Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang

Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang Hiệp hội hoạt động trên lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp

- Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh An Giang (sau đây gọi tắt là Hiệp hội) là tổ chức xã hội – nghề nghiệp tự nguyện của các tổ chức, doanh nghiệp, các cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, kỹ thuật và các nhà quản lý, chuyên viên kinh tế, kỹ thuật quan tâm đến hoạt động hội trên địa bàn tỉnh An Giang.

- Hiệp hội là tổ chức tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp

của tỉnh, nhằm mục đích đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và đất nước.

- Hiệp hội là đầu mối thúc đẩy phát triển và quan hệ giữa cộng đồng doanh nghiệp tỉnh với các cơ quan Nhà nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế thương mại và khoa học công nghệ với các tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, là đại diện của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh An Giang với các tổ chức doanh nghiệp trong nước.

- Hiệp hội là tổ chức tập hợp sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh, là cầu nối cho sự hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp hội viên thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm mục đích nâng cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập và phát triển, với tôn chỉ : Hiệp hội là tổ chức cộng đồng doanh nghiệp tỉnh trong đó hội viên vừa là chủ nhân, vừa là khách hàng của Hiệp hội và mỗi hội viên đều là khách hàng, là đối tác và là nhà đầu tư chiến lược của nhau.

Khai thác CPTPP: Hoá giải thách thức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình...
24/08/2026

Khai thác CPTPP: Hoá giải thách thức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn xanh và minh bạch chuỗi cung ứng. Vấn đề tuân thủ và khả năng đáp ứng là thách thức lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi còn khiêm tốn

CPTPP tiếp tục là một trong những động lực quan trọng mở rộng thị trường cho hàng hóa Việt Nam. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và các thành viên CPTPP năm 2025 đạt 124,5 tỷ USD, tăng 11,9% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 70,6 tỷ USD, tăng 11,5%, nhập khẩu đạt 53,8 tỷ USD, tăng 12,5%. Việt Nam đạt thặng dư thương mại 16,8 tỷ USD với các thành viên CPTPP, cao hơn mức 15,4 tỷ USD năm 2024. Riêng Canada, Mexico và Peru mang lại 12,7 tỷ USD thặng dư, tăng 22,3%.

Những kết quả này cho thấy cánh cửa thị trường CPTPP đang mở rộng nhưng nếu nhìn sâu hơn vào khả năng tận dụng ưu đãi, bức tranh chưa hoàn toàn tương xứng với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Tỷ lệ sử dụng C/O mẫu CPTPP năm 2025 chỉ đạt 7,69%, giảm so với mức 8,84% năm 2024. Điều này cho thấy phần lớn kim ngạch xuất khẩu sang các nước CPTPP vẫn chưa sử dụng C/O theo hiệp định để hưởng ưu đãi thuế quan - một trong những lợi ích trực tiếp nhất mà CPTPP mang lại.

Việc chưa sử dụng ưu đãi với tỷ lệ cao là do doanh nghiệp chưa đáp ứng được quy tắc xuất xứ, chưa có hệ thống chứng từ phù hợp… Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, vấn đề này càng rõ. Báo cáo của Bộ Công Thương chỉ ra những hạn chế như năng lực cạnh tranh còn yếu, giá thành cao, chất lượng chưa đồng đều so với tiêu chuẩn quốc tế; năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu chưa được chú trọng đúng mức. Nhiều doanh nghiệp còn hạn chế trong tiếp cận thị trường, chưa quan tâm đầy đủ đến bảo hộ thương hiệu, chứng nhận được công nhận tại nước nhập khẩu và yêu cầu về phát triển bền vững.

Đây cũng là điểm cần nhìn nhận lại trong cách tiếp cận CPTPP. Nếu trước đây, doanh nghiệp thường quan tâm trước hết đến mức thuế ưu đãi, thì nay việc hưởng được mức thuế đó chỉ là một phần của vấn đề. Để bán được hàng và duy trì đơn hàng, doanh nghiệp còn phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu từ thị trường và khách hàng.

