trình tự, thủ tục, thời gian chuyển hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

(2) Kịp thời đưa người nghiện ma túy, người vi phạm pháp luật vào cơ sở cai nghiện ma túy công lập, cơ sở giáo dục bắt buộc để cai nghiện ma túy, lao động, học văn hóa, học nghề.

(3) Quản lý chặt chẽ người nghiện ma túy, người vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp này. Hạn chế tình trạng họ bỏ trốn; phòng ngừa nguy cơ họ tiếp tục vi phạm pháp luật hoặc phạm tội trong thời gian này.

(4) Phù hợp với chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền cấp xã sau khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; giảm tải nhiệm vụ cho Tòa án nhân dân khu vực.

(5) Phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc trực tiếp bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và quản lý công dân ở địa phương; góp phần xây dựng xã hội không ma túy, thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong các nghị quyết của Đảng.

c) Về ý kiến cho rằng việc chuyển thẩm quyền từ Tòa án nhân dân sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là chưa phát huy tinh thần cải cách tư pháp. Việc giao Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường bảo đảm quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực và bảo đảm tính khách quan trong áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do của cá nhân. Tuy nhiên, việc tiếp tục duy trì thẩm quyền của Tòa án hay phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cần được xem xét trong điều kiện tổ chức bộ máy, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước hiện nay. Việc dự thảo đề xuất chuyển thẩm quyền không nhằm phủ nhận vai trò của Tòa án trong bảo vệ quyền con người, mà xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, nơi trực tiếp quản lý địa bàn và đối tượng.

Đồng thời, do các biện pháp này có tính chất hạn chế quyền tự do của cá nhân, dự thảo Luật đã quy định chặt chẽ về căn cứ, điều kiện, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của người có thẩm quyền, quyền khiếu nại, khởi kiện và cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc phân cấp không làm giảm mức độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

d) Về ý kiến cho rằng cần cân nhắc thận trọng do chính quyền cấp xã hiện đang ở vào tình trạng quá tải trong thời gian đầu thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp.

Việc phân định, chuyển giao thẩm quyền được đề xuất trên cơ sở yêu cầu tổ chức lại nhiệm vụ, thẩm quyền theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bảo đảm cơ quan được giao thẩm quyền có khả năng giải quyết công việc kịp thời, sát địa bàn và gắn với trách nhiệm quản lý nhà nước tại cơ sở. Đối với Công an cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp xã, đây là cấp trực tiếp nắm tình hình địa bàn, quản lý dân cư, tiếp nhận và xác minh thông tin liên quan đến người thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp, vì vậy Trưởng Công an cấp xã và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có điều kiện thuận lợi để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Việc tổ chức thực hiện sẽ được đặt trong tổng thể phương án bố trí, kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực và nguồn lực theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát và cơ chế phối hợp giữa cấp xã với các cơ quan cấp tỉnh.

6. Về việc xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản đối với trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ
Có ý kiến cho rằng biên bản vi phạm hành chính không chỉ có ý nghĩa ghi nhận hành vi vi phạm mà còn là căn cứ để ghi nhận ý kiến của người vi phạm, việc giải thích quyền, nghĩa vụ của họ, đặc biệt là quyền giải trình, cũng như các tình tiết khác của vụ việc. Do đó, việc không lập biên bản trong mọi trường hợp phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm. Việc quy định tất cả các trường hợp được phát hiện bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ đều không phải lập biên bản vi phạm hành chính có thể dẫn đến việc thủ tục xử phạt không lập biên bản được áp dụng một cách dàn trải, không phân biệt tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc, làm gia tăng nguy cơ tùy nghi trong quá trình áp dụng pháp luật và ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức vi phạm.

Ý kiến này được giải trình, làm rõ như sau: Hiện nay, các hành vi vi phạm hành chính được phát hiện qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (như cân kiểm tra tải trọng xe cơ giới; phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở; hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, điều hành giao thông…) đã có đầy đủ căn cứ, dữ liệu để ra quyết định xử phạt. Cụ thể:

- Kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản, gồm các thông tin cơ bản sau: tên cơ quan, đơn vị và chữ ký, họ tên của người sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm (trường hợp xác minh được); bản ảnh, hình ảnh (đối với thiết bị ghi hình, phương tiện đo tốc độ phương tiện giao thông có ghi hình ảnh); âm thanh (đối với thiết bị ghi âm); chỉ số đo, phân tích (đối với phương tiện, thiết bị có chức năng đo lường, phân tích, kiểm định); thời gian, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm hoặc kết luận về kết quả đo lường, phân tích, kiểm định; các thông tin khác liên quan đến hành vi vi phạm (nếu có). Các thông tin nêu trên đã tương ứng với các thông tin quan trọng trong biên bản vi phạm hành chính.

