Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang

Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang Hiệp hội hoạt động trên lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp

- Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh An Giang (sau đây gọi tắt là Hiệp hội) là tổ chức xã hội – nghề nghiệp tự nguyện của các tổ chức, doanh nghiệp, các cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, kỹ thuật và các nhà quản lý, chuyên viên kinh tế, kỹ thuật quan tâm đến hoạt động hội trên địa bàn tỉnh An Giang.

- Hiệp hội là tổ chức tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp

của tỉnh, nhằm mục đích đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà và đất nước.

- Hiệp hội là đầu mối thúc đẩy phát triển và quan hệ giữa cộng đồng doanh nghiệp tỉnh với các cơ quan Nhà nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế thương mại và khoa học công nghệ với các tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, là đại diện của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh An Giang với các tổ chức doanh nghiệp trong nước.

- Hiệp hội là tổ chức tập hợp sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh, là cầu nối cho sự hợp tác kinh tế giữa các doanh nghiệp hội viên thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm mục đích nâng cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập và phát triển, với tôn chỉ : Hiệp hội là tổ chức cộng đồng doanh nghiệp tỉnh trong đó hội viên vừa là chủ nhân, vừa là khách hàng của Hiệp hội và mỗi hội viên đều là khách hàng, là đối tác và là nhà đầu tư chiến lược của nhau.

An Giang trên hành trình kiến tạo cực tăng trưởng mới - Bài 1: Mở không gian phát triển  Sau sáp nhập, An Giang bước vào...
27/05/2026

An Giang trên hành trình kiến tạo cực tăng trưởng mới - Bài 1: Mở không gian phát triển

Sau sáp nhập, An Giang bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô không gian rộng lớn và cấu trúc kinh tế đa dạng hơn. Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở ra không gian phát triển mới mà còn đặt nền tảng hình thành các động lực tăng trưởng, từng bước hiện thực hóa khát vọng đưa An Giang trở thành cực phát triển năng động của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Loạt bài 3 kỳ “An Giang trên hành trình kiến tạo cực tăng trưởng mới” phản ánh hành trình chuyển đổi đó.

An Giang đứng trước bước ngoặt phát triển chưa từng có khi không gian địa lý, cấu trúc kinh tế và vai trò trong vùng đồng loạt thay đổi. Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn đặt nền tảng để tổ chức lại toàn bộ mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới.

Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy tổ chức không gian phát triển của địa phương sau khi hoàn tất sắp xếp đơn vị hành chính.

Quy hoạch mở không gian

Sau sáp nhập, An Giang có quy mô gần 9.900km², hội tụ đầy đủ các không gian chiến lược như đồng bằng, biên giới, biển và đảo, tạo ra dư địa phát triển rộng lớn hơn trước. Sự thay đổi này đồng nghĩa với việc mô hình phát triển cũ, vốn dựa nhiều vào nông nghiệp truyền thống và không gian nội địa không còn phù hợp.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, áp lực cạnh tranh vùng gia tăng và xu hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế số trở thành yêu cầu tất yếu, An Giang buộc phải thay đổi tư duy phát triển. Quy hoạch lần này vì vậy không chỉ nhằm khai thác tiềm năng mà hướng đến tái cấu trúc toàn diện mô hình tăng trưởng.

Điểm cốt lõi của quy hoạch không nằm ở việc xác định các chỉ tiêu phát triển mà ở cách tiếp cận. Nếu trước đây phát triển chủ yếu dựa trên địa giới hành chính thì nay chuyển sang tổ chức không gian theo các hành lang kinh tế, các trục động lực và các vùng liên kết chiến lược.

Cốt lõi của quy hoạch lần này là chuyển từ phát triển theo địa giới hành chính sang phát triển không gian kinh tế liên kết vùng. Trong cách tiếp cận đó, quy hoạch trở thành công cụ để tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển, tạo nền tảng cho thu hút đầu tư và điều hành chính sách trong dài hạn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hồ Văn Mừng nhấn mạnh: “Điều quan trọng nhất mà quy hoạch lần này mở ra chính là một không gian phát triển mới, rộng hơn, mở hơn, liên kết hơn và hiệu quả hơn”. Quan điểm phát triển của tỉnh được xác định theo hướng bền vững, hiện đại, lấy con người làm trung tâm, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực. Không gian phát triển được tổ chức theo các trục kinh tế và vùng liên kết.

Thực tế cho thấy, nền tảng tăng trưởng đang được củng cố. Quý I/2026, GRDP của tỉnh tăng 7,8%, đứng đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phản ánh những tín hiệu tích cực từ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Thị Thục Anh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học VinUni cho rằng, việc tổ chức lại không gian phát triển theo hướng mở không chỉ tạo dư địa tăng trưởng mà còn là điều kiện để địa phương nâng cao năng lực thích ứng và khả năng tham gia sâu hơn vào cạnh tranh vùng.