Ngành da giày là một ví dụ. Bà Phan Thị Thanh Xuân, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công trong ngành có mức độ đáp ứng khá cao, nhưng nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt những doanh nghiệp mới chuẩn bị hướng ra thị trường xuất khẩu, vẫn còn khoảng cách lớn. “Đáp ứng CPTPP là một trong những thách thức vì phải tuân thủ quy tắc khá phức tạp, đặc biệt doanh nghiệp phải chứng minh nguồn gốc nguyên phụ liệu”, bà Xuân nói.

Thực tế, cơ hội từ CPTPP vẫn rất rõ. Theo bà Phan Thị Thanh Xuân, khách hàng Mexico đang chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam, một phần nhờ lợi thế thuế quan mà hiệp định tạo ra. Nhưng lợi thế này chỉ phát huy khi doanh nghiệp đủ năng lực đáp ứng các điều kiện đi kèm.

Xây dựng năng lực tuân thủ là điều kiện bắt buộc

Nếu coi CPTPP là cánh cửa để bước vào thị trường, ưu đãi thuế quan có thể xem là “chìa khóa”. Nhưng khi thương mại quốc tế thay đổi, doanh nghiệp cần nhiều hơn để đứng vững trên thị trường. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển bền vững, minh bạch chuỗi cung ứng và quản trị dữ liệu ngày càng trở thành điều kiện phổ biến để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Nguyễn Minh Khôi, Giám đốc Tư vấn và Chuyển đổi Viện Tony Blair vì Thay đổi Toàn cầu cho rằng, CPTPP đang bước vào giai đoạn khai thác chiều sâu, trong đó năng lực tuân thủ ngày càng quyết định khả năng tiếp cận thị trường.

“Nếu trước đây, lợi thế cạnh tranh chủ yếu đến từ khả năng tận dụng ưu đãi thuế quan, thì trong giai đoạn khai thác chiều sâu của CPTPP, lợi thế đó ngày càng được quyết định bởi khả năng đáp ứng và chứng minh sự tuân thủ các yêu cầu của thị trường”, ông Khôi nhận định.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là sự thay đổi không nhỏ. Tuân thủ không còn chỉ là hoàn thành hồ sơ để xin C/O, doanh nghiệp phải hình thành hệ thống dữ liệu về nguyên liệu, sản xuất, chất lượng, môi trường và chuỗi cung ứng, đồng thời có khả năng cung cấp thông tin nhanh chóng, nhất quán khi đối tác yêu cầu.

Nếu dữ liệu được quản lý rời rạc, mỗi lần khách hàng, ngân hàng, cơ quan quản lý hoặc tổ chức chứng nhận yêu cầu, doanh nghiệp lại phải mất thời gian tập hợp và kiểm tra. Chi phí vì vậy không chỉ nằm ở việc đáp ứng tiêu chuẩn mà còn ở quá trình chứng minh mình đã đáp ứng tiêu chuẩn.

Do đó, điều doanh nghiệp cần xây dựng không chỉ là “hồ sơ tuân thủ”, mà là năng lực tuân thủ. Trước mắt, có thể bắt đầu từ những việc căn bản như chuẩn hóa thông tin về nguyên liệu, lưu trữ chứng từ thống nhất, kiểm soát nguồn cung, số hóa dữ liệu sản xuất và chủ động cập nhật yêu cầu của từng thị trường.

Khi làm được điều đó, một bộ dữ liệu có thể phục vụ nhiều mục đích, từ chứng minh xuất xứ, đáp ứng yêu cầu truy xuất đến hỗ trợ khách hàng và ngân hàng đánh giá doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ, đây cũng là cách giảm chi phí và tránh phải làm lại cùng một công việc nhiều lần.

Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, các chuyên gia cho rằng cần sự hỗ trợ đồng bộ hơn từ Nhà nước, bộ, ngành, địa phương và hiệp hội. Thông tin về CPTPP cần chuyển từ phổ biến chung sang hướng cụ thể theo ngành hàng, thị trường và quy mô doanh nghiệp. “Điều quan trọng là phải có sự vào cuộc đồng bộ của nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp”, TS. Nguyễn Minh Phong, Thành viên Hội đồng Tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhìn nhận.

