Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên

Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Chi Đoàn Khóm Mỹ Xuyên

📢 VĂN PHÒNG KHÓM MỸ XUYÊN THÔNG BÁO 📋
24/08/2026

📢 VĂN PHÒNG KHÓM MỸ XUYÊN THÔNG BÁO 📋

🇻🇳 SINH HOẠT CHI ĐOÀN KHÓM MỸ XUYÊN THÁNG 8/2026 🇻🇳📍Chiều ngày 21/8, Chi đoàn Khóm Mỹ Xuyên tổ chức sinh hoạt Chi đoàn t...
21/08/2026

🇻🇳 SINH HOẠT CHI ĐOÀN KHÓM MỸ XUYÊN THÁNG 8/2026 🇻🇳

📍Chiều ngày 21/8, Chi đoàn Khóm Mỹ Xuyên tổ chức sinh hoạt Chi đoàn tháng 8/2026 với nhiều nội dung thiết thực, ý nghĩa, tại quán Cafe 1985 trên địa bàn khóm.

⭐️ Tham dự buổi sinh hoạt có đồng chí Nguyễn Anh Duy – Bí thư Chi bộ khóm Mỹ Xuyên, kiêm Phó chủ tịch Hội LHTN Việt Nam phường Long Xuyên, đồng chí Nguyễn Văn Giang – Phó bí thư Chi bộ, Trưởng khóm.

📖 Buổi sinh hoạt là dịp để đoàn viên cùng nhau trao đổi, nắm bắt tình hình hoạt động của Chi đoàn, triển khai các nội dung và nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Đồng thời, Chi đoàn cũng tạo không khí giao lưu, gắn kết, phát huy tinh thần chủ động và trách nhiệm của mỗi đoàn viên.

🌻 Cũng trong buổi sinh hoạt, Nhân kỷ niệm 138 năm Ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 – 20/8/2026), đoàn viên Chi đoàn đã cùng nhau tìm hiểu về cuộc đời và những đóng góp to lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng đối với sự nghiệp cách mạng, người chiến sĩ cộng sản kiên trung, người con ưu tú của quê hương An Giang.

📚 Qua đó, góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên trong việc tiếp nối và phát huy truyền thống cách mạng của thế hệ cha anh, để Mỗi đoàn viên, thanh niên Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên hôm nay tiếp tục viết tiếp truyền thống bằng khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm với cộng đồng, góp phần xây dựng Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên ngày càng vững mạnh, đóng góp sức trẻ vào sự phát triển của địa phương.

KỶ NIỆM 138 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG - NHÀ CÁCH MẠNG KIÊN TRUNG, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG AN GIANG (20/...
20/08/2026

KỶ NIỆM 138 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG - NHÀ CÁCH MẠNG KIÊN TRUNG, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG AN GIANG (20/8/1888 - 20/8/2026)

20/08/2026
18/08/2026
Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup k...
17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Truyền thông New Zealand: Quan hệ với Việt Nam bước vào giai đoạn gắn kết mớiNhiều cơ quan truyền thông và giới quan sát...
14/08/2026

Truyền thông New Zealand: Quan hệ với Việt Nam bước vào giai đoạn gắn kết mới

Nhiều cơ quan truyền thông và giới quan sát tại New Zealand nhấn mạnh quan hệ giữa Việt Nam-New Zealand đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, dựa trên nền tảng tin cậy chính trị ngày càng cao.

Theo phóng viên TTXVN tại châu Đại Dương, đề cập chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới New Zealand, nhiều cơ quan truyền thông và giới quan sát tại New Zealand cùng nhấn mạnh một điểm chung: Quan hệ giữa hai nước đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, dựa trên nền tảng tin cậy chính trị ngày càng cao, thương mại tăng trưởng nhanh và những lợi ích ngày càng đan xen trong giáo dục, nông nghiệp, công nghệ, đầu tư và hợp tác khu vực.

Chuyến thăm diễn ra ngay sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2025. Theo Chính phủ New Zealand, đây là khuôn khổ quan hệ cao nhất của Việt Nam, phản ánh sự tin cậy chiến lược và tầm nhìn chung giữa hai quốc gia.

Trang tin điện tử Stuff đưa tin đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của một nguyên thủ Việt Nam tới New Zealand trong gần hai thập kỷ.

Stuff dẫn lời Thủ tướng Christopher Luxon khẳng định Việt Nam đang trở thành một đối tác ngày càng quan trọng đối với New Zealand, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng nhanh và quan hệ thương mại hai chiều mở rộng mạnh mẽ.

Theo số liệu chính thức được truyền thông New Zealand dẫn lại, kim ngạch thương mại song phương đạt 3,41 tỷ NZD (khoảng 2 tỷ USD) tính theo năm đến tháng 3/2026, tăng 72% chỉ trong 5 năm.