Đặc biệt, quy hoạch xác định mô hình phát triển theo hướng “đa cực, tích hợp, liên kết vùng”. Theo đó, thay vì tập trung vào một khu vực, An Giang hình thành các cực tăng trưởng, các vùng động lực và các hành lang kinh tế, tạo sự lan tỏa đồng đều.

Từ một tỉnh đầu nguồn, không gian phát triển của An Giang được mở rộng theo trục “sông - biển - đảo - biên giới”. Đây không chỉ là sự mở rộng về địa lý mà là sự thay đổi căn bản trong cách tổ chức (tư duy) phát triển, từ khép kín sang mở, từ cục bộ sang liên kết.

Liên kết tạo vị thế

Nếu quy hoạch mở ra không gian thì liên kết vùng là yếu tố quyết định để không gian đó trở thành động lực thực tế. Trong điều kiện hiện nay, không một địa phương nào có thể phát triển đơn lẻ mà phải đặt mình trong tổng thể liên kết vùng và quốc gia.

Theo định hướng quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phát triển của các tỉnh trong vùng phải gắn với tăng cường liên kết nội vùng và ngoại vùng, đặc biệt là các trục Đông - Tây, hướng biển, nhằm tạo ra không gian phát triển mới. Điều này mở ra cơ hội để An Giang tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, kết nối với TP. Hồ Chí Minh, vùng Đông Nam Bộ và tiểu vùng Mekong. Trong đó, hạ tầng được xác định là khâu đột phá. Các tuyến giao thông liên vùng, kết nối biên giới, nội địa và biển, đảo đóng vai trò “xương sống”, giúp giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư. Cùng với hạ tầng, việc phát triển các lĩnh vực như logistics, kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao đang tạo ra những động lực tăng trưởng mới. Đây là những ngành có khả năng lan tỏa mạnh, phù hợp với không gian phát triển đã được mở rộng.

Toàn tỉnh hiện có 1.493 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn 226.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy, liên kết vùng không còn là định hướng mà từng bước hình thành nền tảng kinh tế có khả năng kết nối và lan tỏa. Ông Nghiêm Giới Hòa - Chủ tịch Tập đoàn Xây dựng Thái Bình Dương (China Pacific Construction Group) nhận định: “An Giang sở hữu không gian phát triển rộng lớn, hội tụ đầy đủ các yếu tố từ biên giới đến biển, đảo, là vùng đất giàu tiềm năng cho đầu tư dài hạn”.

Quan trọng hơn, việc mở rộng không gian phát triển không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn góp phần định hình lại vai trò của An Giang trong thế trận phát triển vùng, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong giai đoạn mới. “Người dân rất kỳ vọng vào quy hoạch lần này bởi không chỉ mở ra cơ hội phát triển kinh tế mà còn thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống”, ông La Hồng Phong - Bí thư Đảng ủy xã Tân An chia sẻ.

Từ một tỉnh đầu nguồn, An Giang đang từng bước bước ra không gian phát triển rộng lớn hơn. Đây không chỉ là sự mở rộng về địa lý mà là bước chuyển căn bản về tư duy phát triển, từ cục bộ sang liên kết, từ khai thác riêng lẻ sang tạo lập giá trị.

Không gian đã mở, liên kết đã hình thành, vấn đề đặt ra không còn là tiềm năng mà là năng lực tổ chức thực hiện. Khi quy hoạch đã định hình rõ hướng đi, câu hỏi lớn nhất lúc này là làm thế nào để biến những lợi thế đó thành động lực tăng trưởng thực chất. Đây chính là điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới, nơi An Giang không chỉ khai thác tiềm năng sẵn có mà từng bước khẳng định vai trò trong không gian phát triển chung của vùng và cả nước.

Theo AGO

Chuyển kinh tế nâu thành xanh  Những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế đang buộc doanh nghiệp thay đổi c...
27/05/2026

Chuyển kinh tế nâu thành xanh

Những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế đang buộc doanh nghiệp thay đổi cách sản xuất. Chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà trở thành điều kiện để giữ đơn hàng, mở rộng thị trường và phát triển bền vững.

Theo Thạc sĩ chính sách công Fulbright Nguyễn Thị Thu Nga - Tổ chức AEA Việt Nam, nền kinh tế truyền thống được gọi là “kinh tế nâu”, vì phát triển dựa trên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức, gây suy thoái và phá hủy hệ sinh thái. Đặc trưng của mô hình này là tiêu hao một lượng lớn năng lượng hóa thạch, xả thải bừa bãi và phát thải lượng lớn khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Với tư duy ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn, các doanh nghiệp “kinh tế nâu” thường ít quan tâm đến môi trường và thiếu trách nhiệm đối với xã hội.

Ngược lại, “kinh tế xanh” xuất hiện như một giải pháp bền vững nhằm cân bằng giữa sự phát triển kinh tế và bảo vệ hành tinh. Nền kinh tế này tập trung vào việc tiết kiệm tài nguyên, cắt giảm rác thải, sử dụng năng lượng một cách hiệu quả và bảo vệ đa dạng sinh học. Quan trọng hơn, kinh tế xanh hướng đến mục tiêu tạo ra giá trị tốt hơn cho khách hàng, người lao động và toàn xã hội một cách tử tế và minh bạch.

Chuyên gia Nguyễn Thị Thu Nga dẫn chứng câu chuyện tồn dư Cadimi, ùn tắc kiểm nghiệm và nguy cơ mất thị trường xuất khẩu của ngành sầu riêng miền Tây trong tháng 5 vừa qua. Trong nhiều bài học rút ra, cần chú trọng việc tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật, bảo đảm truy xuất nguồn gốc, xây dựng chuỗi sản xuất, tiêu thụ bền vững, cùng với hệ thống vận chuyển nhanh chóng, tiết kiệm chi phí tối đa.

Tại buổi tọa đàm chia sẻ “Chuyển đổi xanh - Cơ hội cho thanh niên khởi nghiệp” tại phường Long Xuyên vào giữa tháng 5, bà Nguyễn Thị Thu Nga thông tin: “Sự chuyển dịch kinh tế từ nâu sang xanh được thúc đẩy bởi 5 yếu tố cốt lõi mang tính toàn cầu và quốc gia: Hàng rào kỹ thuật về môi trường, cơ chế định giá carbon (như CBAM của EU) và các luật định nghiêm ngặt tại Việt Nam đang buộc doanh nghiệp phải thay đổi nếu không muốn bị từ chối. Các tập đoàn lớn trên thế giới đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo tiêu chuẩn xanh. Doanh nghiệp nào đứng ngoài luồng sẽ lập tức bị gạt bỏ. Cùng với đó, hành vi người tiêu dùng thay đổi rõ rệt. Thế hệ người tiêu dùng hiện đại, nhất là giới trẻ, có xu hướng lựa chọn sản phẩm an toàn cho sức khỏe và thân thiện với môi trường. Chúng tôi luôn khuyến nghị: Ai đi trước trong chuyển đổi xanh sẽ có lợi thế. Ai chậm thay đổi có thể bị loại khỏi cuộc chơi”.

Để hiện thực hóa kinh tế xanh, bộ tiêu chuẩn ESG đang được chọn làm kim chỉ nam cho doanh nghiệp bước vào sân chơi mới. ESG được cấu thành từ 3 trụ cột cốt lõi: E (Environment - Môi trường), tức là doanh nghiệp cần chủ động cắt giảm rác thải nhựa, tiết kiệm điện, nước, giảm phát thải khí nhà kính và tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. Tiêu chuẩn S (Social - Xã hội) chú trọng đảm bảo tính an toàn cho sức khỏe khách hàng; đối xử công bằng, xây dựng môi trường lao động an toàn và đóng góp tích cực cho sự phát triển của cộng đồng. Cuối cùng, tiêu chuẩn G (Governance - Quản trị) đòi hỏi sự minh bạch trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ghi chép tài chính rõ ràng, tuân thủ nghiêm túc quy định pháp luật về thuế, hợp đồng và chất lượng sản phẩm.

Chuyển đổi xanh không nhất thiết bắt đầu từ các siêu dự án công nghệ, đắt đỏ mà có thể khởi nguồn từ việc “nhìn lại quê mình có gì” để khai thác một cách thông minh, tạo ra mô hình tuần hoàn biến rác thải thành tài nguyên. Minh chứng rõ nét nhất là mô hình sản xuất nấm mối Nàng Nương của bà Châu Thị Nương, ngụ xã Cô Tô, được xem là phụ nữ Khmer đầu tiên của tỉnh tham gia mô hình ứng dụng nông nghiệp tuần hoàn từ phụ phẩm nông nghiệp.

“Bằng cách tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp khổng lồ và sẵn có tại địa phương là rơm rạ từ các cánh đồng, tôi biến rác thải nông nghiệp thành phôi nấm sạch để cho ra thị trường sản phẩm chất lượng cao, giải quyết bài toán đốt rơm gây ô nhiễm không khí”, bà Nương chia sẻ. Từ sáng tạo này, bà trở thành “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2025” do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam bình chọn. Trước đó, doanh nghiệp của bà cũng nằm trong top 10 doanh nghiệp xuất sắc nhất cuộc thi Sáng kiến ESG Việt Nam năm 2023.

Tại phường Long Xuyên, Công ty Bình Minh Food thành lập 2022, chuyên sản xuất và cung cấp sản phẩm trái cây sấy giòn, công suất 5 tấn/ngày. Anh Huỳnh Lân - Giám đốc Công ty Bình Minh Food cho biết: “Với định hướng mang nông sản Việt Nam đến gần hơn với người tiêu dùng trong và ngoài nước, chúng tôi tuyển chọn nguồn nguyên liệu tươi từ các vùng trồng đạt chuẩn, đảm bảo độ chín tự nhiên và hương vị đặc trưng của trái cây nhiệt đới”.

Sản phẩm mít sấy giòn được chế biến bằng công nghệ sấy hiện đại, quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ khâu chọn nguyên liệu, chế biến đến đóng gói, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Theo bà Vương Mai Trinh - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Long Xuyên, nhóm sản phẩm của công ty được phường kết nối đưa lên sàn thương mại điện tử, ghi nhận doanh số cao, là sản phẩm OCOP tiềm năng của địa phương, hướng đến đạt chuẩn GlobalGAP để xuất khẩu.

Việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ESG vào sản xuất giúp nông sản Việt Nam nói chung, An Giang nói riêng xanh hơn, sạch hơn, đồng thời đạt được sự minh bạch, nâng cao giá trị bản địa để tự tin bước ra thị trường quốc tế. Chuyển đổi xanh bắt đầu từ những hành động nhỏ, tử tế, biến thách thức của biến đổi khí hậu thành cơ hội vàng cho phát triển bền vững.

Theo AGO

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ  So với quy định hiện hành, dự thảo Thông tư về k...
27/05/2026

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ

So với quy định hiện hành, dự thảo Thông tư về kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu của Bộ Công Thương đã đề xuất nhiều điểm mới theo hướng tăng cường quản lý rủi ro, bổ sung tiêu chí xác minh cụ thể và phân định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Để hiểu rõ hơn về những đề xuất này, phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính đã có cuộc trao đổi với TS Khúc Đại Long, Phó Trưởng khoa Marketing, Trường Đại học Thương mại.

Phóng viên: Dự thảo Thông tư lần này được đánh giá là có nhiều thay đổi so với Thông tư số 39/2018/TT-BCT. Theo ông, đâu là thay đổi đáng chú ý nhất?

TS Khúc Đại Long: Điểm nổi bật của dự thảo lần này là xu hướng quy định cụ thể hơn trách nhiệm kiểm tra, xác minh xuất xứ trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu ngày càng phức tạp và chịu sức ép lớn từ thị trường quốc tế.

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ

---------------------------------

Xác minh xuất xứ hàng hóa: Bài toán quản lý rủi ro và chi phí tuân thủ

Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một cơ chế rõ ràng, ổn định và có thể dự báo được. Bởi trong hoạt động xuất khẩu, chỉ cần một lô hàng bị kéo dài thời gian xác minh, phải giải trình nhiều lần hoặc rơi vào diện nghi ngờ xuất xứ, toàn bộ tiến độ giao hàng phía sau đều có thể bị ảnh hưởng.

TS Khúc Đại Long

---------------------------------

Thực tế giai đoạn 2019 - 2024 cho thấy, công tác kiểm tra xuất xứ đã được triển khai với tần suất khá cao. Theo báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT, có hơn 6.000 bộ C/O được kiểm tra theo đề nghị của cơ quan Hải quan nước ngoài và trên 50.000 bộ C/O được rà soát để phục vụ quản lý rủi ro, chống gian lận xuất xứ. Cùng với đó, nhiều trường hợp vi phạm cũng đã bị phát hiện và xử lý. Điều này cho thấy áp lực quản lý trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa đang ngày càng lớn.
So với trước đây, dự thảo mới phân tách rõ hơn giữa hoạt động kiểm tra hồ sơ và xác minh trực tiếp tại cơ sở sản xuất. Nếu như các quy định hiện hành còn khái quát thì tại dự thảo nhiều tình huống đã được cụ thể hóa chi tiết hơn, từ việc kiểm tra tính hợp lệ của C/O, đối chiếu nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất đến rà soát mã HS và tỷ lệ chuyển đổi mã số hàng hóa.

Theo tôi, cách tiếp cận này sát thực tế hơn nhiều. Bởi hiện nay, việc xác định xuất xứ không chỉ dừng ở hồ sơ giấy tờ. Nhiều thị trường nhập khẩu đang kiểm tra rất kỹ năng lực sản xuất thực tế, khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ cũng như tính minh bạch trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp xuất khẩu.

Phóng viên: Dự thảo lần này dành nhiều nội dung cho việc kiểm tra rủi ro và ngăn chặn gian lận xuất xứ. Theo ông, đâu là áp lực khiến cơ quan quản lý phải siết chặt hơn vấn đề này?

TS Khúc Đại Long: Bối cảnh thương mại toàn cầu đã thay đổi rất nhanh trong vài năm gần đây. Khi các hiệp định thương mại tự do mở rộng, ưu đãi thuế quan lớn hơn thì nguy cơ lợi dụng xuất xứ cũng tăng theo.

Báo cáo tổng kết thi hành Thông tư số 39/2018/TT-BCT cho thấy, cơ chế kiểm tra hiện nay đã góp phần “ngăn chặn hành vi khai sai xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế”. Tuy nhiên, thực tế triển khai cũng cho thấy vẫn còn không ít khoảng trống trong công tác quản lý và dự thảo lần này đang hướng tới việc hoàn thiện những điểm còn thiếu đó.

Có thể thấy rõ điều này qua việc dự thảo bổ sung thêm nhiều tình huống kiểm tra cụ thể. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp kê khai nguyên liệu nhập khẩu nhưng không cung cấp đủ chứng từ chứng minh xuất xứ; hoặc nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra có cùng mã HS ở cấp độ 2 số, 4 số hay 6 số nhưng không đáp ứng yêu cầu về chuyển đổi mã số hàng hóa. Những quy định chi tiết hơn cho thấy, cơ quan quản lý đang muốn chuyển sang cách kiểm tra có trọng tâm, tập trung vào các dấu hiệu rủi ro thay vì kiểm tra dàn trải như trước.

Dù vậy, điều doanh nghiệp quan tâm nhất vẫn là tính minh bạch trong quá trình thực thi. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần đủ rõ ràng để doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị và tuân thủ. Nếu khái niệm “nghi ngờ gian lận” còn quá rộng hoặc cách áp dụng giữa các địa phương thiếu thống nhất, doanh nghiệp sẽ rất khó xoay xở trong quá trình xuất khẩu.

Phóng viên: Một nội dung được nhiều doanh nghiệp chú ý, đó là dự thảo bỏ nội dung “tiền kiểm” trước khi cấp C/O, ông nghĩ sao về sự thay đổi này?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, đây là một điều chỉnh đáng chú ý và mang nhiều tín hiệu tích cực. Điểm thay đổi lớn nằm ở việc cơ quan soạn thảo định hướng tách riêng giữa khâu cấp C/O và hoạt động kiểm tra sau cấp giấy.

Thay vì tập trung nhiều vào “tiền kiểm” như trước, dự thảo đang chuyển dần sang cơ chế hậu kiểm gắn với quản lý rủi ro. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng cải cách thủ tục hành chính hiện nay, nhất là trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu đòi hỏi tốc độ xử lý rất nhanh. Với các ngành như: dệt may, gỗ hay điện tử, chỉ cần quy trình xác minh kéo dài thêm vài ngày cũng có thể ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng và chi phí của doanh nghiệp.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp không quá e ngại việc bị kiểm tra. Điều họ lo là thủ tục kéo dài, phải giải trình lặp lại hoặc mỗi cơ quan lại yêu cầu một loại hồ sơ khác nhau. Những phát sinh như vậy thường tạo áp lực lớn hơn chính việc kiểm tra.

Khi chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, cơ quan quản lý sẽ có điều kiện tập trung nguồn lực vào các trường hợp có dấu hiệu rủi ro cao, thay vì kiểm tra dàn trải. Trong khi đó, các doanh nghiệp tuân thủ tốt cũng có thể giảm bớt áp lực về thủ tục và thời gian chờ đợi.

Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả, điều quan trọng là dữ liệu giữa các cơ quan phải được kết nối đồng bộ và quy trình phối hợp cần đủ thông suốt. Nếu thông tin còn phân tán hoặc cách xử lý chưa thống nhất, nguy cơ phát sinh vướng mắc cho doanh nghiệp vẫn sẽ còn.

Phóng viên: Vai trò của cơ quan Hải quan và địa phương đề cập tại dự thảo cũng được mở rộng hơn trong quá trình kiểm tra, xác minh xuất xứ. Sự thay đổi này sẽ tác động thế nào đến công tác quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, thưa ông?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, những thay đổi trong dự thảo cho thấy xu hướng phân cấp đang được đẩy mạnh hơn trong công tác quản lý xuất xứ hàng hóa. Khi nhiều địa phương đã trực tiếp tham gia cấp C/O, trách nhiệm kiểm tra, xác minh cũng cần được phân bổ lại thay vì dồn chủ yếu về cơ quan trung ương như trước đây.

Dự thảo lần này đã mở rộng vai trò của cơ quan Hải quan trong hoạt động kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, đồng thời làm rõ hơn cơ chế phối hợp giữa cơ quan cấp C/O, Hải quan và UBND cấp tỉnh trong quá trình rà soát hồ sơ. Đây là điều cần thiết trong bối cảnh dữ liệu về xuất khẩu, nguyên liệu nhập khẩu hay năng lực sản xuất hiện đang nằm rải rác ở nhiều đầu mối khác nhau. Nếu thông tin không được kết nối đồng bộ, việc đánh giá rủi ro xuất xứ sẽ rất khó chính xác.

Tuy nhiên, phân cấp luôn đi kèm áp lực về tính thống nhất trong thực thi. Điều doanh nghiệp lo ngại nhất là tình trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau, từ yêu cầu hồ sơ đến cách đánh giá, giải trình. Chỉ cần quy trình thiếu đồng bộ, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ tăng lên đáng kể. Vì vậy, cùng với việc giao thêm thẩm quyền cho địa phương, cần có hệ thống biểu mẫu, quy trình và hướng dẫn thực hiện thống nhất để tránh phát sinh thêm vướng mắc trong thực tế.

Phóng viên: Theo ông, điều cộng đồng doanh nghiệp mong chờ nhất ở dự thảo Thông tư này là gì?

TS Khúc Đại Long: Theo tôi, điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là một cơ chế rõ ràng, ổn định và có thể dự báo được. Bởi trong hoạt động xuất khẩu, chỉ cần một lô hàng bị kéo dài thời gian xác minh, phải giải trình nhiều lần hoặc rơi vào diện nghi ngờ xuất xứ, toàn bộ tiến độ giao hàng phía sau đều có thể bị ảnh hưởng.

Điểm tích cực của dự thảo là đã cố gắng cụ thể hóa quy trình kiểm tra, xác minh. Việc bổ sung các biểu mẫu đi kèm như: quyết định thành lập đoàn công tác, phiếu câu hỏi hay biên bản xác minh tại cơ sở sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc chuẩn bị hồ sơ, tài liệu và quy trình phối hợp.

Tuy nhiên, điều cộng đồng doanh nghiệp quan tâm không chỉ nằm ở văn bản, mà còn ở cách thực thi trên thực tế. Các tiêu chí đánh giá rủi ro cần được quy định minh bạch, thời gian phản hồi cần hợp lý, còn yêu cầu cung cấp hồ sơ cũng nên giới hạn đúng phạm vi cần thiết để tránh phát sinh thêm áp lực thủ tục.

Tôi cũng chú ý tới tinh thần của tờ trình dự thảo khi nhấn mạnh yêu cầu “chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, trùng lắp, kéo dài, không cần thiết”. Nếu tinh thần này được thực hiện nhất quán, dự thảo sẽ không chỉ phục vụ mục tiêu chống gian lận xuất xứ, mà còn góp phần tạo ra môi trường xuất khẩu minh bạch, ổn định hơn cho các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Theo Tạp chí Kinh tế - Tài chính Online

Cắt giảm mạnh rào cản kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng  Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP có hiệu lực ...
26/05/2026

Cắt giảm mạnh rào cản kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng

Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đẩy mạnh cắt giảm “giấy phép con”, chuyển sang hậu kiểm, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp giao thông vận tải và xây dựng.

Nghị quyết do Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành ngày 15/5/2026 đã xác lập tư duy quản lý mới theo hướng kiên quyết loại bỏ các yêu cầu không cần thiết, chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trên cơ sở hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chặt chẽ.

Lĩnh vực giao thông vận tải chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cắt giảm, sửa đổi lần này. Theo đó, hàng loạt ngành, nghề kinh doanh vận tải và dịch vụ hỗ trợ sẽ được rà soát, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh.

Cụ thể, các lĩnh vực được điều chỉnh gồm vận tải đa phương thức (đường bộ, đường sắt, hàng không); dịch vụ kỹ thuật phương tiện như sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô-tô, kiểm định xe cơ giới; dịch vụ đào tạo, sát hạch lái xe ô-tô, đào tạo thuyền viên, hoa tiêu hàng hải; cùng các hoạt động liên quan hạ tầng như kinh doanh cảng hàng không, kết cấu hạ tầng đường sắt, thẩm tra an toàn giao thông.

Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh trong các lĩnh vực này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm bớt thủ tục hành chính, loại bỏ “giấy phép con” mà còn góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, qua đó giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong lĩnh vực xây dựng, Chính phủ tập trung chuẩn hóa các ngành nghề có tính chuyên môn cao, nhất là hoạt động tư vấn và kỹ thuật. Mục tiêu là quản lý chất lượng công trình dựa trên năng lực thực chất thay vì các điều kiện hành chính mang tính hình thức.

Các ngành nghề được rà soát, điều chỉnh bao gồm hành nghề quản lý dự án đầu tư xây dựng, chỉ huy trưởng công trường; khảo sát xây dựng; thiết kế, thẩm tra thiết kế; tư vấn giám sát thi công; lập quy hoạch đô thị, nông thôn; và dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.

Theo đó, phương thức quản lý sẽ chuyển sang dựa trên hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp và quy chuẩn kỹ thuật. Điều này đòi hỏi các đơn vị tư vấn, nhà thầu phải nâng cao năng lực thực chất, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các thành phần kinh tế tham gia thị trường xây dựng.

Chính phủ giao Bộ trưởng các bộ quản lý chuyên ngành khẩn trương ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thay thế trước ngày 1/7/2026. Quá trình xây dựng và ban hành phải bảo đảm công khai, minh bạch, không để phát sinh các điều kiện kinh doanh mới dưới bất kỳ hình thức nào, đồng thời ngăn chặn lợi ích nhóm, tiêu cực.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, các giấy phép đã được cấp tiếp tục có giá trị đến hết thời hạn, bảo đảm tính ổn định và liên tục trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Việc cắt giảm mạnh mẽ điều kiện kinh doanh trong hai lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng theo Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong xây dựng Nhà nước kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo động lực bứt phá phát triển trong giai đoạn mới.

Theo Nhân Dân

Cục Xuất nhập khẩu ban hành Văn bản số 500 về Lệnh 280 của Trung Quốc  Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) vừa ban hành ...
26/05/2026

Cục Xuất nhập khẩu ban hành Văn bản số 500 về Lệnh 280 của Trung Quốc

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) vừa ban hành Văn bản số 500⁄XNK-NH ngày 13/5/2026 về việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) thực thi Quy định quản lý đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc (Lệnh 280).

Theo Cục Xuất nhập khẩu, trước đó, ngày 18/3/2026, GACC đã ban hành Thông báo số 27 năm 2026 hướng dẫn triển khai các nội dung liên quan đến Lệnh 280. Nội dung này đã được Cục Xuất nhập khẩu chuyển tới các cơ quan liên quan tại Văn bản số 315/XNK-NH ngày 31/3/2026.

Cục Xuất nhập khẩu cho biết, đối với tài liệu đánh giá rủi ro các sản phẩm liên quan đến Lệnh 280, sản phẩm phải có thư giới thiệu chính thức của cơ quan có thẩm quyền khi đăng ký mã doanh nghiệp. Việc xem xét được thực hiện trên cơ sở mức độ rủi ro về an toàn thực phẩm, tỷ lệ lô hàng nhập khẩu không đạt yêu cầu, các sự cố an toàn thực phẩm nghiêm trọng từng phát sinh và sự phù hợp với thông lệ quốc tế.

Ngoài ra, việc không áp dụng gia hạn tự động mã đăng ký sẽ được xem xét trong trường hợp thông tin doanh nghiệp cần cập nhật và thẩm tra thủ công; việc đánh giá hệ thống quản lý của cơ quan có thẩm quyền và doanh nghiệp phải thực hiện thủ công; hoặc khi phát sinh sự cố đột xuất liên quan đến sản phẩm ở cấp độ quốc gia, ngành hoặc khu vực.

Đáng chú ý, theo danh mục sản phẩm và kết luận đánh giá, có 17/18 nhóm thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc phải thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo hình thức có thư giới thiệu của cơ quan có thẩm quyền. Riêng trái cây đông lạnh không thuộc diện này, trừ một số sản phẩm có yêu cầu theo nghị định thư.

Về cơ chế gia hạn, đa số nhóm sản phẩm được phép gia hạn tự động. Tuy nhiên, thịt và sản phẩm từ thịt, tổ yến và sản phẩm từ tổ yến không được áp dụng gia hạn tự động do được đánh giá có rủi ro cao.

Cục Xuất nhập khẩu cũng lưu ý, việc phân tích chi tiết rủi ro đối với 18 nhóm thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc tập trung vào các khía cạnh như nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất - chế biến, vận chuyển - bảo quản, tình hình vi phạm và thông lệ quản lý quốc tế.

Trong đó, sản phẩm yến và tổ yến cần kiểm soát các yếu tố rủi ro như nitrit, nhôm và dịch bệnh. Dầu thực vật tiềm ẩn nguy cơ nhiễm sinh vật gây hại, biến đổi gen, chỉ số axit và chỉ số peroxit. Sản phẩm bánh từ bột có nhân tiềm ẩn rủi ro về an toàn thực phẩm, vận chuyển và bảo quản.

Đối với gạo, danh mục “ngũ cốc dùng làm thực phẩm” đã được điều chỉnh thành “nhóm gạo”. Các rủi ro được lưu ý gồm nguy cơ nhiễm sinh vật gây hại, rủi ro an toàn thực phẩm, dư lượng kim loại nặng như cadimi và gạo biến đổi gen.

Cùng với đó, rau củ sấy khô có nguy cơ phát hiện sulfur dioxide, phụ gia thực phẩm vượt mức cho phép và dư lượng kim loại nặng. Bột gia vị tiềm ẩn rủi ro về mốc, chỉ số axit, chỉ số peroxit vượt ngưỡng, vi khuẩn Escherichia coli O157:H7, Salmonella và ethylene oxide (ETO). Các loại hạt và hạt giống có nguy cơ về an toàn thực phẩm và lây lan dịch hại.

Đối với sản phẩm sữa, rủi ro được cảnh báo gồm nguy cơ lây lan dịch bệnh từ động vật sang người, vi sinh vật gây bệnh như Listeria, Salmonella. Trong khi đó, thủy sản dễ gặp rủi ro về dịch bệnh động vật thủy sản, dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật, ký sinh trùng, chất ô nhiễm vượt mức và ghi nhãn không phù hợp.

Xem chi tiết văn bản tại đây:https://moit.gov.vn/upload/2005517/fck/files/500_XNK-NH_gui_cac_don_vi_ve_Lenh_280_cua_Trung_Quoc_e0db4.pdf

Cục Xuất nhập khẩu

Việt Nam - Bỉ mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư và kết nối doanh nghiệp  Ngày 19/5, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch...
26/05/2026

Việt Nam - Bỉ mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư và kết nối doanh nghiệp

Ngày 19/5, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg kiêm nhiệm EU, phối hợp cùng Liên minh Bỉ - Việt (BVA), Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Bỉ, Hà Lan, Luxembourg (VBVA) đã tổ chức Tọa đàm với chủ đề "Việt Nam trong trái tim chúng tôi và trong chiến lược kinh doanh của bạn".

Chương trình nhằm tăng cường kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác sở tại, đồng thời giới thiệu môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng như trao đổi về những cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với Bỉ và các nước châu Âu trong bối cảnh quan hệ kinh tế song phương và đa phương tiếp tục phát triển tích cực.

Chương trình có sự tham gia của đại diện Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Bỉ - Hà Lan - Luxembourg, Liên minh Bỉ - Việt, và các doanh nghiệp Bỉ và EU như Hanoi Station, MOVA PLUS, Multi Power, Forward Global.

Tại Tọa đàm, Thương vụ đã cập nhật tình hình kinh tế, xã hội, môi trường kinh doanh tại Việt Nam, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình hợp tác kinh doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác châu Âu, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của yếu tố văn hóa trong xây dựng quan hệ đối tác bền vững.

Những nội dung về sự khác biệt trong phong cách giao tiếp, cách tiếp cận công việc, xây dựng niềm tin và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài giữa văn hóa phương Tây nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng đã nhận được sự quan tâm lớn từ các doanh nghiệp tham dự.

Đại diện các đối tác Bỉ cũng chia sẻ kinh nghiệm triển khai các dự án hợp tác kinh doanh, các điều kiện nền tảng để phát triển dự án phù hợp với quy mô doanh nghiệp, năng lực vận hành và điều kiện cơ sở hạ tầng.

Các đối tác Bỉ đồng thời giới thiệu một số mô hình hỗ trợ doanh nghiệp quốc tế khi tiếp cận thị trường châu Âu, mang lại nhiều gợi mở thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam tham dự.

Thông qua chương trình, Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg kiêm nhiệm EU tiếp tục khẳng định vai trò cầu nối thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với Bỉ và khu vực châu Âu.

Thương vụ cũng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiểu biết về môi trường kinh doanh sở tại, tăng cường kết nối đối tác và từng bước mở rộng hoạt động tại thị trường châu Âu.

Bên cạnh nội dung trao đổi chuyên môn, chương trình cũng tạo không gian giao lưu thân tình thông qua hoạt động kết nối doanh nghiệp với các món ẩm thực Việt Nam, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và sản phẩm Việt Nam tới bạn bè quốc tế.

Sự kiện được tổ chức đúng dịp ngày 19/5, ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần tạo thêm ý nghĩa cho hoạt động kết nối cộng đồng doanh nghiệp, thúc đẩy tinh thần hợp tác, hội nhập và phát triển của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Bỉ và châu Âu.

Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU

Address

2A Ngô Gia Tự, Phường Long Xuyên, Tỉnh An Giang
Long Xuyên
0296

Opening Hours

Monday 07:15 - 17:00
Tuesday 07:15 - 17:00
Wednesday 07:15 - 17:00
Thursday 07:15 - 17:00
Friday 07:15 - 17:00

Telephone

+842963855910

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh An Giang:

Share