Theo đó, hệ thống thông tin cần cập nhật thường xuyên về lộ trình cắt giảm thuế, điều kiện hưởng ưu đãi, quy tắc xuất xứ cũng như những yêu cầu mới của thị trường. Cùng với thông tin, doanh nghiệp cần được hỗ trợ nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại, kết nối đối tác và nâng cao năng lực quản trị.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, lựa chọn cách tiếp cận phù hợp cũng rất quan trọng. Không nhất thiết phải lập tức mở rộng sang nhiều thị trường hay đầu tư một hệ thống quản trị quá lớn. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ một thị trường CPTPP cụ thể, một nhóm sản phẩm có lợi thế, sau đó chuẩn hóa quy trình và dữ liệu trước khi mở rộng.

Vấn đề nguyên phụ liệu cũng cần được đặt vào trọng tâm. Với những ngành có yêu cầu cao về xuất xứ như dệt may, da giày, chủ động hơn về nguồn cung trong nước sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro và thuận lợi hơn trong chứng minh xuất xứ.

CPTPP vẫn còn nhiều dư địa, nhưng để biến dư địa thành đơn hàng, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực nội sinh, sẵn sàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện của thị trường. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ tận dụng tốt hiệp định mà còn nâng sức cạnh tranh khi bước sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

MOIT

Châu Phú đưa drone vào gieo sạ lúa vụ thu đông  Ngày 24-8, xã Châu Phú (An Giang) tổ chức ra quân Tháng hành động nông n...
24/08/2026

Châu Phú đưa drone vào gieo sạ lúa vụ thu đông

Ngày 24-8, xã Châu Phú (An Giang) tổ chức ra quân Tháng hành động nông nghiệp - môi trường năm 2026, đồng thời tổ chức Ngày hội xuống giống lúa vụ thu đông. Dịp này, địa phương trình diễn gieo sạ bằng thiết bị bay không người lái, hướng đến giảm chi phí lao động, đẩy mạnh cơ giới hóa và sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải.

Tháng hành động diễn ra từ ngày 24-8 đến 18-9, tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi - thú y, thủy sản và bảo vệ môi trường.

Trong lĩnh vực trồng trọt, Châu Phú triển khai các nội dung thuộc Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp; vận động nông dân tham gia tập huấn kỹ thuật, thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật và sản xuất theo hướng tiết giảm chi phí, bảo vệ môi trường.

Tại lễ ra quân, địa phương vận động nông dân xuống giống lúa vụ thu đông đúng lịch thời vụ, đồng thời trình diễn gieo sạ bằng drone.

Việc sử dụng thiết bị bay không người lái trong gieo sạ giúp giảm nhu cầu lao động thủ công, tăng khả năng cơ giới hóa và tạo điều kiện áp dụng các quy trình sản xuất hiện đại trên đồng ruộng.

Bên cạnh sản xuất lúa, tháng hành động còn tập trung phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, xử lý chất thải chăn nuôi và thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong sản xuất nông nghiệp.

Qua đó, địa phương hướng đến nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động đến môi trường và thúc đẩy nông nghiệp theo hướng bền vững.

Theo AGO

Quy định đăng ký, khóa, kích hoạt, thu hồi, quản lý tài khoản người sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia  Chính phủ v...
24/08/2026

Quy định đăng ký, khóa, kích hoạt, thu hồi, quản lý tài khoản người sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 336/2026/NĐ-CP ngày 22/8/2026 quy định thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN.

Nghị định này quy định về việc thực hiện thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo cơ chế một cửa quốc gia, cơ chế một cửa ASEAN; quản lý, vận hành, trao đổi, chia sẻ dữ liệu thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.

Trong đó, Nghị định quy định đăng ký, khóa, kích hoạt, thu hồi, quản lý tài khoản người sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia và chữ ký số.