Thủ tướng Luxon nhấn mạnh hai bên cần tiếp tục tạo xung lực tăng trưởng trong các lĩnh vực thế mạnh như thực phẩm-nông sản, giáo dục, du lịch, công nghệ, hàng không và đầu tư, khẳng định sự gắn kết chặt chẽ với Việt Nam trực tiếp đóng góp vào sự thịnh vượng và an ninh của New Zealand.

Ở góc nhìn chiến lược, bài phân tích trên trang mạng của Asia Media Centre (thuộc Quỹ Asia New Zealand Foundation) ngày 9/8 nhận định chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm “hướng sự chú ý vào một trong những mối quan hệ phát triển nhanh nhất trong danh mục đối ngoại châu Á của New Zealand.”

Với quy mô dân số hơn 100 triệu người và tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ấn tượng, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng kinh tế hàng đầu khu vực.

Asia Media Centre đánh giá tầm vóc chuyến thăm vượt xa khuôn khổ thương mại đơn thuần. Là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam mang lại cho New Zealand một đối tác kết nối đa phương quan trọng trong nỗ lực đa dạng hóa các quan hệ kinh tế tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Việc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện phản ánh nhu cầu thực tế của cả hai phía trong việc mở rộng không gian hợp tác, từ nông nghiệp thông minh, giáo dục, ứng phó biến đổi khí hậu đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong khi đó, trang tin The Spinoff ngày 12/8 đăng bài phân tích chuyên sâu với tiêu đề “Nhà lãnh đạo với những định hướng táo bạo của Việt Nam tới New Zealand hôm nay.” Bài viết nhìn nhận chuyến thăm là bước đi chiến lược của cả hai nước nhằm chủ động đa dạng hóa đối tác trong một thế giới nhiều biến động.

The Spinoff đánh giá cao thành tựu của công cuộc Đổi mới, đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo trở thành nền kinh tế thu nhập trung bình năng động chỉ trong một thế hệ; đồng thời chú ý tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Tờ báo cho rằng định hướng coi khoa học-công nghệ là động lực tăng trưởng cốt lõi của Việt Nam sẽ tìm thấy sự đồng điệu lớn với thế mạnh nghiên cứu, giáo dục, nông nghiệp công nghệ cao của New Zealand.

Khi đặt câu hỏi “New Zealand đứng ở đâu trong bức tranh này?” - The Spinoff dẫn nhận định của Thủ tướng Luxon rằng quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam sẽ hỗ trợ cho cả thịnh vượng và an ninh của New Zealand. Tờ báo cũng nhấn mạnh Việt Nam, với thị trường hơn 100 triệu dân, tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng và ít rào cản thương mại, đang được New Zealand xác định là một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu lớn.

Không chỉ giới truyền thông, những đánh giá chính thức từ Chính phủ New Zealand trước chuyến thăm cũng cho thấy nước này đặt nhiều kỳ vọng vào giai đoạn phát triển tiếp theo của quan hệ song phương.

Trong thông cáo ngày 6/8, Thủ tướng Luxon khẳng định Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á và là đối tác ngày càng quan trọng của New Zealand. Ông bày tỏ mong muốn đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và trao đổi về “giai đoạn tiếp theo” của quan hệ hai nước.

Nhìn chung, sự quan tâm sâu rộng của truyền thông New Zealand phản ánh sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy đối ngoại đối với Việt Nam. Thay vì chỉ nhìn nhận qua các hợp tác truyền thống như viện trợ hay giáo dục, dư luận New Zealand hiện đặt Việt Nam ở tầm vóc một đối tác chiến lược toàn diện, mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, công nghệ, đầu tư xanh và quản trị đa phương./.

TTXVN

Viết tiếp chương hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam-New ZealandNhận lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng ...
13/08/2026

Viết tiếp chương hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam-New Zealand

Nhận lời mời của Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới New Zealand.

Đánh dấu lần đầu tiên một đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam thăm New Zealand, chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang tầm vóc quan trọng với lịch sử hai nước. Đây là cơ hội vàng để các nhà lãnh đạo hai nước cùng nhìn lại hành trình đồng hành, hợp tác bền bỉ trong hơn nửa thế kỷ qua, tiếp tục trao đổi phương hướng triển khai cụ thể các nội hàm của mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-New Zealand và viết tiếp chương mới của quan hệ song phương, đưa mối quan hệ vươn lên tầm cao mới, có chiều sâu chiến lược hơn nữa.