- Khi có kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính và thực hiện theo các bước sau: xác định thông tin về tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính; gửi thông báo bằng văn bản yêu cầu cá nhân, tổ chức vi phạm đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền để giải quyết vụ việc, trừ trường hợp người có thẩm quyền đã xác định được cá nhân, tổ chức vi phạm và cá nhân, tổ chức có liên quan (nếu có) tại địa điểm, tuyến, địa bàn xảy ra hành vi vi phạm; ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tổ chức thi hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 44 dự thảo Luật quy định “Trường hợp chưa đủ căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc thuộc trường hợp giải trình, thì người có thẩm quyền không phải lập biên bản vi phạm hành chính nhưng phải thực hiện thủ tục quy định tại các điều 47, 48, 49 và 50 của Luật này.”

Trong trường hợp phải thực hiện các thủ tục quy định tại các điều 47 (xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính), 48 (thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử), 49 (xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính) và 50 (giải trình) của dự thảo Luật, người có thẩm quyền phải lập các văn bản, tài liệu thể hiện quá trình và kết quả thực hiện các thủ tục này, do đó sẽ đảm bảo ghi nhận khách quan, chính xác, đầy đủ quá trình, kết quả xác minh tình tiết, thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giải trình để làm căn cứ ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, trường hợp này không cần thiết phải lập biên bản vi phạm hành chính để rút ngắn quy trình, thời gian xử phạt mà vẫn bảo đảm tính chính xác, khách quan. Việc phải lập biên bản vi phạm hành chính trong các trường hợp này làm tăng thủ tục xử phạt không cần thiết, kéo dài thời gian xử lý, phát sinh chi phí và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước.

7. Về tính thống nhất với Bộ luật Hình sự
Có ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát, đối chiếu dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính với các dự thảo Luật cùng trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, đặc biệt là với dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) để không tạo ra khoảng trống pháp lý hoặc chồng lấn giữa tội phạm và vi phạm hành chính

Ý kiến này được giải trình, làm rõ như sau: Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính và dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) luôn được rà soát, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, không tạo khoảng trống pháp lý hoặc chồng lấn giữa tội phạm và vi phạm hành chính, phân định rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính. Cụ thể như sau:

- Về đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính:

+ Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức (bao gồm cả pháp nhân thương mại), trong đó có người không quốc tịch và cá nhân, tổ chức nước ngoài. Đối tượng phải chịu trách nhiệm hình sự là cá nhân, pháp nhân thương mại, trong đó có người không quốc tịch và người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài.

+ Đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm. Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối với người nước ngoài.

- Về mức phạt tiền: Mức phạt tiền tại dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính đã hợp lý so với mức phạt tiền tại dự thảo Bộ luật Hình sự, cụ thể:

+ Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng đối với tổ chức.

+ Dự thảo Bộ luật Hình sự quy định mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000.000 đồng đến 40.000.000.000 đồng đối với pháp nhân thương mại.

Trong quá trình xây dựng, sửa đổi, bổ sung các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, Chính phủ sẽ rà soát khung phạt tiền, mức phạt tiền cụ thể đối với từng hành vi vi phạm hành chính để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của từng hành vi vi phạm hành chính và hợp lý với mức phạt tiền đối với tội phạm tương ứng quy định tại Bộ luật Hình sự.

- Về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự: Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định theo hướng nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.

- Về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính: Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định theo hướng đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền. Trường hợp không có thẩm quyền xử phạt, thì phải chuyển quyết định kèm theo hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện vi phạm liên quan đến hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc, trừ trường hợp tang vật, phương tiện là vật chứng và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền xử phạt.

- Về tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” tại Bộ luật Hình sự: Dự thảo Bộ luật Hình sự quy định 91 tội phạm có tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” mà còn vi phạm. Trong quá trình xây dựng các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, Chính phủ sẽ rà soát các hành vi vi phạm hành chính để bảo đảm thống nhất với các tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự, đặc biệt là đối với các tội phạm có tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” mà còn vi phạm./.









Address

Phường Duy Tân, Tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phường Duy Tân Tỉnh Ninh Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share