1. Đăng ký tài khoản người sử dụng là người khai

Người sử dụng đăng ký tài khoản và chữ ký số trên Cổng thông tin một cửa quốc gia hoặc sử dụng tài khoản định danh điện tử được cấp qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID để đăng ký, truy cập hệ thống. Các chỉ tiêu đăng ký thông tin quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện kiểm tra, đối chiếu thông tin của người khai trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận thông tin. Trường hợp thông tin khai không đầy đủ hoặc không chính xác, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo qua thư điện tử yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc thông báo không chấp nhận, đồng thời nêu rõ lý do tới người khai. Trường hợp thông tin khai đầy đủ, chính xác, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo chấp thuận qua thư điện tử cho người khai.

2. Đăng ký tài khoản người sử dụng là cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, đơn vị thuộc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực

a) Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực tổng hợp danh sách người sử dụng cần cấp mới tài khoản trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, thông tin gồm: đơn vị quản lý, họ và tên, chức danh, đơn vị công tác, số điện thoại, thư điện tử, số định danh cá nhân/số hộ chiếu, quyền sử dụng các chức năng thuộc bộ quản lý ngành, lĩnh vực trên Cổng thông tin một cửa quốc gia theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này và gửi văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy đến đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày các bộ quản lý ngành, lĩnh vực cung cấp danh sách người sử dụng cần cấp mới tài khoản theo đúng yêu cầu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia căn cứ các yêu cầu kỹ thuật về bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thực hiện xem xét số lượng người sử dụng do các bộ quản lý ngành, lĩnh vực yêu cầu cấp tài khoản, thực hiện cấp tài khoản và thông báo bằng văn bản về tên truy cập, mật khẩu mặc định đến bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Trường hợp số lượng tài khoản cấp mới ít hơn số lượng các bộ quản lý ngành, lĩnh vực yêu cầu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo gửi các bộ quản lý ngành, lĩnh vực.

3. Khóa tài khoản người sử dụng hệ thống

a) Trong trường hợp cần khóa tài khoản, người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm gửi cho đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia bằng văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy trước 03 ngày kể từ thời điểm đề nghị khóa tài khoản, trong đó nêu rõ thông tin tài khoản, lý do khóa tài khoản, thời điểm đề nghị khóa tài khoản;

b) Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa tài khoản theo thời điểm đề nghị khóa tài khoản nêu tại điểm a khoản này. Trong trường hợp thời điểm đề nghị khóa tài khoản sớm hơn thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản hoặc thời điểm đề nghị khóa tài khoản muộn hơn dưới 01 ngày so với thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản thì thời gian khóa tài khoản là 01 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được văn bản đề nghị khóa tài khoản;

c) Trong trường hợp khẩn cấp ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, ann ninh dữ liệu, người sử dụng hệ thống hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực gửi thông báo về đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông qua hình thức điện thoại hoặc thư điện tử để đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa ngay tài khoản. Chậm nhất trong thời gian 05 giờ làm việc kể từ thời điểm khóa tài khoản, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thông báo cho người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực bằng một trong các hình thức: văn bản, thư điện tử hoặc điện thoại;

d) Trong trường hợp đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia phát hiện các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu thì thực hiện khóa ngay tài khoản và thông báo tới người khai, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực ngay sau khi hoàn thành việc khóa tài khoản.

4. Kích hoạt tài khoản đã khóa

a) Để tiếp tục sử dụng tài khoản đã khóa, người khai hoặc các bộ quản lý ngành, lĩnh vực có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia, nêu rõ thông tin tài khoản, lý do đề nghị kích hoạt tài khoản, thời điểm kích hoạt;

b) Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện kích hoạt tài khoản đã khóa theo thời điểm đề nghị kích hoạt nêu tại điểm a khoản này. Trong trường hợp thời điểm đề nghị kích hoạt sớm hơn thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt hoặc thời điểm đề nghị kích hoạt muộn hơn dưới 01 ngày so với thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt thì thời gian kích hoạt là 01 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được văn bản đề nghị kích hoạt;

c) Đối với các tài khoản bị khóa do đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện khóa khi phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu của hệ thống, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ thực hiện rà soát, đánh giá nguyên nhân và mức độ rủi ro. Trường hợp kết quả đánh giá xác định không còn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ thực hiện kích hoạt lại tài khoản đã bị khóa để người sử dụng tiếp tục thực hiện các thủ tục hành chính trên hệ thống.

