Vòng về Phim

Vòng về Phim Vòng về Phim hoạt động với mục đích lan tỏa tinh thần học điện ảnh và phát triển một cộng đồng cùng học - cùng kiến tạo ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam

ĐI TÌM NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN TRONG "SENTIMENTAL VALUE" / Nếu ai xem xong “Sentimental Value” mà bảo phim kể về chuyện cha ...
06/04/2026

ĐI TÌM NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN TRONG "SENTIMENTAL VALUE"

/ Nếu ai xem xong “Sentimental Value” mà bảo phim kể về chuyện cha con hàn gắn thì đang giản lược hóa quá nhiều cách mà sang chấn thế hệ gây nhiễu loạn cả một gia đình rồi /

“Sentimental Value” là một bộ phim có nhiều nhân vật và sở hữu lượng diễn biến nhiều tương đương. Phim theo chân một nhóm người (ensemble) thay vì chỉ kể từ góc nhìn của một nhân vật duy nhất. Với một phim nhiều nhân vật như thế, theo biên tập viên dựng phim Olivier Bugge Coutté, thì tổng thể phim như một dạng zero-sum game (trò chơi có tổng bằng không): nếu một nhân vật chiếm nhiều thời lượng hơn thì sẽ ăn bớt thời lượng lên hình của nhân vật khác (*).

Một bộ phim đông đúc, nhưng lại khai thác nội tâm rất sâu sắc và đem lại cảm giác hướng nội.

Làm thế nào mà được vậy?

Để tìm hiểu điều này, điều đầu tiên tôi làm là tìm xem bộ phim hướng vào nội tâm của ai, hay thứ gì. Vì người ta không thể đi vào khai thác nội tâm nếu không có một chủ thể được xác định trước. Một điểm neo để mọi thứ xoay quanh, một dạng lõi để khi từng lớp hành được bóc ra thì dần hiện nguyên hình. Một bộ phim thường sẽ đi sâu vào nhân vật chính. Vậy nhân vật chính của phim là ai?

Trước tiên, một nhân vật chính cần gì?

Thứ nhất, nhân vật đó thường chiếm phần lớn thời lượng của bộ phim. Ta sẽ theo chân nhân vật này, hiểu diễn biến phim qua góc nhìn của họ. Ở đây, vì thời lượng phim được phân ra cho nhiều nhân vật, và bộ phim cũng đổi điểm nhìn liên tục qua góc nhìn của mỗi nhân vật khác nhau. Nên dựa vào yếu tố này, dù là căn bản và dễ nhận biết, thì khó mà xác định được ai là nhân vật chính của “Sentimental Value”.

Thứ hai, nhân vật đó thường chủ động đưa ra những quyết định khiến cho phim tiến triển. Mục tiêu nhân vật chính muốn đạt được chính là thứ bộ phim xoay quanh, và những hành động họ làm là thứ tạo ra diễn biến và bước ngoặt cho cốt truyện.

Thứ ba, nhân vật chính thường là tâm điểm của xung đột cốt truyện (conflict). Nhân vật chính sẽ đối đầu với cản trở đến từ nhân vật (hoặc thế lực) phản diện. Và họ buộc phải đưa ra những quyết định thúc đẩy diễn biến phim trong nỗ lực giải quyết nút thắt của câu chuyện.

Nhân vật đầu tiên xuất hiện là ngôi nhà. Ngôi nhà có lịch sử rất đồ sộ, từng là nơi cư ngụ cho nhiều thế hệ trước đây. Khi xuất hiện trong phim, ngôi nhà được kể qua góc nhìn của Nora, cho người xem hiểu được về gia đình cô: cha mẹ liên tục cãi vã, ly hôn khi cô và em gái còn nhỏ tuổi. Người cha sau đó rời đi, và hầu như biến mất khỏi cuộc đời của ba mẹ con cô. Nhưng bản thân ngôi nhà không thể là chủ thể của hành động được, nên không thể nào là nhân vật chính.

Sau đó Nora xuất hiện với phân cảnh khủng hoảng trước giờ diễn vô cùng ấn tượng - một trong những phân cảnh có sức nặng tâm lý nhất phim. Ngay lập tức, tôi nghĩ nhân vật chính là cô.

Đó là lý do tôi đã kỳ vọng và muốn được quan sát câu chuyện của Nora nhiều hơn. Nhưng sự xuất hiện của cô trong phim rất hạn chế và phân mảnh. Cô không có mặt khi những diễn biến chính của phim diễn ra, gồm hầu hết quá trình tiền kỳ bộ phim do cha cô đạo diễn. Cô cũng không chia sẻ nhiều thời gian với những nhân vật khác, đặc biệt là bố cô. Điều này khiến câu chuyện của Nora trở nên riêng rẽ, hầu như không chủ động quyết định diễn biến phim. Những quyết định của Nora thường mang tính phản ứng với những sự kiện hay hành động do các nhân vật khác tạo ra.

Đây chính là đặc tính của nhân vật phản diện. Một nhân vật dù không chủ động lèo lái mạch truyện, nhưng phản ứng của họ lại thúc đẩy nhân vật chính hành động để đưa câu chuyện đi xa hơn. Phản ứng của nhân vật phản diện thường đối lập và là vật cản trong hành trình đạt được mục tiêu của nhân vật chính.

Trong “Sentimental Value”, Nora đưa ra một quyết định duy nhất nhằm ngăn cản một nhân vật đạt được mong muốn. Cô từ chối đóng vai chính trong phim bố cô, Gustav đạo diễn, dù kịch bản được ông viết đo ni đóng giày cho cô. Quyết định chủ chốt này tạo nên nút thắt chính của cả bộ phim.

Phát hiện này khiến tôi nhìn lại toàn bộ “Sentimental Value” và nhận ra hầu hết toàn bộ những diễn biến của phim đều nối về Gustav. Ngôi nhà là nơi gia đình ông từng sống, nơi ông lớn lên, nơi ông gây dựng một gia đình. Câu chuyện của hai chị em Nora và Agnes xuyên suốt phim là hành trình thỏa hiệp và học cách chấp nhận với sự xuất hiện trở lại của ông sau nhiều năm vắng bóng. Và “bộ phim trong phim” quay tại ngôi nhà của ba người họ: đó là thứ nếu không có Gustav sẽ hoàn toàn không tồn tại, và sẽ không trở thành hiện thực nếu không có quyết tâm thực hiện của ông.

Gustav, hóa ra là nhân vật chính của “Sentimental Value”. Bộ phim là nỗ lực giải mã nội tâm ông, vốn không bao giờ được ông thể hiện rõ ràng bất kể qua lời nói hay hành động. Một nội tâm giấu kín như vậy cần có những yếu tố bên ngoài can thiệp để diễn giải.

Những “yếu tố bên ngoài đó” chính là các nhân vật khác, và “bộ phim trong phim” ông nhất quyết tìm cách thực hiện. Agnes, đặt cạnh Gustav hiện lên như một hình mẫu ông chưa bao giờ chạm tới. Một người biết cách xây dựng tổ ấm trọn vẹn, luôn có mặt trong cuộc sống con mình và tránh xa hào quang nghệ thuật. Còn Nora thì rất giống ông. Một mặt, cô tận hiến và thăng hoa với nghệ thuật diễn xuất. Mặt khác, cô ôm trong mình những nỗi đau và sự tổn thương mà không cách nào nói ra được, không cách nào biểu lộ ra được, không biết phải đối diện thế nào. Nỗi đau mà đến lúc này “không còn rõ là nguyên nhân hay hệ quả của việc cô trở thành như thế” (theo lời nhân vật Rachel). Còn nhân vật Rachel Kemp, cô là mắt xích chủ chốt để khám phá ra bộ phim Gustav muốn làm, hay điện ảnh nói chung, thực ra là phương thức duy nhất ông biết để diễn giải cảm xúc và giãi bày với người khác.

Kịch bản phim phân mảnh và khai thác nhiều hơn một tuyến truyện của Gustav để hiểu được cách mà sang chấn gia đình, vốn cũng là thứ Gustav thừa kế và sau đó truyền lại cho hai con, có thể định hình một con người ra sao. Qua cách xây dựng này, tư tưởng làm phim của đạo diễn Joachim Trier thể hiện rất rõ: mọi người lớn đều phải chịu trách nhiệm cho tất cả trẻ em trên đời này (trích lời bài phát biểu nhận giải Oscars Hạng mục Phim quốc tế xuất sắc nhất).

Nhưng vì sao lại bắt đầu với Nora? Vì sao lại giới thiệu nhân vật phản diện trước?

Khi quan sát biểu hiện nhân cách của Gustav trong phim, tôi nhận ra rất cần thiết phải bắt đầu với góc nhìn của Nora, vì Gustav nếu xét riêng có thể xuất hiện như một nhân vật khá dễ mến. Ông hài hước, có thể dễ dàng buông lời bông đùa để lấy lòng người đối diện. Ông cũng đôi khi vì chu đáo với người khác mà bất chấp đến mức phóng túng, như cách ông bắt xe ngựa đưa diễn viên Rachel Kemp đang kiệt sức về trước để cô có chút thời gian nghỉ ngơi ngay trong lần đầu gặp mặt. Và tất nhiên, không thể thiếu việc ông là một đạo diễn đại tài, đủ để một liên hoan phim lớn mời ông đến chiếu phim ở nước ngoài với toàn bộ chi phí được đài thọ. Nếu bắt đầu với Gustav, câu chuyện sẽ trở thành một người cha già đáng thương tìm cách kết nối với đứa con gái ẩm ương của mình.

Đưa Nora lên trước ngay lập tức hé lộ tính cách ẩn giấu của Gustav. Nora, xuất hiện với lời kể về ngôi nhà và cảnh diễn tả nỗi sợ sân khấu ngay trước giờ diễn, chiếm sự đồng cảm của người xem về một con người bị bủa vây bởi những bóng ma tâm lý. Những bóng ma tâm lý của Nora cũng chính là biểu hiện rõ nhất của nỗi đau thế hệ di truyền trong gia đình cô, thứ mà một người ngoài như Rachel Kemp dù dành thời gian nghiền ngẫm và nghiên cứu cũng không có cách nào hiểu được, nhưng một người dù cả đời không chia sẻ thời gian gắn bó vẫn có thể nhìn thấu là bố cô. Gustav phần nào chịu trách nhiệm cho những bóng ma tâm lý đó.

Bắt đầu với Nora, câu chuyện của “Sentimental Value” hiện nguyên hình của nó: một nhà làm phim tìm cách thực hiện bộ phim lấy chất liệu từ chính gia đình mình, nhưng lúng túng khi phải đối mặt với những giá trị tình cảm liên quan tới hai con gái. Rốt cục thì “Sentimental Value” xoay quanh đề tài là một gia đình có mối quan hệ phức tạp vì những sang chấn ẩn giấu.

Thực hiện: Minh Giang

Xem chú thích (*) dưới Comment

BEHIND THE SCENE BỘ ẢNH KỶ YẾU VÒNG VỀ PHIM 2026Featuring Team Vòng về Phim: Giang - Nhi - Chi & khách mời Hồng - Tôn Ho...
05/04/2026

BEHIND THE SCENE BỘ ẢNH KỶ YẾU VÒNG VỀ PHIM 2026

Featuring Team Vòng về Phim: Giang - Nhi - Chi & khách mời Hồng - Tôn Hoàng
Art Director: Minh Giang
Set Design: Quỳnh Nhi, Minh Giang
Original Props Illustration by Hoa Nguyễn

Photographer: Thục
Behind the Scene: Tuấn Đạt
Retouch: Ryan Trần, Minh Giang
Support: Chi Nguyễn, Minh, Tuấn Anh, Khánh Huyền
Location: Pico Mini Studio

[ Hạng mục Tuyến Phim Khám Phá Xinê Xem Fest 2025 (*): Song hành & đối thoại ]Thứ Bảy vừa rồi (24/1), tôi có dịp tham gi...
10/03/2026

[ Hạng mục Tuyến Phim Khám Phá Xinê Xem Fest 2025 (*): Song hành & đối thoại ]

Thứ Bảy vừa rồi (24/1), tôi có dịp tham gia buổi chiếu “Pack 1: Một Chân Trời Mới” của Xine Xem Fest - một trong những hoạt động chiếu phim thuộc hạng mục Tuyến Phim Khám Phá. Buổi chiếu mang đến một không gian xem phim khá đặc biệt, nơi các tác phẩm không đặt nặng yếu tố tranh giải mà tập trung giới thiệu những góc nhìn, cách kể và thực hành điện ảnh khác nhau.

Theo những gì tôi đọc được về chủ đề năm nay trên website chương trình, buổi chiếu này hướng đến những thể loại, hình thái và thẩm mỹ nằm ngoài khuôn khổ hạng mục dự thi (in-competition), đồng thời mở ra không gian cho những tiếng nói và cách làm phim “ngoại biên” và tiếp cận “sự khác” theo một cách riêng trong điện ảnh Việt Nam.

Buổi chiếu được tổ chức tại Toong - một không gian làm việc chung (co-working) nằm ngay giữa trung tâm Sài Gòn. Không gian mở và thoáng ở đây tạo cảm giác thoải mái, không quá trang trọng, khiến buổi chiếu giống như một buổi gặp gỡ, trao đổi giữa các nhà làm phim và khán giả từ nhiều độ tuổi và xuất thân (background) khác nhau.

Vừa bước vào không gian, tôi đã bắt gặp các booth của “Chợ Dự Án”, nơi các nhà làm phim chia sẻ về những ý tưởng và dự án họ đang ấp ủ, đồng thời trò chuyện trực tiếp với khán giả và những người làm nghề. Xung quanh khu vực này là các poster của những bộ phim thuộc Tuyến Phim Tranh Tài và quầy bán merch của Xinê Xem Fest 2025. Nhờ vậy, với tư cách là một người xem phim, đồng thời đang học và thực hành làm phim, tôi có thể tiếp nhận các bộ phim một cách tự nhiên hơn. Cảm giác như bầu không khí điện ảnh ở Sài Gòn trở nên gần gũi, cởi mở và ngày càng chào đón những tiếng nói mới.

Đi sâu vào trong là không gian dành riêng cho các buổi chiếu phim, nơi không khí trở nên tĩnh lặng hơn. Ở đây, khán giả có thể tập trung trọn vẹn cho việc xem và cảm nhận từng tác phẩm đã được tuyển chọn kỹ lưỡng từ các giám tuyển.

Với tuyến phim Khám Phá năm nay, tôi có dịp được làm quen với một chùm gồm 6 bộ phim ngắn, mỗi tác phẩm mang một màu sắc và cách tiếp cận rất riêng. Đó là: Dư Vị (Nguyễn Thị Xuân Trang), Sự Tích Trần Thanh Dương (Hachul Lệ Đỗ), Ngủ Ngon Em Yêu (Lê Quỳnh Anh), Con Trai Người Làm Đậu (Đỗ Văn Hoàng), Cháu Đá (Nguyễn Hoàng Giang), và Chiều Ngọt (tập thể lớp K6 thuộc Dự án Điện ảnh của Quỹ Ford).

Dựa trên toàn bộ chương trình, có thể thấy các phim cùng xoay quanh câu hỏi về bản dạng, vị trí của cái tôi và những ranh giới bị mờ đi – giữa cá nhân và gia đình, giữa sáng tạo và đạo đức, giữa thực và ảo.

“Con Trai Người Làm Đậu” có thể xem là bộ phim định hình rõ nhất tinh thần chương trình. Bộ phim làm mờ ranh giới giữa tài liệu và hư cấu, giữa ghi chép và trải nghiệm cá nhân. Việc người con tự đặt mình vào hoàn cảnh của cha khiến câu chuyện không chỉ là về một cá nhân, mà còn là về sự kế thừa - không chỉ của nghề nghiệp, mà của thân phận, ký ức và những câu hỏi chưa có lời giải về căn tính.

Ở chiều ngược lại, “Dư Vị” là bộ phim thách thức và làm phức tạp chủ đề mạnh mẽ nhất: cái nhìn của điện ảnh đối với chính mình. Nếu “Con Trai Người Làm Đậu” để lại nhiều suy nghĩ về mối quan hệ cha–con, về di cư, và về việc tìm kiếm vị trí của bản thân trong một thế giới không ngừng dịch chuyển, thì “Dư Vị” đẩy vấn đề sang ranh giới đạo đức của chính việc làm phim. Cấu trúc phim-trong-phim, chất giọng hài đen (black comedy) và cảm giác bất an kéo dài tạo nên một điểm nhấn tương phản trong chương trình. Qua đó, ta thấy rằng, yếu tố đối lập này phản ánh cách điện ảnh không còn là công cụ quan sát hay ghi chép mà trở thành một thực hành đi kèm với những thỏa hiệp, lựa chọn và câu hỏi đạo đức.

Những phim như “Chiều Ngọt” và “Cháu Đá” thì lại tiếp cận chủ đề nhẹ nhàng hơn: cùng sử dụng không gian gia đình, ký ức và sự quan sát, nhưng đặt trọng tâm vào cảm giác ấm áp, hoài niệm và những lát cắt đời thường. Trong khi đó, “Ngủ Ngon Em Yêu” và “Sự Tích Trần Thanh Dương” mở rộng chương trình theo hướng thử nghiệm về hình thức, nơi bản dạng trở nên phi ổn định, trôi nổi giữa hình ảnh, âm nhạc, cơ thể và thế giới mạng.

Sự tuyển chọn (curation) của Pack chiếu phim này cho thấy một lựa chọn rõ ràng trong việc không tìm kiếm sự đồng nhất, mà đặt các bộ phim vào trạng thái song hành và đối thoại. Việc xếp những phim thử nghiệm hình thức như “Sự Tích Trần Thanh Dương” bên cạnh các tác phẩm mang nhịp điệu quan sát đời sống như “Cháu Đá” hay “Con Trai Người Làm Đậu” giúp khái niệm “ngoại biên” không bị hiểu đơn giản như một phong cách thẩm mỹ cụ thể. Ở đây, “sự khác” không đến từ việc làm phim theo cách lạ, mà từ vị trí mà mỗi bộ phim lựa chọn để đứng: bên lề của giới tính, của lao động di cư, của ký ức gia đình, hay của chính quá trình làm phim.

Nhờ đó, Pack phim này không hiện ra như một ranh giới tách biệt với điện ảnh chính thống, mà như một không gian mở, nơi nhiều hình thái thẩm mỹ khác nhau cùng tồn tại, va chạm và mở rộng cách ta nghĩ về điện ảnh đương đại của Việt Nam.

Chữ & hình: Thanh Trúc
Biên tập & thiết kế: Minh Giang

—------------------------------
(*) Xinê Xem Fest là chuỗi tiệc phim ngắn được tổ chức hằng năm, nơi những tác phẩm nổi bật của các nhà làm phim trẻ được giới thiệu và chia sẻ. Với chủ đề “Beyond the First Step”, Xinê Xem Fest 2025 đã tạo một sân chơi điện ảnh nơi các nhà làm phim có thể mạnh dạn bước những bước đi đầu tiên, từ đó mở ra một hành trình dài của sáng tạo, thử nghiệm và khám phá điện ảnh.

—------------------------------
Hiện tại, Thanh Trúc đang trong quá trình tiền kỳ cho bộ phim tốt nghiệp “Ngày Biển Gọi Về” (The Tides Return Forever). Thước phim này là nơi Trúc gửi gắm những ký ức cá nhân-gia đình, quan sát trong đời sống hằng ngày và trải nghiệm của một người con đi học xa nhà. Bộ phim cũng là cách Trúc trả lời những câu hỏi xoay quanh căn tính cá nhân và mối liên hệ với nơi mình sinh ra và lớn lên trong bối cảnh sáp nhập tỉnh thành.

Dự án đang trong quá trình kêu gọi đóng góp kinh phí thực hiện từ cộng đồng (crowdfunding). Chi tiết mời bạn ghé đọc ở Comment.

[ Cổng khởi hành Xinê Xem Fest 2025 (*): Khi điện ảnh thay lời chào ]“Khi bàn với các bạn thiết kế cho chương trình năm ...
09/03/2026

[ Cổng khởi hành Xinê Xem Fest 2025 (*): Khi điện ảnh thay lời chào ]

“Khi bàn với các bạn thiết kế cho chương trình năm nay, tôi có đặt các bạn làm một hình nhân là nhà làm phim có đầu là tay. Các bạn biết cái đó nghĩa là gì không?

Vì tôi muốn phác họa nhà làm phim đầu tay.”

Đạo diễn Phan Gia Nhật Linh đã cho hay như vậy trong bài phát biểu mở màn Xine Xem Fest 2025. Chia sẻ của anh khiến tất cả mọi người đều bật cười sảng khoái vì sự hồn nhiên đầy ngô nghê, phản ánh tinh thần của chủ đề chương trình năm nay: Beyond the first step (Hơn cả bước khởi đầu).

Với mình, bước đầu với Xinê Xem Fest là cơ hội được tham dự buổi khai mạc, diễn ra vào một tối thứ 4 trong tuần. Xem lịch trình và cân nhắc thời gian tổ chức, mình nghĩ đây là một sự kiện nhỏ ấm cúng nên cũng không chuẩn bị cầu kỳ. Mình bước vào sự kiện với suy nghĩ là sẽ sớm bước vào một buổi chiếu phim ngay.

Trong sự bất ngờ của mình, chương trình bắt đầu với màn tiệc đứng giao lưu. Người tham gia đều là những người mình từng gặp đâu đó trên màn ảnh, hoặc trong những lần tham gia những chương trình điện ảnh khác. Nhưng sự quen biết của mình với họ không đủ để mình thấy thoải mái bắt chuyện.

Thời gian của phần tiệc càng, sự gượng gạo trong mình càng lớn lên. Sau khi đã chào hỏi một số người quen, làm quen với một số người lạ, mình vẫn không tìm được một cuộc hội thoại nào để gắn kết. Đầu óc mình trống rỗng: không có gì muốn chia sẻ, cũng không có gì khiến mình tò mò. Giả dụ giờ là thành viên ban tổ chức, có lẽ mình sẽ cảm thấy thoải mái hơn vì ít ra đang bận bịu với một trách nhiệm nào đó.

Cuối cùng, mình trốn vào một góc ngồi đọc sách dưới ánh sáng đèn đường tù mù.

Lúc này mình thấy thoải mái hơn, nên mỗi lúc dừng đọc đều đưa mắt quan sát xung quanh. Buổi khai mạc diễn ra tại một không gian ăn uống không-đóng-kín mà hài hòa với thiên nhiên. Ở đây có nhiều cây xanh, nhiều bê tông và gỗ và những chi tiết không hoàn thiện một cách có chủ đích. Một nửa ngoài trời, một nửa trong nhà đã được dựng sẵn màn chiếu. Một mặt tường của nửa trong nhà là kính. Ban ngày hẳn sẽ tận dụng được ánh sáng bên ngoài rất tốt. Nhưng có một khoảng kính ở sát trần không có rèm nên có lẽ không lý tưởng cho buổi hôm nay lắm, vì khi chiếu phim sẽ bị hắt đèn đường vào màn chiếu.

Sau cơn bĩ cực tới hồi thái lai, sự ngại ngùng trong mình dần tan biến khi mọi người quây quần quanh màn chiếu để cùng “sinh hoạt chung”. Đầu tiên là các thành viên trong ban tổ chức và khách mời lên chia sẻ cảm nghĩ. Sau đó là giới thiệu tổng quan chuỗi sự kiện Xinê Xem Fest 2025. Khi không khí dần trở nên ấm cúng hơn, tiết mục chiếu phim bắt đầu.

2 phim chiếu trong buổi khai mạc được chọn để giới thiệu những góc nhìn điện ảnh mới mẻ với khán giả. Cả 2 đều thuộc thể loại mà người ta thường không nghĩ ngay đến khi nhắc về điện ảnh (thậm chí đâu đó vẫn còn tranh cãi là không phải điện ảnh): phim hoạt hình và phim tài liệu.

1. Quelqu'un de spécial (Một người đặc biệt) - Đạo diễn Alice Gervat

Giới thiệu phim: Trong một lần quẹt app tìm người yêu, Lisa “quẹt” trúng Xuân, người có thể là nửa kia của mình. Vấn đề là, Lisa đã giả vờ mình biết tiếng Việt để có thể gây ấn tượng và kết nối với Xuân. Cô sẽ phải làm gì để hiểu được những gì Xuân nói khi cuộc hẹn đầu tiên ngày càng đến gần?

Ghi chép của mình: Phim của nhà làm phim người Pháp gốc Việt. Sử dụng chất liệu là ngôn ngữ tiếng Việt & tiếng Pháp làm một trong những phương tiện kể chuyện. Nét vẽ 2D. Màu sắc nổi bật, theo hướng Maximalism (tôn vinh sự dư thừa, rực rỡ, cá tính). Câu chuyện rất cá nhân, vừa là mối quan hệ của nhân vật chính với đối tượng mình quan tâm, vừa là với tiếng Việt & một phần gốc gác của mình.

2. Toàn ơi (Mr. Toàn) - Đạo diễn Nguyễn Hồ Bảo Nghi

Giới thiệu phim: Toàn là một thanh niên 35 tuổi, cán bộ bảo vệ khu phố, người nguyên tắc, vui vẻ và tràn đầy khát vọng tình yêu. À và, anh mắc hội chứng Down. Bộ phim tài liệu là chiếc cầu nối đưa người xem khám phá một góc đời sống thường nhật của anh.

Ghi chép của mình: Phim được làm trong khuôn khổ khóa học/sản xuất phim tài liệu trực tiếp Varan Việt Nam. Phim này thuộc thể loại Comedy và rất đúng chất Comedy. Xem phim có những chi tiết buồn cười kinh khủng. Mà không phải cười theo kiểu “nhả miếng” hài mà là một sự hài hước rất tự nhiên, đến từ sự va chạm của những thế giới khác nhau. Sự khác nhau đến từ sự va chạm của những thế giới luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho những tiếng cười không-thúc-ép từ khán giả. Cả khán phòng đều cười rất giòn giã với những khoảnh khắc của phim.

(Xem thêm về 2 phim ở Comment)

Khi tiếng cười và sự xúc động của mình trước bộ phim hòa cùng phản ứng của cả khán phòng, mình cảm thấy được kết nối với tất cả những người đang ngồi ở đó. Sự kết nối này không cần tới bất kỳ cuộc trò chuyện hay mào đầu giới thiệu nào cả. Và khi buổi chiếu kết thúc, mình cảm thấy có thể bắt chuyện với bất kỳ ai đang có mặt lúc ấy.

Mình chia sẻ với chị Bảo Nghi cảm nghĩ của mình về “Toàn Ơi”, còn cùng mọi người tại sự kiện video call với anh Toàn phía đầu cầu Hà Nội qua điện thoại chị. Cuối sự kiện còn đứng chụp hình tập thể cùng mọi người nữa.

Khi ra về, mình nhìn lại và vô cùng bất ngờ khi sự gượng gạo mình có ban đầu sự kiện đã biến mất không dấu vết, như chưa từng xuất hiện. Trong mình lúc này đong đầy cảm xúc về hai bộ phim vừa xem.

Thực hiện: Minh Giang
Hình: Minh Giang & BTC Xine Xem Fest

—------------------------------
(*) Xinê Xem Fest là chuỗi tiệc phim ngắn được tổ chức hằng năm, nơi những tác phẩm nổi bật của các nhà làm phim trẻ được giới thiệu và chia sẻ. Với chủ đề “Beyond the First Step”, Xinê Xem Fest 2025 đã tạo một sân chơi điện ảnh nơi các nhà làm phim có thể mạnh dạn bước những bước đi đầu tiên, từ đó mở ra một hành trình dài của sáng tạo, thử nghiệm và khám phá điện ảnh.

“Art is subjective”, “beauty is in the eye of the beholder” hay cách mọi người tiếp nhận nghệ thuật là chủ quan, chưa ba...
23/02/2026

“Art is subjective”, “beauty is in the eye of the beholder” hay cách mọi người tiếp nhận nghệ thuật là chủ quan, chưa bao giờ là cái cớ xứng đáng để bác bỏ hoàn toàn những tiêu chuẩn nghệ thuật.
Trong bối cảnh một xã hội, luôn có tiêu chuẩn cho vẻ đẹp và sáng tạo luôn vận hành trong một cấu trúc nhất định. Vấn đề là chúng ta có hiểu được những tiêu chuẩn và cấu trúc đó hay không, để mà coi là những đánh giá ta đưa ra từ sự diễn giải của mình là chuẩn xác.
Có một cấu trúc - quy tắc nổi tiếng trong điện ảnh thường luôn bị đặt ra khỏi ngữ cảnh của nó, chính là “show, don’t tell”. Để mà nói là phim ít thoại là làm tốt việc “show”, hay nhiều thoại là “tell” là một sự diễn giải giản lược đến mức sai lầm của quy tắc này. Bởi trong điện ảnh, loại hình tổng hợp của nhiều phương tiện biểu đạt như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, “show” và “tell” thể thu hẹp thành vấn đề của riêng thoại.
Bài viết của Thùng phim cung cấp một diễn giải tròn trịa giúp chúng ta phần nào hiểu hơn tại sao lại thế.
Trở lại vấn đề ban đầu: khi nhận thức của chúng ta là quá giới hạn, tính chủ quan trong tiếp nhận không phải là lý do để xem các tiêu chuẩn nghệ thuật là vô lý.
Một mặt, chúng là lời nhắc nhở rằng cũng như nhận thức của con người, những tiêu chuẩn và cấu trúc - vốn là sáng tạo của con người - không phải lúc nào cũng đúng.
Mặt khác, chúng là lời nhắc nhở rằng chúng ta đừng quá ngạo mạn, bởi đánh giá chủ quan của ta về vẻ đẹp và sự sáng tạo không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Đó là lý do chúng ta cần những tiêu chuẩn và cấu trúc để dựa vào, và mở rộng góc nhìn của mình hơn.

[VỀ SHOW DON’T TELL, ĐIỆN ẢNH, HÌNH ẢNH, VÀ NGÔN NGỮ]

Thấy chị em bạn bè đều lên bài về ngôn ngữ điện ảnh, rồi “show don't tell” ctct, thôi thì bọn mình cũng góp vui, cho mọi người thêm một góc nhìn. Bài dài.

1. THỨ NHẤT, "SHOW DON'T TELL" HAY "TELL DON'T SHOW"…

…không phải là câu hỏi nên được đặt ra, đặc biệt là với mấy khẳng định dạng nhị nguyên như này. Việc lựa chọn một trong hai, coi một cái là chân lý phổ quát và loại trừ cái còn lại, hay chụp mũ theo kiểu số lượng cảnh “show” nhiều hơn thì phim mặc nhiên hay hơn, giống như kiểu tách một đấu gạo với một đấu thóc đã được trộn lẫn với nhau, hay cố gắng giải một bài toán không có nghiệm vậy. Làm thì vẫn làm được, nhưng làm làm gì, tốn công vô ích. Nguồn gốc của "show don't tell" không phải là từ điện ảnh, mà là từ văn học. Việc chuyển vị khẳng định này từ văn học sang điện ảnh mà không chú ý đến những đặc trưng về thuộc tính vật chất của điện ảnh thì cũng vứt đi. "Show don't tell" nếu như nhấc ra khỏi ngữ cảnh, chỉ nhấn mạnh rằng điện ảnh trước tiên là hình thức nghệ thuật của hình ảnh, hay cụ thể hơn là sự vận động của hình ảnh. Thế nên, thay vì cố gắng chộp giật chọn cái này bỏ cái kia, ở góc độ thực hành, chúng ta nên nhìn “show” và “tell” theo hướng công cụ: tức là chúng vừa được xây dựng trên một nền tảng biểu nghĩa nhất định, vừa được sử dụng như những chiến lược biểu nghĩa để hướng đến một mục đích biểu nghĩa nhất định.

Đạo diễn Michael Roemer (cụ mới mất năm ngoái), trong tiểu luận The Surfaces of Reality (1964), đưa ra một cách phân loại hữu dụng hơn. Roemer phân biệt giữa trích dẫn (citing) của điện ảnh gà mờ và kết xuất (rendering) của điện ảnh xịn. Trích dẫn là khi một bộ phim dùng các quy tắc và tập quán đã được thiết lập sẵn: cử chỉ diễn xuất, lời thoại thông báo cảm xúc (tệ hơn là volume của lời thoại tỉ lệ thuận với cường độ của cảm xúc), hay tình huống kịch tính được sắp xếp theo công thức, v.v. nhằm kích hoạt phản ứng cảm xúc của khán giả mà không cần thực sự tạo ra một trải nghiệm. Khán giả không “trải nghiệm” cái gì cả. Họ chỉ được thông báo rằng họ nên cảm thấy gì đó một cách hoàn toàn bị động, và họ ngoan ngoãn làm theo vì đã bị điều kiện hóa bởi hàng nghìn giờ xem phim trước đó. Ngược lại, kết xuất là khi nhà làm phim tạo ra một tình huống đủ cụ thể, đủ tính vật lý, đủ khách quan đến mức khán giả phải tự xử lý nó theo cách họ xử lý các tình huống trong đời sống thực. Khán giả chủ động tham dự vào trải nghiệm điện ảnh, qua đó hoàn thiện quá trình tạo nghĩa, rồi chiêm nghiệm và rút ra kết luận sau cuối. Hãy xem cách mà Ken Loach mô tả năng lực sử dụng máy tính của Daniel Blake - một nhân vật lớn tuổi, xuất thân từ tầng lớp lao động trong I, Daniel Blake (2016), qua cả dàn cảnh, bố cục khung hình, điệu bộ, cử chỉ hay lời nói. Không khán giả nào được thông báo rằng hệ thống phúc lợi đang vô cảm với những thân phận bên lề xã hội cả, mà họ được “đặt” vào trong sự vô cảm đó qua sự vụng về của Daniel với các thao tác trên máy tính.

Thế nên, thay vì hiểu "show don't tell" theo kiểu cho nhân vật nhìn ra cửa sổ mưa tầm tã thay vì để nhân vật nói "tôi buồn thối ruột gan" một cách trừu tượng; chúng ta bắt buộc phải đặt cả “show” và “tell” vào trong một vùng diễn giải nhất định, và xem chúng đóng vai trò gì trong chiến lược biểu nghĩa [của bộ phim]. Đây là một trong những sự khác biệt căn bản giữa ngôn ngữ điện ảnh và ngôn ngữ giao tiếp, và là hạn chế của việc nhìn ngôn ngữ điện ảnh như một cú pháp biểu nghĩa của ngôn ngữ giao tiếp. Ngôn ngữ giao tiếp có thể thay đổi lựa chọn về từ nhưng hệ thống vẫn vận hành (ví dụ: trong trục lựa chọn/paradigmatic, các bạn thử thay từ “sầu thảm” bằng “u uất” trong một câu nói về nỗi buồn chẳng hạn). Tương tự, ở tầng ngôn ngữ, các đặc tính vật chất của từ như kích cỡ chữ, chất liệu giấy, hay độ to nhỏ của âm thanh, về nguyên tắc, không mang nghĩa (một chữ A viết tay hay in máy, hoặc một chữ A được phát âm to hay nhỏ vẫn là cùng một ký hiệu). Nhưng ngôn ngữ nghệ thuật, trong trường hợp này là điện ảnh, thì hoàn toàn khác; vì không có ranh giới rõ ràng giữa các đơn vị biểu nghĩa, và các đặc tính vật chất của điện ảnh thì đều có thể mang nghĩa (ví dụ: grain trong Dancer in the Dark hay The Battle of Algiers, nhịp dựng trong Man with a Movie Camera, ống kính góc rộng trong I Am Cuba) [1]. Một điểm trong không-thời gian của một bộ phim đều có quan hệ với mọi điểm khác, và không có cách nào cô lập một điểm và xét nghĩa của chúng mà không liên hệ với tổng thể.

Tất nhiên, cách phân biệt của Roemer có hạn chế* mà bọn mình sẽ diễn giải ở phần sau.

2. THỨ HAI, VỀ NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH,

Điện ảnh là một môn nghệ thuật. Và cũng như các môn nghệ thuật khác, điện ảnh có một hệ thống ngôn ngữ biểu nghĩa khu biệt nó với các loại hình khác. Điện ảnh là một môn nghệ thuật được trải nghiệm trong thời gian, và ngôn ngữ của nó có thời tính. Điều này được thể hiện qua dựng phim, hay qua việc sắp xếp các đơn vị biểu nghĩa trong dòng thời gian theo một trật tự nhất định, nhằm tạo ra sự vận động của hình ảnh qua thời gian (ví dụ: lý thuyết Soviet montage từ nhóm VGIK của Eisenstein hay Pudovkin). Tương tự, điện ảnh là một môn nghệ thuật được trải nghiệm trong không gian, và ngôn ngữ của nó cũng mang tính không gian. Điều này được thể hiện qua dàn cảnh (ví dụ: blocking, ánh sáng, trang phục, diễn xuất), qua bố cục khung hình, qua ngôn ngữ của ống kính (ví dụ: cỡ cảnh, góc máy, chuyển động máy, tốc độ màn trập), v.v.

Không phải là nhà lý thuyết điện ảnh, nhưng nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Erwin Panofsky lại có hai quan sát rất thú vị về điện ảnh. Đầu tiên, Panofsky khẳng định điện ảnh là môn nghệ thuật duy nhất có thể động hóa không gian và không gian hóa thời gian. Không gian trong điện ảnh không phải là không gian tĩnh. Máy quay chuyển động, cắt cảnh thay đổi không gian, v.v. cho thấy không gian có thể bị nhào nặn, kéo giãn hay nén lại. Tương tự, thời gian trong điện ảnh cũng có thể được sắp xếp bằng các thủ pháp như flashback hay dựng song song, vốn biến thời gian thành một không gian có thể được định hình và điều hướng [2]. Thứ hai, Panofsky chỉ ra điện ảnh khác biệt với những hình thức nghệ thuật đi trước như điêu khắc, kiến trúc, hay hội họa, ở điểm nó phong cách hóa thực tại (tức là bắt đầu từ thực tại thô rồi tìm cách tổ chức và định hình thực tại đó qua các thủ pháp cụ thể), thay vì thực tại hóa phong cách (tức là áp đặt một tinh thần thẩm mỹ lên một tổ hợp tài nguyên và chất liệu thô trong thực tại) [3]. Tức là, ở góc độ bản thể, điện ảnh khởi phát trong thực tại, chứ không phải được tạo tác từ nguyên liệu thô trong thực tại**.

Có hai kênh ngôn ngữ để điện ảnh trình hiện: đó là kênh hình ảnh và kênh âm thanh (tính từ thời điện ảnh có tiếng). Cần lưu ý rằng, mối quan hệ giữa hai kênh này không đơn giản là song song hay bổ trợ nhau; dù chúng ta vẫn thường quan niệm hình ảnh là chính, còn âm thanh chỉ là thứ yếu. Khi bước vào một trải nghiệm điện ảnh, người xem ký vào một “hợp đồng tri giác”, trong đó hình ảnh và âm thanh không tồn tại độc lập mà liên tục đối thoại và tái định nghĩa lẫn nhau. Tất cả những đặc trưng kể trên chỉ đang đề cập đến sự hiện diện, có mặt. Sự vắng mặt, khuyết thiếu cũng đóng vai trò quan trọng nhằm biểu thị cho ngôn ngữ điện ảnh (điện ảnh của Robert Bresson là một ví dụ), nhưng bọn mình sẽ không đi sâu vào phần này.

Tất nhiên, giới hạn tập quán ở đây là điện ảnh chủ lưu, điện ảnh tự sự. Ngược lại, những nhà làm phim thể nghiệm, phim cấu trúc cần được trải nghiệm theo một hướng khác. Stan Brakhage tác động trực tiếp lên phim âm bản: vẽ, cào xước, dánh cánh bướm và lá cây [lên phim âm bản]. Gregory Markopoulos phá vỡ các tập quán phổ thông về mã điện ảnh và buộc người xem phải trải nghiệm một nhịp điệu phi tự sự, cùng một cách đọc kháng lại biểu nghĩa tập quán. Họ là những người hoặc đứng ở đường biên, hoặc đứng ngoài vùng quy phạm của ngôn ngữ điện ảnh truyền thống. Sự tồn tại của họ đặt ra một câu hỏi căn bản: nếu điện ảnh có thể vận hành mà không cần hình ảnh chuyển động liên tục, không cần tường thuật, không cần bất kỳ tập quán nào của điện ảnh chủ lưu, thì những tập quán đó là gì: là bản chất của phương tiện hay chỉ là lịch sử của phương tiện?

Cái mà giới phê bình gọi là specificity thesis, tức là giả định mỗi phương tiện nghệ thuật có bản chất vật chất và hình thức đặc thù, và từ bản chất đó có thể suy ra những khả năng biểu đạt khu biệt và mang tính quy phạm, đã bị tấn công dữ dội trong phê bình điện ảnh đương đại. Tất nhiên, specificity thesis vẫn mang một sức nặng đáng kể trong không gian điện ảnh chủ lưu; bằng chứng là chúng ta vẫn dùng nó mỗi khi thảo luận về điện ảnh***. Còn lại, điều cần nhớ là ngôn ngữ điện ảnh truyền thống có tính tập quán: chúng được xây dựng qua lịch sử, qua thực hành, qua điều kiện hóa, chứ không phải qua yếu tính của phương tiện. Specificity thesis vận hành khi sự phân biệt đó bị bỏ qua, khi tập quán được đọc như yếu tính.

Một phê phán đến từ hướng khác, nhắm vào chính công cụ phân tích mà nhiều người sử dụng để đọc điện ảnh: ký hiệu học. Stephen Prince trong tiểu luận The Discourse of Pictures: Iconicity and Film Studies (1993) chỉ ra rằng truyền thống ký hiệu học điện ảnh, từ Metz trở đi (và sau này là Eco), đã áp đặt lên hình ảnh điện ảnh một mô hình ký hiệu của de Saussure vốn được xây dựng cho ngôn ngữ giao tiếp, nơi ký hiệu chỉ mang tính tập quán, trong khi hình ảnh điện ảnh về bản chất là hình tượng (iconic) và chỉ hiệu (indexical): nó không chỉ đại diện cho thực tại mà còn xuất phát từ thực tại vật chất (có thể liên hệ tới Bazin). Như bọn mình đã đề cập ở phần một, đây là một giới hạn cần chú ý khi đọc điện ảnh qua lăng kính ký hiệu học: theo kiểu góc quay A sẽ chỉ biểu thị một ý nghĩa X, hay chi tiết B sẽ chỉ báo hiệu một vùng diễn giải Y [4].

Hai phê phán về specificity thesis (nhắm vào tính quy phạm) và về việc đọc điện ảnh như ký hiệu (nhắm vào công cụ phân tích), không phủ nhận rằng điện ảnh có ngôn ngữ. Chúng chỉ nhắc nhở rằng ngôn ngữ đó phức tạp hơn bất kỳ một hệ thống lý thuyết nào có thể bao trọn. Điều này đặc biệt quan trọng khi ta đối mặt với một khái niệm như "show don't tell" - một quy tắc rất hay được nhấc ra khỏi ngữ cảnh và nguồn gốc văn học của nó (Wikipedia không tính phí :v). "Show don't tell" có thể là sự đúc kết một trực giác thực hành mang tính quy phạm, nhưng nếu sử dụng như một chân lý tuyệt đối nhằm bác bỏ phản đề của nó thì hoàn toàn không ổn.

Về mặt bản thể, từ Panofsky và Prince, có thể thấy hình ảnh điện ảnh không chỉ đại diện cho thực tại mà còn có dấu vết vật chất của thực tại trong chính nó - một quan hệ mà ngôn ngữ giao tiếp không có. Chính vì vậy, “show” trong điện ảnh không phải là một chiến lược biểu nghĩa, nó là điều kiện bản thể của hình ảnh. Ở góc độ bản thể (phần một là từ góc độ công cụ/thực hành), nói "show don't tell" như thể đó là lựa chọn phong cách là đã hiểu sai bản chất của hình ảnh điện ảnh ngay từ đầu. Nếu điện ảnh chủ lưu vận hành qua cả kênh hình ảnh lẫn kênh âm thanh, và nếu hai kênh đó không ngừng tương tác với nhau, thì “show” và “tell” không phải là hai cực đối lập mà là hai mặt của cùng một chỉnh thể. Do đó, việc chắp nối vụng về “show” vào hình ảnh và "tell" vào âm thanh, vào lời thoại như thể đó là bản chất của điện ảnh là một khẳng định vừa lười biếng, vừa sai lầm.

3. THỨ BA, DÙNG "SHOW DON'T TELL" HOẶC "TELL DON'T SHOW" ĐỂ CHE ĐẬY, HOẶC ĐÁNH LẠC HƯỚNG THẢO LUẬN,

Đây là một cái bọn mình thấy khá buồn cười, bởi nó đã đánh lạc hướng hoàn toàn cuộc thảo luận về một bộ phim hay hay dở. Cơ chế của nó thường diễn ra như sau: thay vì đối mặt với một phê bình cụ thể về kịch bản, về dàn cảnh, hay về cách bộ phim xử lý chủ đề của mình, người ta ném "show don't tell" hay "tell don't show" vào như một lá chắn để bác bỏ mọi phê bình, thay vì như một công cụ phân tích. Kết quả là cuộc thảo luận dịch chuyển khỏi bộ phim cụ thể và trôi vào một cuộc tranh luận về định nghĩa, về tập quán, về quy tắc, về ai đang áp dụng quy tắc chuẩn mực hơn, tài tình hơn. Bộ phim…biến mất. Chỉ còn lại khái niệm bị nhấc ra khỏi ngữ cảnh.

Tương tự là việc phân cấp điện ảnh thành các tầng như hàn lâm hay đại chúng; rồi từ đó suy ra rằng điện ảnh đại chúng không cần, hay không nên, đặt ra các yêu cầu cao hơn về mặt nội dung, hình thức hay tư tưởng. Đây là một sự đánh lận con đen khá…cục mịch, vì nó biến một phân loại có tính mô tả thành một phán quyết mang tính quy phạm. Lập luận này nghe có vẻ “thực tế”, nhưng thực chất nó đang hạ thấp cả nhà làm phim lẫn khán giả phổ thông. Nó giả định rằng khán giả phổ thông không xứng đáng được trải nghiệm điện ảnh chất lượng, và rằng điện ảnh chất lượng là đặc quyền của một không gian tinh hoa nào đó tách biệt hoàn toàn khỏi thị trường điện ảnh đại chúng - vốn hướng đến tệp khán giả phổ thông. Chúng ta ai cũng có thể lấy ví dụ về các đạo diễn hoạt động ở không gian điện ảnh đại chúng, hoặc làm phim dành cho đại chúng, nhưng vẫn có thể tạo nên các tác phẩm chất lượng: Howard Hawks, Akira Kurosawa, John Carpenter, Brian De Palma, Christopher Nolan, v.v. Bản thân Oscars của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ cũng là một thiết chế công nhận và điển phạm hóa điện ảnh đại chúng Mỹ, vốn thường bị nhầm lẫn như là tòa án tối cao của Điện-ảnh-viết-hoa. Tất nhiên, những so sánh về các tác phẩm từng giành Oscar, ví dụ như Anora, với filmography của đạo diễn X thì quả thực là quá khập khiễng.

Again, vấn đề không phải ở bản thân các khái niệm hay các cách phân loại, mà ở cách chúng bị sử dụng một cách thiếu suy xét để đóng khung, hoặc để kết thúc một thảo luận về điện ảnh thay vì chất vấn và phê bình. Vấn đề này không phải là một niềm tin có ý thức tự thân, mà là một thực hành tự tái sản xuất và tự nhiên hóa những giới hạn của chính nó. Tự nhiên đến mức không ai còn thấy cần đặt câu hỏi về nó nữa.

4. CUỐI CÙNG, VỀ "SHOW DON'T TELL", NGHỆ THUẬT, HÌNH ẢNH, VÀ NGÔN NGỮ,

Đây mới là phần mà bọn mình muốn tập trung. Mấy phần trên chỉ là râu ria. Lịch sử nghệ thuật nói chung, hay cụ thể hơn, là những khoảnh khắc định nghĩa lại lịch sử nghệ thuật nói chung luôn gắn liền với sự giải phóng, với sự thách thức các chuẩn tắc hay tập quán truyền thống, và rộng hơn là với sự làm khác đi. Mấy ai nghĩ hội họa giá vẽ có thể từ bỏ việc tái trình hiện thế giới thực trước khi nhiếp ảnh xuất hiện? Mấy ai nghĩ sân khấu có thể tách khỏi truyền thống kịch học từ thời Aristotle, khỏi sự hiện thực hóa văn bản kịch (nơi tất cả các yếu tố khác đều là thứ cấp so với văn bản kịch), và có thể trở thành không gian trình hiện thuần túy (thay vì tái sản xuất hiện thực-văn bản), phi kịch tính? Thế nên, bất kỳ một thảo luận nào về ngôn ngữ nghệ thuật hay hệ thống quy tắc và tập quán cũng sẽ là câu chuyện của cái đã có và cái chưa có. Nó mang trong mình lịch sử, mang trong mình quan hệ quyền lực, mang trong mình những gì đã được nói và những gì đang bị kìm nén.

Với điện ảnh, một môn nghệ thuật mà hình ảnh là thuộc tính, thì vấn đề này lại càng đáng lưu tâm. Một trong những học giả nghệ thuật mà bọn mình khá yêu thích là W. J. T. Mitchell, cho rằng mọi lý thuyết về hình ảnh, mọi nỗ lực định nghĩa hình ảnh là gì, hay nó khác ngôn ngữ như thế nào, đều đã bị định hình bởi những giả định về ý thức hệ. Hình ảnh không bao giờ “tự” nói, nó nói qua một hệ thống đọc đã được định hình bởi ngôn ngữ. Nói một cách khác, quan hệ giữa hình ảnh và ngôn ngữ không bao giờ là quan hệ bình đẳng hay trung tính: dù là khi coi ngôn ngữ là cao cấp hơn, trừu tượng hơn, lý trí hơn; hay coi quyền lực của hình ảnh như một thứ gì đó nguyên thủy, nguy hiểm, cần được kiểm soát bằng ngôn ngữ [5]. Mitchell truy ngược về thời Hy Lạp cổ đại của Plato, cho đến thời hậu Khai sáng và Lãng mạn Đức của Lessing hay Hegel, và chỉ ra các triết gia phương Tây thường đặt ngôn ngữ cao hơn vì nó gắn với lý trí, với trừu tượng hay tư duy logic. Ngược lại, hình ảnh lại bị đặt thấp hơn vì nó gắn với giác quan, với cụ thể, với cảm xúc, và thường với những gì văn hóa phương Tây coi là nguyên thủy hay nguy hiểm. Mitchell định nghĩa hai khái niệm iconophobia và iconophilia: cái trước là nỗi sợ mang tính cấu trúc qua hình ảnh (vốn gắn liền với hệ thống tư tưởng mà hình ảnh là một phần trong đó); cái sau là sự sùng bái hình ảnh, và coi nó như thứ gì đó thuần khiết, tiền lý trí, và có quyền năng ma thuật vượt khỏi ngôn ngữ [6]. Nhìn theo góc độ này, quan niệm về sự ưu việt của "show don't tell" là một triệu chứng kép. Nó vừa là iconophilia được thể chế hóa trong phê bình điện ảnh phổ thông, khi mà mỗi thể chế đều truyền tải một hệ thống giá trị ngầm về cái gì là điện ảnh “đích thực”. "Show don't tell" là một trong những công thức cô đọng nhất, dễ tiếp cận nhất của hệ thống giá trị đó. Nhưng đồng thời, "show don't tell" cũng là một triệu chứng của iconophobia, dù dưới một lớp lang tinh vi hơn, đó là nỗi lo sợ sự mơ hồ, đa nghĩa của hình ảnh. Cụ thể, “show don't tell” ngụ ý rằng hình ảnh tự thân nó phải truyền đạt thông tin tường thuật một cách rõ ràng và hiệu quả, phải dẫn đến một ý nghĩa được kiểm soát mà không cần sự bổ trợ của âm thanh. Điều "show don't tell" thực sự sợ không phải là lời thoại, mà là sự đa nghĩa của hình ảnh khi không được kiểm soát.

Mitchell khẳng định ngôn ngữ học thông thường đã tạo ra một dạng bẫy nhận thức. Khi ta nói về hình ảnh VÀ ngôn ngữ, thì ta đã ngầm giả định rằng hai thứ đó là hai thành tố có thể tách biệt được. Theo Mitchell, không bao giờ có hình ảnh thuần túy hay ngôn ngữ thuần túy. Mọi hình ảnh đều đã được ngôn ngữ thẩm thấu - được đặt tên, được mô tả, được đọc trong một ngữ cảnh ngôn ngữ cụ thể. