Chi đoàn Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn

Chi đoàn Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chi đoàn Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn, Labor Union, Lang Son.

Hưởng ứng, chào mừng Ngày Pháp luật Việt Nam 09/11/2025; Chi đoàn Sở Xây dựng tặng sách Luật và các Nghị định, quy chuẩn...
28/11/2025

Hưởng ứng, chào mừng Ngày Pháp luật Việt Nam 09/11/2025; Chi đoàn Sở Xây dựng tặng sách Luật và các Nghị định, quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến công tác chuyên môn cho đoàn viên thanh niên để kỷ niệm Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2025.

Lật tẩy chiêu trò “thay áo” cho kẻ phạm pháp với luận điệu “để giàu rồi mới bắt”Tác giả:  TS HOÀNG ĐÌNH DUYÊNTS HOÀNG ĐÌ...
28/11/2025

Lật tẩy chiêu trò “thay áo” cho kẻ phạm pháp với luận điệu “để giàu rồi mới bắt”
Tác giả: TS HOÀNG ĐÌNH DUYÊN
TS HOÀNG ĐÌNH DUYÊN

Trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi sự kiện pháp lý đều có thể bị bóp méo, xuyên tạc nếu thiếu bản lĩnh nhận diện. Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội đã khoác lên hành vi phạm pháp lớp vỏ ngụy biện, biến kẻ vi phạm thành “người bị hại”. Một trong những luận điệu nguy hiểm đang được sử dụng gần đây là “để giàu rồi mới bắt” nhằm đánh tráo bản chất, làm sai lệch nhận thức và từng bước làm xói mòn niềm tin của người dân với xã hội.

Luận điệu xuyên tạc nguy hiểm trên mạng xã hội

Thời gian gần đây, sau khi cơ quan chức năng bắt giữ một số cá nhân có ảnh hưởng lớn trên mạng xã hội như Hoàng Hường, Nguyễn Hòa Bình, Phó Đức Nam... các thế lực chống phá lập tức tung ra luận điệu “để giàu rồi mới bắt”, “nuôi cho béo rồi mới thịt”, thậm chí mượn hình tượng “Hòa Thân”-viên quan khét tiếng tham ô trong lịch sử Trung Quốc-như một ẩn dụ để xuyên tạc, quy chụp hoạt động thực thi pháp luật.

Trước hết, về logic, một ngụy biện kiểu hậu nhân quả: Từ việc một người bị xử lý khi đã có địa vị, tài sản, họ suy diễn rằng “để giàu rồi mới bắt”, thay vì bị bắt, xử lý vì hành vi phạm tội. Chính sự đánh tráo này khiến dư luận dễ bị cuốn theo cảm xúc bất bình mà quên mất yếu tố cốt lõi của việc bị bắt căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, hành vi phạm tội.

Lật tẩy chiêu trò “thay áo” cho kẻ phạm pháp với luận điệu “để giàu rồi mới bắt”
Ảnh minh họa: VOV
Thứ hai, về pháp lý, luận điệu này phủ nhận nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, nguyên tắc nền tảng đã được Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự khẳng định, đồng thời xuyên tạc căn cứ xử lý tội phạm vốn chỉ dựa trên tài liệu, chứng cứ, không phụ thuộc địa vị hay tài sản.

Thứ ba, về phương diện xã hội-chính trị, luận điệu “để giàu rồi mới bắt” ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin công chúng, gieo vào xã hội tâm lý hoài nghi, cơ quan bảo vệ pháp luật hành động vì động cơ cá nhân, không phải vì xử lý tội phạm.

Cuối cùng, về mặt tâm lý truyền thông, đây là một chiêu thức “đánh vào cảm xúc”, khai thác đúng cơ chế vận hành cảm xúc của mạng xã hội-nơi “cảm giác” thường lấn át sự thật để gây thương cảm, tạo làn sóng phản ứng cảm tính. Trong môi trường số, kiểu ngụy biện này lan nhanh, khó kiểm chứng và dễ biến sự thật pháp lý thành câu chuyện giai tầng. Đó chính là điều nguy hiểm nhất, nó không chỉ xuyên tạc một vụ án cụ thể mà còn làm sai lệch nhận thức xã hội về công tác xử lý tội phạm.

Những luận điệu đó nhằm bóp méo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý bất bình và gieo rắc hoài nghi trong xã hội, vừa phản khoa học pháp lý, vừa làm tổn hại niềm tin vào sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật.