5. Thu hồi tài khoản

Đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện thu hồi tài khoản trong các trường hợp sau:

a) Người khai có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia đề nghị thu hồi tài khoản;

b) Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thông báo về việc giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động của người khai;

c) Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có thông báo về việc thu hồi tài khoản của người sử dụng là cán bộ, công chức, viên chức được các bộ quản lý ngành, lĩnh vực giao quyền truy cập Cổng thông tin một cửa quốc gia;

d) Vi phạm quy định của pháp luật về thực hiện quản lý, khai thác, sử dụng Cổng thông tin một cửa quốc gia;

đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Người đề nghị thu hồi tài khoản phải có văn bản điện tử có ký số hoặc văn bản giấy gửi đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia, trong đó nêu rõ thông tin tài khoản, lý do thu hồi tài khoản, thời điểm thu hồi; đối với trường hợp giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động của người khai thì phải nêu rõ thời điểm giải thể, phá sản, dừng, tạm dừng hoạt động.

Chậm nhất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi tài khoản, đơn vị quản lý Cổng thông tin một cửa quốc gia thực hiện thu hồi tài khoản và gửi văn bản thông báo kết quả thực hiện tới người đề nghị thu hồi tài khoản.

Theo Chinhphu.vn

Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ  Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ...
24/08/2026

Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1624/QĐ-TTg ngày 21/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030.

Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 theo hướng nhấn mạnh quan điểm: Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải được xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Quyết định cũng bổ sung mục tiêu của Chiến lược là thúc đẩy các giao dịch quyền sở hữu trí tuệ trên thị trường, trong đó thí điểm hỗ trợ xác định giá trị của ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ của viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (bổ sung điểm đ khoản 5 Mục II Điều 1).

Nghiên cứu, xử lý vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, nền tảng số

Về nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Chiến lược, Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số nội dung về hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Mục III Điều 1. Cụ thể:

Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật liên quan, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, bảo hộ, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong xã hội, ngăn chặn hiệu quả việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó chú trọng:

- Cập nhật các vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan đến các xu hướng khoa học và công nghệ hiện đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), để có các đề xuất điều chỉnh pháp luật phù hợp; trong đó nghiên cứu, xử lý vấn đề bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ mới, phi truyền thống như dữ liệu lớn (big data), tài sản số, công nghệ chuỗi khối (blockchain), công nghệ sinh học và công nghệ bán dẫn; vấn đề xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, nền tảng số;

- Bảo đảm các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với tính chất dân sự của quyền sở hữu trí tuệ; thúc đẩy xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự; đồng thời nâng cao chất lượng xử lý hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

- Tăng cường chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền, vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đảm bảo tính răn đe, đặc biệt đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ. Đồng thời bảo đảm quản lý chặt chẽ bí mật kinh doanh, dữ liệu chiến lược, công nghệ nguồn, công nghệ lõi, sáng chế thuộc bí mật Nhà nước, phòng ngừa chuyển giao trái phép công nghệ quan trọng; hình thành cơ chế phát hiện, cảnh báo sớm đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ gắn liền với bảo vệ quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia.

Bên cạnh đó hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giao dịch quyền sở hữu trí tuệ như: góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán, kiểm toán quyền sở hữu trí tuệ; ban hành cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng và các ưu đãi khác để thúc đẩy khai thác quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.

Nghiên cứu cơ chế đặc thù phát triển đội ngũ công chức, viên chức, chuyên gia sở hữu trí tuệ trình độ cao

Về giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Quyết định số 1624/QĐ-TTg bổ sung nhiệm vụ nghiên cứu áp dụng cơ chế tài chính, chính sách nhân lực đặc thù để phát triển đội ngũ công chức, viên chức và chuyên gia sở hữu trí tuệ có trình độ cao.

Bên cạnh đó, triển khai toàn diện dịch vụ công trực tuyến, số hóa dữ liệu về sở hữu trí tuệ; tăng cường đầu tư, phát triển hạ tầng, ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn, minh bạch và tạo thuận lợi để công chúng tiếp cận, tra cứu, phân tích và khai thác thông tin sở hữu trí tuệ.

Ứng dụng công nghệ tự động phát hiện và cảnh báo sớm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số

Về giải pháp tập trung đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động bảo vệ sở hữutrí tuệ, Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm a, b, c, d khoản 3 Mục III Điều 1, bổ sung điểm k như sau:

"a) Rà soát, phân định rõ chức năng nhiệm vụ, từng bước tinh giản đầu mối cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính; đơn giản hóa và minh bạch hóa thủ tục, cắt giảm chi phí và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Tăng cường phối hợp, xây dựng cơ chế điều phối tập trung, thống nhất giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là cơ quan tư pháp, trong đó có bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới; phối hợp nghiên cứu về việc tăng cường vai trò của tòa án trong giải quyết các vụ việc về sở hữu trí tuệ;

c) Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường kỹ thuật số; nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, chủ quản nền tảng số trong việc ngăn chặn, loại bỏ và không tiếp tay cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng;

d) Nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong thương mại điện tử;".

k) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ có chức năng giám sát, tự động phát hiện và cảnh báo sớm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số; xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về sở hữu trí tuệ được kết nối và chia sẻ liên thông bảo đảm phục vụ giám sát, cảnh báo và xử lý vi phạm thống nhất trên phạm vi cả nước."./.

Theo Chinhphu.vn

Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân  Chính phủ ban hành Nghị định số 330/20...
24/08/2026

Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, đáng chú ý là quy định xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định này gồm 4 chương, 82 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Các hành vi vi phạm hành chính khác có liên quan đến lĩnh vực an ninh mạng và lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại các nghị định đó của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Trường hợp một hành vi đồng thời vi phạm quy định của Nghị định này và nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng bản chất hành vi và căn cứ pháp lý để áp dụng xử phạt. Trường hợp hành vi đồng thời được quy định tại Nghị định này và nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác thì áp dụng Nghị định này nếu hành vi vi phạm trên lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; trường hợp dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành khác thì áp dụng nghị định của lĩnh vực đó.

Đối tượng, nguyên tắc áp dụng

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong phạm vi lãnh thổ, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức), trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Tổ chức quy định tại khoản 1 nêu trên bao gồm:

a) Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp;

b) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã;

c) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư;

d) Tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội khác;

đ) Doanh nghiệp nước ngoài hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, dịch vụ cung cấp nội dung trên không gian mạng, công nghệ thông tin, an ninh mạng, cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; cơ quan, tổ chức nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước;

e) Điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, trò chơi điện tử công cộng, truy nhập Internet công cộng;

g) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và không gian mạng;

h) Đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài sử dụng tần số vô tuyến điện;

i) Nhà đăng ký tên miền; tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tên miền;

k) Chủ quản hệ thống thông tin và đơn vị vận hành hệ thống thông tin;

l) Tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

3. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.

4. Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp.

Xử phạt hành chính đối với các vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm quy định về: Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm; lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; xử lý dữ liệu cá nhân gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự; nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân của chủ thể dữ liệu cá nhân; về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; về thủ tục thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân; quyền rút lại sự đồng ý và quyền hạn chế xử lý dữ liệu cá nhân; quyền xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân; xử lý dữ liệu cá nhân trong trường hợp không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; thu thập dữ liệu cá nhân; cung cấp dữ liệu cá nhân; công khai dữ liệu cá nhân; xóa, hủy, khử nhận dạng dữ liệu cá nhân; chuyển giao dữ liệu cá nhân; mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân; thông báo vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân; đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân; chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới; chỉ định nhân sự, bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân; cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân; kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân…

Phạt đến 60 triệu đồng đối với hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của tổ chức, cá nhân