Đây cũng là chuyến thăm New Zealand đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, kiện toàn các chức danh lãnh đạo sau bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Điều này khẳng định vững chắc Việt Nam coi trọng cao độ thúc đẩy quan hệ với New Zealand - đối tác ở khu vực Nam Thái Bình Dương thân thiện, tin cậy và giàu tiềm năng hợp tác, đồng thời góp phần thắt chặt quan hệ giữa cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các nhà lãnh đạo New Zealand. Sự bền vững, vượt qua thử thách thời gian của mối quan hệ Việt Nam-New Zealand chính là hành trang vững chắc, tiếp thêm động lực mạnh mẽ để Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Việt Nam và New Zealand tuy cách xa về địa lý nhưng là những đối tác, bạn bè chân thành, gần gũi, cùng yêu chuộng hòa bình và coi trọng sự phát triển bền vững. Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1975. Hạt giống hữu nghị được gieo trồng từ hơn 50 năm trước nay đã trở thành cây xanh vươn cao.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, hai nước đã tiến những bước dài trên hành trình hợp tác, hữu nghị tốt đẹp, nổi bật là việc nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2025, năm đánh dấu mốc kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tin cậy chính trị giữa Việt Nam và New Zealand không ngừng được củng cố thông qua các cuộc tiếp xúc cấp cao thường xuyên.

Hai bên hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), ASEAN, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…

Hợp tác giữa Việt Nam và New Zealand ghi nhận những bước phát triển mạnh mẽ. Là hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao, hai bên gặt hái nhiều thành quả trong hợp tác thương mại, đầu tư song phương. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 12 của New Zealand. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai nước có tính bổ sung cao, hàng hóa xuất khẩu cơ bản không cạnh tranh trực tiếp.

Năm 2025, kim ngạch trao đổi thương mại song phương đạt 1,5 tỷ USD, tăng 15,8% so với mức cùng kỳ năm 2024. Hai bên đang tích cực thúc đẩy năm trụ cột của Chương trình hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giai đoạn 2025-2030, hướng tới mục tiêu sớm đưa kim ngạch thương mại cán mốc 3 tỷ USD. Về đầu tư, tính đến ngày 30/6/2026, New Zealand có 61 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 191 triệu USD. Việt Nam đầu tư sang New Zealand 13 dự án, với tổng vốn 44,5 triệu USD.

New Zealand là một trong những đối tác phát triển cung cấp ODA hàng đầu cho Việt Nam, chủ yếu thông qua các chương trình chuyển giao tri thức, đào tạo nâng cao năng lực, phát triển hạ tầng giao thông, quản lý thiên tai. New Zealand dành cho Việt Nam nguồn ODA ổn định và tăng dần theo từng năm, trung bình khoảng 16 triệu USD trong 4-5 năm. Các dự án ODA của New Zealand mang lại ý nghĩa thiết thực, đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Giáo dục là một điểm sáng nổi bật trong quan hệ song phương, với khoảng 2.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại New Zealand, đứng thứ 5 về tỷ lệ sinh viên quốc tế tại New Zealand. New Zealand cũng hỗ trợ đào tạo tiếng Anh cho cán bộ nguồn của Việt Nam từ rất sớm. Các chương trình học bổng của New Zealand đã góp phần tích cực giúp nhiều thế hệ cán bộ Việt Nam nâng cao năng lực, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển và hội nhập của đất nước. Bên cạnh đó, quan hệ hai nước trong các lĩnh vực như an ninh-quốc phòng, nông nghiệp, giao thông-vận tải… cũng được quan tâm thúc đẩy và gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp.

Việt Nam và New Zealand cùng là những thành viên tích cực của nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực, quốc tế quan trọng; đồng thời ủng hộ lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ trong thực thi CPTPP, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). New Zealand là Đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN, coi Đông Nam Á là ưu tiên trong triển khai chính sách khu vực, trong đó Việt Nam được coi là đối tác quan trọng hàng đầu. Gần đây, New Zealand ủng hộ ứng cử viên của Việt Nam làm Thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) nhiệm kỳ 2026-2035.

Chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhằm tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam, trong đó coi trọng quan hệ với New Zealand và khu vực Nam Thái Bình Dương.

Chuyến thăm cũng lan tỏa thông điệp mạnh mẽ rằng, trên con đường tiếp tục đổi mới và bứt phá, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự đồng hành, hỗ trợ toàn diện, sâu rộng từ bạn bè quốc tế, nhất là từ các Đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có New Zealand.

NHÂN DÂN

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-New Zealand (1975-2025), tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28/11/2025. (Ảnh: TTXVN)








Address

Số 8/2, Đường Phan Liêm
Long Xuyên

Opening Hours

Monday 07:00 - 11:00
13:00 - 17:00
Tuesday 07:00 - 11:00
13:00 - 17:00
Wednesday 07:00 - 11:00
13:00 - 17:00
Thursday 07:00 - 11:00
13:00 - 17:00
Friday 07:00 - 11:00
13:00 - 17:00

Telephone

0988884262

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Chi đoàn khóm Mỹ Xuyên:

Shortcuts

Share