Pháp luật xử lý đủ căn cứ, thận trọng, nhân văn, không tùy tiện

Đảng và Nhà nước luôn khẳng định rõ: Mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý dựa trên tài liệu, chứng cứ, căn cứ pháp lý rõ ràng, không phân biệt địa vị, danh tiếng hay mức độ giàu có của người phạm tội. Việc xử lý nghiêm minh tội phạm là để bảo vệ người làm ăn chân chính, giữ vững kỷ cương, trật tự xã hội và củng cố môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, hoàn toàn không có chuyện “đợi giàu mới bắt” như những luận điệu xuyên tạc cố tình gieo rắc.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là bước khởi đầu của quá trình tố tụng, được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ. Mọi nguồn tin về tội phạm đều phải được tiếp nhận, phân loại, kiểm tra, xác minh rõ ràng; chỉ khi có đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm mới được khởi tố vụ án hình sự. Khi làm rõ người thực hiện hành vi phạm tội, mới khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn theo đúng quy định. Việc xử lý sai phạm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không nhằm triệt hạ hay cản trở người làm ăn hợp pháp, mà hướng tới bảo vệ môi trường kinh doanh minh bạch, giữ gìn kỷ cương và củng cố niềm tin xã hội.

Những luận điệu cho rằng cơ quan chức năng “chờ cho giàu rồi mới bắt” đã bị thực tế bác bỏ bằng hàng loạt vụ án về kinh tế đã được khởi tố, điều tra kịp thời, đúng pháp luật, thực tiễn xử lý các vụ án thời gian gần đây là minh chứng sinh động cho nguyên tắc này. Mỗi vụ án đều cho thấy sự vào cuộc kịp thời, chủ động, xử lý nghiêm minh của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ khởi tố, truy tố, xét xử, xử lý đúng người, đúng tội, dựa trên tài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ với căn cứ pháp lý rõ ràng.

Như vụ Hoàng Hường-lập hệ sinh thái gồm 18 công ty, 25 hộ kinh doanh và 44 cá nhân để che giấu doanh thu, trốn thuế gần 1.800 tỷ đồng, kê khai sai thuế giá trị gia tăng 2.100 tỷ đồng, đã bị khởi tố về tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Hay vụ Nguyễn Hòa Bình cùng các cổ đông sáng lập chiếm đoạt tài sản của 30.000 nhà đầu tư qua mạng lưới ví điện tử, bị phong tỏa khoảng 900 tỷ đồng; vụ TikToker Mr Pips (Phó Đức Nam) bị khởi tố với tài sản phong tỏa hơn 5.000 tỷ đồng, cho thấy quy mô và tính chất nghiêm trọng của tội phạm tài chính số. Ngay cả vụ Đức SVM-trốn thuế chỉ hơn 120 triệu đồng-cũng bị xử lý hình sự, thể hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ.

Mỗi vụ án được xử lý đúng pháp luật là thông điệp khẳng định ranh giới rõ ràng giữa hành vi làm giàu chính đáng và hành vi vi phạm pháp luật. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, trốn thuế chính là biện pháp thanh lọc trong môi trường kinh doanh, tạo nền tảng cho cạnh tranh lành mạnh và phát triển bền vững, khẳng định trong xã hội thượng tôn pháp luật, làm giàu hợp pháp luôn được tôn vinh, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều sẽ bị phát hiện, xử lý nghiêm minh.

Quan điểm nhất quán này cũng được thể hiện xuyên suốt trong các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị khẳng định: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, được bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, được tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật không cấm. Nhấn mạnh nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế thuần túy, khi doanh nghiệp có sai phạm, Nhà nước ưu tiên áp dụng biện pháp hành chính, kinh tế, dân sự để khắc phục hậu quả, hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh; chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm và chứng cứ thuyết phục. Mọi biện pháp niêm phong, kê biên, phong tỏa tài sản đều phải đúng thẩm quyền, đúng trình tự, tương xứng với tính chất vụ việc, bảo đảm thượng tôn pháp luật mà không làm tê liệt hoạt động kinh doanh hợp pháp. Nghị quyết số 68-NQ/TW vì thế không chỉ là định hướng phát triển kinh tế mà còn là thông điệp chính trị sâu sắc về tinh thần nhân văn, công bằng và trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ người làm ăn chân chính, xử lý nghiêm minh hành vi gian dối, vi phạm pháp luật.

Bảo vệ tính nghiêm minh và nhân văn của pháp luật Việt Nam

Luận điệu “để giàu rồi mới bắt” không chỉ là sản phẩm của sự xuyên tạc có chủ đích mà còn là một thủ đoạn tâm lý chiến tinh vi trên không gian mạng.

Sự nguy hiểm của luận điệu này nằm ở chỗ nó không công kích trực diện pháp luật, mà đánh thẳng vào cảm xúc, tâm lý và lòng tin của công chúng. Khi niềm tin ấy bị xói mòn, người dân sẽ nghi ngờ tính công bằng của pháp luật, còn doanh nghiệp mất đi cảm giác an toàn pháp lý để đầu tư, kinh doanh. Vì vậy, phản bác luận điệu “để giàu rồi mới bắt” không chỉ là sự định hướng về mặt tư tưởng mà còn là hành động thiết thực nhằm bảo vệ nền tảng chính trị, pháp lý và niềm tin xã hội.

Ẩn sau lớp ngụy biện “bênh vực người thành đạt” là âm mưu làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào công lý, vào sự nghiêm minh của pháp luật. Bằng cách lợi dụng các vụ án kinh tế lớn có liên quan đến những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội, đối tượng xấu cố tình gieo rắc định kiến rằng pháp luật Việt Nam “trừng phạt sự thành công”. Qua đó xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, vốn nhất quán coi đây là một động lực quan trọng của nền kinh tế, luôn khuyến khích làm giàu hợp pháp, phát triển kinh tế tư nhân đi đôi với tuân thủ pháp luật và đạo đức kinh doanh.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý theo pháp luật, không phân biệt địa vị hay tài sản. Chính sự nghiêm minh, công bằng và nhân văn ấy đã và sẽ tiếp tục là bức tường vững chắc bảo vệ người làm ăn chân chính, giữ gìn trật tự xã hội và củng cố niềm tin vào công lý Việt Nam.

Bệnh xa dân - biểu hiện hàng đầu của suy thoáiTác giả: HỒ QUANG PHƯƠNGHỒ QUANG PHƯƠNGBộ Chính trị vừa ban hành Quy định ...
28/11/2025

Bệnh xa dân - biểu hiện hàng đầu của suy thoái
Tác giả: HỒ QUANG PHƯƠNG
HỒ QUANG PHƯƠNG

Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 377-QĐ/TW về công tác cán bộ, trong đó có nội dung xem xét cho thôi giữ chức vụ đối với cán bộ quan liêu, xa dân. Không ít lần bệnh xa dân đã được điểm mặt, chỉ tên là một trong những nguy cơ gây giảm sút niềm tin của nhân dân, thậm chí ảnh hưởng tới sự tồn vong của Nhà nước ta. Thế nhưng hiện nay, ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, bệnh xa dân vẫn tồn tại, có những biểu hiện rất đáng lo ngại.

Khi xem các bộ phim, bức ảnh, các câu chuyện, nghe các bài hát về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta thường rơi nước mắt vì xúc động bởi trái tim nhân hậu, yêu thương nhân dân, cả đời vì nước, vì dân của Bác. Không phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam, từ những cụ ông, cụ bà đến những em thơ đều tôn kính gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ. Bởi vì công lao to lớn của Bác, bởi vì Bác gần gũi quá đỗi, ai cũng thấy Bác như thành viên trong gia đình mình, trong làng xã mình.

Bác ăn mặc giản dị, mặc cả quần áo tự vá, nhiều khi nom như một cụ ông nông dân. Trên đường đi công tác, thấy bà con nông dân tát nước, cấy lúa, vị Chủ tịch nước chẳng nề hà, xắn quần, lội ruộng xuống cùng bà con tát nước, cấy lúa. Thấy em bé, Bác Hồ bế lên cho kẹo, rồi để em hôn lên má mình, vuốt nhẹ lên chòm râu của mình. Các bài hát về Bác Hồ luôn thể hiện tình thương bao la của Bác: “Bác thương các cụ già..., Bác thương đàn cháu nhỏ..., Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương”...

Bệnh xa dân - biểu hiện hàng đầu của suy thoái
Ảnh minh họa: lyluanchinhtri.vn
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chữ Dân có giá trị thiêng liêng và bền vững. Do đó, Người nhấn mạnh bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng, giáo dục cán bộ công quyền phải trọng dân, gần dân, vì dân mới làm được cách mạng và đó mới là mục đích của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân”, cán bộ là “người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”. Theo đó, đạo đức lớn nhất của người cán bộ cách mạng là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Cho nên mọi biểu hiện xa dân, gây phiền hà cho nhân dân là sự vi phạm nghiêm trọng đạo đức của người cán bộ cách mạng.

Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 10 năm, từ năm 1955 đến 1965, Bác đã về địa phương, cơ sở, đến với nhân dân hơn 700 lần. Những chuyến đi của Bác thường không được báo trước, gọn nhẹ, không gây tốn kém, lãng phí cho cơ sở. Người thường mang cơm nắm đi, ăn cùng cảnh vệ cho đỡ phiền phức địa phương. Người thường rất chú ý thăm đồng bãi, công trường, nhà ăn, khu vực vệ sinh, nơi ngủ nghỉ của công nhân, người lao động. Đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời, khi đang nằm trên giường bệnh, trời Hà Nội oi nóng, y tá mang tới chiếc quạt, Bác Hồ nói: Bác ở đây đủ mát rồi, trong vườn Bác có đủ cây cối, đồng bào ta suốt ngày trên đồng ruộng, nắng nôi như thế lấy đâu ra quạt. Hãy mang chiếc quạt này cho các chú thương binh ở trại điều dưỡng...

Với công lao vĩ đại với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, với sự gần gũi, yêu thương như vậy nên dù Bác Hồ đã đi xa hơn 56 năm nhưng nhớ đến Bác, nghĩ đến Bác là chúng ta lại trào dâng cảm xúc.

Chúng ta đang đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ. Tuy vậy, bệnh xa dân trong một bộ phận cán bộ không chỉ ở phong cách làm việc, mà nguy hiểm hơn còn biểu hiện ở mục đích làm việc, mục đích sống.

Có thể kể ra một số biểu hiện của bệnh xa dân như: Thứ nhất, bệnh xa dân thể hiện ở lối làm việc quan liêu, quan cách, cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh, gây phiền hà, không thực hiện đúng bổn phận, trách nhiệm của cán bộ. Thứ hai, cán bộ không đi sâu, đi sát vào thực tiễn, xa rời quần chúng, làm việc dựa trên giấy tờ, báo cáo của cấp dưới mà thiếu kiểm tra thực tế, không lắng nghe ý kiến của dân. Thứ ba, cán bộ mắc bệnh thành tích, vẽ ra những con số xa rời thực tế, dối trá, không đoái hoài gì tới những khó khăn, vất vả của người dân. Thứ tư, các chủ trương, chính sách ban hành không phản ánh đúng lợi ích, thậm chí đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Thứ năm, không thấu cảm với nỗi vất vả của nhân dân.

Tệ hại hơn nữa là thói tham ô, tham nhũng đục khoét của dân, để rồi có lối sống xa hoa, với biệt thự, biệt phủ triệu đô, siêu xe, những đồ dùng cá nhân có khi bằng gia tài của nhiều gia đình lao động cật lực cả đời. Qua các vụ án, các trường hợp bị kỷ luật đảng trong thời gian qua, người dân mới giật mình vì mức độ xa hoa của một bộ phận cán bộ. Với những “đầy tớ” kiểu như thế làm sao người dân chẳng mất cảm tình.

Nguyên nhân của bệnh xa dân là tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, ham quyền, tham quyền cũng dẫn tới hậu quả là bệnh xa dân. Bởi vì, một bộ phận cán bộ không do năng lực, không vì tâm huyết với dân, với Đảng, với nước nhưng lại leo cao trong bộ máy công quyền, họ chỉ lo kéo bè kéo cánh tạo những nhóm lợi ích và mải thu vén cá nhân mà không lo cho dân. Kiểu cán bộ ấy vì kém tài, kém đức lại ham quyền lực, coi tổ chức đảng chỉ là công cụ để thăng quan phát tài, tự cho mình có quyền sống xa hoa hưởng lạc, sẵn sàng dùng thủ đoạn để tham ô, sa vào tội lỗi, từ đó mà càng ngày càng xa dân, xa rời tôn chỉ, mục đích cán bộ là đầy tớ của nhân dân, không còn phẩm chất của đảng viên. Bệnh xa dân, thậm chí coi thường dân còn là do cán bộ không hiểu vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của quần chúng đối với lịch sử.

Cùng với đó, những hạn chế, yếu kém trong hệ thống luật pháp, cơ chế tổ chức quản lý nhà nước, sự hiểu biết chưa cao của một bộ phận quần chúng nhân dân về vai trò của mình cũng dẫn tới bệnh xa dân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn hiệu quả.

Bệnh xa dân dẫn tới các hậu quả là chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước là đúng nhưng khi tổ chức thực hiện lại cho kết quả kém; hoặc nguy hiểm hơn là biểu hiện tham nhũng chính sách, cài cắm lợi ích trong quá trình xây dựng luật pháp. Bệnh xa dân, lối làm việc quan liêu, hách dịch gây bức xúc có nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, là cơ hội để thế lực thù địch lợi dụng đưa thông tin chống phá Đảng, Nhà nước. Sở dĩ có thể khẳng định rằng, bệnh xa dân là biểu hiện hàng đầu của suy thoái, vì cán bộ xa dân thì chắc chắn không phải là “người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân”, cán bộ ấy sẽ đề xuất ra chính sách xa dân, không vì lợi ích của dân, từ đó sẽ gây nguy cơ thay đổi bản chất chính quyền, bản chất Nhà nước ta.

Để chữa bệnh xa dân, nên chú trọng thực hiện một số nội dung sau: Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư cách đạo đức người cán bộ cách mạng theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai là, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình nhằm phát hiện, ngăn ngừa mọi biểu hiện xa dân trong các cơ quan, tổ chức. Ba là, bảo đảm dân chủ, khách quan trong công tác phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng cán bộ để chọn được cán bộ đủ đức, đủ tài, thực sự có uy tín cao trong nhân dân. Bốn là, thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời loại bỏ những cán bộ mắc bệnh xa dân ra khỏi hàng ngũ.

Trị "bệnh dối trá" để ngăn hiểm họa khôn lườngTác giả: HUY QUANGHUY QUANGTrước hết cần khẳng định: Không quá lời khi coi...
28/11/2025

Trị "bệnh dối trá" để ngăn hiểm họa khôn lường
Tác giả: HUY QUANG
HUY QUANG

Trước hết cần khẳng định: Không quá lời khi coi dối trá là hiểm họa đối với đất nước, bởi khi “bệnh" này phổ biến trong đội ngũ công quyền, khi cấp dưới “vô tư” nói dối cấp trên mà không thấy ngượng, thậm chí còn được coi là chuyện thường-thì không chỉ sự thật bị bóp méo, cấp trên không nắm được thực trạng, bản chất vấn đề để có quyết sách đúng, mà niềm tin của nhân dân, của quần chúng vào chế độ cũng bị xói mòn nghiêm trọng. Giả dối vừa là biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vừa là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

1. Vô tư... dối trá là thực tế khá phổ biến, diễn ra từ lâu trong nhiều cơ quan, đơn vị công mà có lẽ ai cũng biết. Nghiêm túc và mô phạm, phải mẫu mực làm gương cho học sinh như ngành giáo dục mà nhiều thầy, cô giáo vẫn “vô tư” dối cấp trên (thậm chí trước học sinh và các phụ huynh) khi cố tình nâng điểm và “lờ đi” những vi phạm, khuyết điểm của trường, của lớp vì sợ mất thành tích. Thế hệ trẻ đã hình thành "văn hóa" dối trá từ chính học đường!

Ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, khi báo cáo, tổng kết hoặc cấp trên đến kiểm tra thì đa số đều quán triệt tinh thần “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Ai phát biểu thẳng thắn, báo cáo đúng sự thật thì bị coi là bất thường, bị chê trách là dại dột, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”(!) Cán bộ nào khéo che giấu khuyết điểm của tập thể, nói hoặc viết báo cáo “tô hồng” thành tích của đơn vị, thì lại được khen (?)

Trị "bệnh dối trá" để ngăn hiểm họa khôn lường
Tranh của MẠNH TIẾN
Rồi sự dối trá trong các lĩnh vực, công việc cũng ngang nhiên diễn ra, khiến nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng chỉ biết lắc đầu ngao ngán, như: Công trình phúc lợi chưa hoàn thành đã vội tổ chức cắt băng khánh thành; cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số còn quá nhiều hạn chế, vướng mắc, nhưng báo cáo đã đạt kết quả cao; công tác xóa đói, giảm nghèo, phổ cập giáo dục, giải ngân vốn đầu tư công, tăng trưởng kinh tế... và cả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở-không ít nơi chỉ tốt đẹp... ở trên giấy và phát biểu của cán bộ!

Ngày 3-11 vừa qua, khi Quốc hội thảo luận tại tổ về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, đại biểu Quản Minh Cường (đoàn Cao Bằng) phản ánh thực tế "số liệu đầu vào đang có vấn đề" và nêu nhiều dẫn chứng, trong đó có ví dụ: Báo cáo khai thác khách du lịch tại thác Bản Giốc là 3 triệu lượt khách/năm, nhưng báo cáo thu vé chỉ vài chục nghìn khách/năm. Không biết tin vào báo cáo nào?

Còn bao chuyện dối trá mà trong khuôn khổ bài báo này không thể kể hết. Từ nói dối, báo cáo “tô hồng” không đúng thực tế, đến làm dối để tư lợi, tham nhũng, tiêu cực là rất gần. Không có gì qua được “tai, mắt nhân dân”, vì thế, quần chúng không "tâm phục, khẩu phục", dần mất niềm tin vào sự trung thực của cán bộ và cấp ủy, chính quyền. Đây là điều nguy hiểm nhất vì cổ nhân đã đúc rút “mất niềm tin là mất tất cả”! Chưa kể, hệ lụy của thói dối trá còn là các quyết sách sẽ không sát thực, kém hiệu quả do bị cung cấp thông tin sai; làm băng hoại đạo đức công vụ, khiến đội ngũ trì trệ, không dám đổi mới, sáng tạo vì “nói thật thì sợ mất lòng”...

2. “Bệnh dối trá” hiểm họa khôn lường! Vì thế, muốn trị bệnh này, trước hết cần phải nhận thức rõ sự nguy hại của nó, nhìn thẳng vào nguyên nhân gây ra và quyết tâm “tuyên chiến” bằng những biện pháp quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả.

Phải chăng, nạn dối trá được bắt nguồn từ “bệnh thành tích”: Khi thi đua-khen thưởng vẫn nặng về hình thức, không đánh giá thực chất, không phân minh "công to bù lỗi nhỏ"; khi những bản báo cáo “đẹp” được xem là điều kiện tiên quyết để được xem xét, được khen; khi những hạn chế, khuyết điểm dù được tập thể, cá nhân thẳng thắn tự nhận và quyết tâm khắc phục, sửa chữa nhưng vẫn bị loại khỏi danh sách khen thưởng, thậm chí còn lấy đó làm ví dụ để “bêu dương”, vùi dập... thì ai dại gì nói thật?

Phải chăng, vì không ít vị cán bộ cấp trên thích tâng bốc, khen nịnh hơn những lời nói thật, thậm chí còn thâm thù, trù dập người nói thẳng thật, nên dối trá càng được đà “lên ngôi”, rồi trở thành “kinh nghiệm”, “nghệ thuật sống” và nhiều người cố gắng học tập?

Phải chăng, nhiều cán bộ cấp trên biết thừa cấp dưới “làm láo nháo, báo cáo hay” nhưng chẳng nhíu mày, không chất vấn, tra hỏi; bởi đã cùng một giuộc, sợ ảnh hưởng đến thành tích chung và uy tín của chính mình, thậm chí bị “miếng thịt bịt miệng”?

Phải chăng, vì không ít cán bộ cấp trên thích thể hiện, thích "hoành tráng" nên đưa ra các mục tiêu, chỉ đạo, yêu cầu vượt quá khả năng, cấp dưới không thể thực hiện được và cũng không dám phản biện, nên đành nói dối để đối phó?

Còn nhiều nguyên nhân nữa dẫn đến “bệnh dối trá”, nhưng không thể không nhắc đến trách nhiệm của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát. Sự “thông cảm”, thỏa hiệp, bỏ qua... ở khâu lẽ ra phải có trách nhiệm thường xuyên và cuối cùng với yêu cầu công minh, chính xác, nghiêm túc này, khiến “virus” dối trá càng được đà... phát triển.

Để chữa trị dứt điểm “bệnh dối trá”, phải khôi phục vị trí xứng đáng cho sự trung thực; quyết liệt triển khai những giải pháp “điều trị” tận gốc những nguyên nhân gây ra “bệnh” nguy hiểm này.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”. Đảng ta cũng yêu cầu: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật” và gần đây còn có cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo và dám hành động vì lợi ích chung. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhiều lần chỉ đạo phải nói thẳng, đánh giá đúng thực tế vì có như thế mới sửa được những tồn tại, hạn chế... Thế nên không thể để “bệnh dối trá” tiếp tục tồn tại gây nguy hại cho đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân vào chế độ ta và là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Nhận diện và hóa giải những "điểm nghẽn" trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của ĐảngTác giả: SONG THÁISONG THÁIDự thảo Báo c...
28/11/2025

Nhận diện và hóa giải những "điểm nghẽn" trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Tác giả: SONG THÁI
SONG THÁI

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng đã đánh giá: “Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả”, nhưng để công tác này đạt hiệu quả cao như kỳ vọng, cần dũng cảm nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” đang tồn tại để hóa giải, nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đâu là những “điểm nghẽn”?

Từ thực tiễn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chúng tôi chỉ ra một số điểm nghẽn cơ bản sau:

“Điểm nghẽn” đầu tiên: Nhận thức, trách nhiệm chưa ngang tầm

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả người làm công tác lãnh đạo, quản lý, nhà báo, nhà khoa học vẫn chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có người cho rằng đây là công việc riêng của cơ quan tuyên giáo hay Ban chỉ đạo 35, dẫn đến tình trạng “khoán trắng”, thiếu sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm.

Bên cạnh đó, có nơi còn tách rời giữa nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiệm vụ phản bác quan điểm sai trái, thù địch, khiến công tác triển khai thiếu tính hệ thống, hiệu quả không cao, kiến nhận thức chưa đầy đủ và hành động thiếu quyết liệt.

“Điểm nghẽn” thứ hai: Cuộc chiến “không cân sức” trên không gian mạng

Các thế lực thù địch sở hữu tiềm lực công nghệ vượt trội, có mạng lưới truyền thông chuyên nghiệp, được tài trợ mạnh mẽ từ các chính phủ, từ lực lượng trá hình núp trong các tổ chức thao túng không gian mạng, thông qua nền tảng mạng xã hội, phát tán thông tin sai trái với tốc độ cực nhanh, đa chiều. Trong khi đó, lực lượng ta, đặc biệt ở cấp cơ sở, chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin, thiếu kỹ năng, phương tiện hiện đại để nhận diện và đấu tranh hiệu quả ngay từ ban đầu.

Nhận diện và hóa giải những "điểm nghẽn" trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Ảnh minh họa: tienphong.vn
Không ít trường hợp, thông tin vì trải qua quy trình biên tập nhiều tầng, khiến phản ứng của lực lượng đấu tranh bị động, “chạy theo sự kiện”, có lúc chưa thật sự tạo được “thế chủ động”.

“Điểm nghẽn” thứ ba: Nguồn lực và cơ chế bảo đảm còn bất cập

Nhiệm vụ nặng nề, nhưng điều kiện vật chất, chính sách hỗ trợ cho lực lượng đấu tranh vẫn còn rất hạn chế. Nhiều cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn “tay không bắt giặc”, tự trang bị thiết bị, mạng Internet, dữ liệu di động để làm việc. Cơ chế, chính sách động viên, khích lệ, khen thưởng chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của công tác này.

“Điểm nghẽn” thứ tư: Thiếu cơ chế bảo vệ người đấu tranh

Đây là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một thực tế đáng quan tâm là những người trực diện phản bác thường bị đe dọa, bôi nhọ, thậm chí bị cô lập trong môi trường công tác. Khi bị vu khống hoặc kiện cáo, họ chưa nhận được sự bảo vệ kịp thời từ tổ chức, rất dễ rơi vào trạng thái tâm lý bất an, khi được “minh oan” lại rơi vào hoàn cảnh “được vạ thì má đã sưng”. Điều đó làm suy giảm tinh thần đấu tranh, chỉ dám “múa gậy trong bị”, bảo vệ và đấu tranh cầm chừng.

Phá “điểm nghẽn” như thế nào?

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng tiếp tục chủ trương: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Vì vậy, một trong những vấn đề đặt ra cấp bách là phải phá vỡ các điểm nghẽn nêu trên, để công tác này thực sự đạt hiệu quả cao nhất, với những giải pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, lực lượng đấu tranh

Cấp ủy, tổ chức đảng, Ban chỉ đạo 35 các cấp phải quán triệt sâu sắc cần nâng cao nhận thức về ý nghĩa sống còn của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và thấy rõ những điểm nghẽn để kịp thời hóa giải.

Tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của các chủ thể, lực lượng trong nhận diện và đấu tranh; trong đó, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu phải chủ động phối hợp với cơ quan báo chí, đơn vị chức năng, tổ chức chính trị - xã hội, để hình thành “thế trận tư tưởng thống nhất”.

Cần kết hợp giữa lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách; giữa nhà lý luận với người làm truyền thông; giữa “chiến sĩ tư tưởng” và “chiến sĩ công nghệ”. Khi toàn hệ thống chính trị cùng chung tiếng nói, sức lan tỏa của công tác đấu tranh sẽ mạnh hơn gấp bội.

Mỗi cá nhân, cơ quan, đơn vị cần có kế hoạch đấu tranh cụ thể, xác định trọng tâm, trọng điểm, phân công trách nhiệm rõ ràng; khơi dậy tinh thần trách nhiệm, lòng tự hào, ý chí xung kích trong mỗi cán bộ, đảng viên - những người đang ngày đêm giữ vững “trận địa tư tưởng” của Đảng.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo đảm và bảo vệ người đấu tranh

Phải có cơ chế đãi ngộ, khen thưởng, hỗ trợ vật chất và tinh thần xứng đáng với nhiệm vụ đặc biệt này. “Cuộc chiến” này không chỉ đòi hỏi tri thức, mà còn là sự dũng cảm, bền bỉ và chấp nhận rủi ro. Vì vậy, cần có quy định pháp lý rõ ràng bảo vệ người trực tiếp đấu tranh; tuyệt đối không để các lực lượng tiên phong này “đơn thương, độc mã” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cần nghiên cứu, bổ sung chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tham gia lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng, nhất là các chuyên gia công nghệ, chuyên viên an ninh mạng, nhà báo, nhà khoa học trẻ, chuyên gia lý luận hàng đầu. Các cơ quan báo chí, nền tảng truyền thông số cần tăng cường sản xuất nội dung tích cực, sáng tạo, hấp dẫn, có tính lan tỏa cao. Khi thông tin chính thống chiếm lĩnh không gian mạng, thì luận điệu sai trái tự khắc bị đẩy lùi.

Không công nghệ nào thay thế được trí tuệ con người. Lực lượng làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng cần được đào tạo toàn diện về lý luận chính trị, truyền thông, công nghệ và tâm lý xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm thế hệ trẻ - những người am hiểu công nghệ, năng động, sáng tạo - để họ trở thành lực lượng xung kích trên không gian mạng. Đồng thời, xây dựng cơ chế tôn vinh, bảo vệ, khích lệ người tham gia đấu tranh, giúp họ yên tâm, tự tin, giữ vững khí tiết và bản lĩnh.

Ba là, đầu tư nguồn lực, phương tiện hiện đại

Trong thời đại số, nếu không có công cụ mạnh, không thể đấu tranh hiệu quả. Cần đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, công cụ, phần mềm phân tích nhận diện thông tin xấu độc, công cụ quản lý nội dung số; khắc phục tình trạng “tay không bắt giặc” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh truyền thông tích cực, lan tỏa giá trị nhân văn, tôn vinh tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác này.

Bên cạnh đó, cần tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phản bác, khai thác thông tin, viết bài lý luận, phản biện xã hội; kết hợp huấn luyện tác chiến trên không gian mạng cho các lực lượng 35 toàn quốc.

Phá “điểm nghẽn”, cởi “nút thắt” chính là hành động tự đổi mới của Đảng trên mặt trận tư tưởng. Khi cơ chế, chính sách thông thoáng; khi người đấu tranh được bảo vệ và khích lệ; khi mỗi cán bộ, đảng viên đều ý thức được vai trò của mình - thì công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch chắc chắn sẽ đạt được hiệu quả cao hơn, bền vững hơn.

Ứng dụng công nghệ hiện đại, chủ động tấn công địch trên không gian mạng. Đấu tranh tư tưởng trong kỷ nguyên số không thể “đánh tay không”. Cần chủ động ứng dụng công nghệ (AI, Big Data) để giám sát, phân tích, dự báo, nhận diện sớm các chiến dịch truyền thông chống phá. Bên cạnh đó, hình thành các trung tâm dữ liệu chiến lược, nhóm phản ứng nhanh, đội ngũ chuyên gia công nghệ, phối hợp với nhà lý luận, báo chí, an ninh mạng để xử lý, phản bác kịp thời.

Kinh nghiệm từ thực tế cho thấy, nếu chủ động nắm bắt, dự báo đúng xu hướng, phản ứng nhanh bằng lý lẽ sắc bén, chúng ta có thể chuyển từ “phòng thủ” sang “tấn công”, chiếm lĩnh trận địa tư tưởng.

Bốn là, củng cố “thế trận tư tưởng” trong kỷ nguyên số

Không gian mạng hôm nay không chỉ là môi trường giao tiếp, mà đã trở thành “mặt trận tư tưởng” sôi động và phức tạp nhất. Ở đó, từng dòng trạng thái, từng video, từng bình luận đều có thể là “viên đạn bọc đường” tác động vào nhận thức từng người và toàn xã hội. Cuộc chiến này không tiếng súng, nhưng nóng bỏng từng giờ. Nó đòi hỏi sự tỉnh táo, kiên định và bản lĩnh của mỗi người - nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, cần xây dựng "thế trận nhân dân" trên không gian mạng. Không thể chỉ trông chờ vào lực lượng chuyên trách, mà mỗi đảng viên, mỗi công dân yêu nước đều có thể là “chiến sĩ”, biến sức mạnh của toàn dân thành lá chắn vững chắc trước mọi thông tin xấu độc, tạo “bức tường thành” vững chắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thực chất là một nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng; một nội dung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể; trong đó, nhất thiết nhận diện và hóa giải những “điểm nghẽn” nêu trên như là một giải pháp có tính đột phá.

Address

Lang Son

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi đoàn Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category