Về vi phạm quy định nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với các hành vi sau:

a) Xử lý dữ liệu cá nhân không đúng phạm vi hoặc không phù hợp với mục đích xử lý dữ liệu cá nhân đã được xác định, xin sự đồng ý, thỏa thuận hoặc vượt quá mức cần thiết để thực hiện mục đích đó;

b) Không bảo đảm tính chính xác của dữ liệu cá nhân hoặc không thực hiện chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung kịp thời khi phát hiện sai sót hoặc khi cần thiết;

c) Lưu trữ dữ liệu cá nhân vượt quá khoảng thời gian cần thiết phù hợp với mục đích xử lý dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp pháp luật quy định khác;

d) Không chủ động phòng ngừa, phát hiện, phối hợp kịp thời với các cơ quan có thẩm quyền trong xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với các hành vi sau:

a) Có hành vi chống đối, cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

b) Sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác để thực hiện các hành vi trái quy định của pháp luật.

3. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc hủy, xóa tới mức không thể khôi phục dữ liệu cá nhân đã xử lý không đúng phạm vi, không đúng mục đích hoặc lưu trữ vượt thời hạn đối với hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1 Điều này;

b) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này;

c) Buộc công khai xin lỗi chủ thể dữ liệu cá nhân trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm tại điểm b khoản 2 Điều này;

d) Buộc chỉnh sửa, cập nhật, bổ sung dữ liệu cá nhân cho chính xác theo yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc khi phát hiện sai sót đối với hành vi vi phạm tại điểm b khoản 1 Điều này.

Phạt đến 50 triệu đồng đối với hành vi xử lý dữ liệu cá nhân thu thập khi chưa có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân

Về vi phạm quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Xử lý dữ liệu cá nhân sau khi thu thập mà chưa có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Kèm theo điều kiện bắt buộc, từ chối cung cấp dịch vụ nếu chủ thể dữ liệu cá nhân không đồng ý xử lý dữ liệu cá nhân vào các mục đích khác không liên quan đến nội dung thỏa thuận cung cấp dịch vụ đó;

c) Thiết lập phương thức mặc định đồng ý, tạo ra các chỉ dẫn không rõ ràng, gây hiểu lầm giữa đồng ý và không đồng ý cho chủ thế dữ liệu cá nhân;

d) Việc xin sự đồng ý không được thể hiện bằng phương thức rõ ràng, cụ thể, không bảo đảm khả năng kiểm chứng về việc xác định chủ thế dữ liệu cá nhân đã thực hiện sự đồng ý, thời điểm và nội dung được đồng ý;

đ) Không cung cấp cho chủ thể dữ liệu cá nhân các thông tin minh bạch về loại dữ liệu cá nhân được xử lý, mục đích xử lý dữ liệu cá nhân, các quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân, Bên kiểm soát hoặc Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân dẫn đến sự đồng ý không dựa trên cơ sở tự nguyện và biết rõ;

e) Hình thức xin sự đồng ý không bảo đảm chủ thể dữ liệu cá nhân được đồng ý với từng mục đích xử lý dữ liệu cá nhân;

g) Không ghi nhận, không lưu trữ nhật ký về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, không chứng minh được đã có sự đồng ý khi có yêu cầu của chủ thế dữ liệu cá nhân hoặc yêu cầu thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Không thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân biết dữ liệu cá nhân nhạy cảm của họ đang được xử lý.

2. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cố ý tiếp tục thực hiện xử lý dữ liệu cá nhân sau khi chủ thể dữ liệu cá nhân đã có yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản;

b) Thực hiện thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu cá nhân giữ im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin sự đồng ý, tự ý coi sự im lặng là đồng ý.

3. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc hủy, xóa tới mức không thể khôi phục dữ liệu cá nhân thu thập, xử lý khi không có sự đồng ý hợp lệ đối với hành vi vi phạm tại điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều này;

b) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tại khoản 2 Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/8/2026./.

Theo Chinhphu.vn

Address

2A Ngô Gia Tự, Phường Long Xuyên, Tỉnh An Giang
Long Xuyên
0296

Opening Hours

Monday 07:15 - 17:00
Tuesday 07:15 - 17:00
Wednesday 07:15 - 17:00
Thursday 07:15 - 17:00
Friday 07:15 - 17:00

Telephone

+842963855910

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang:

Shortcuts

Share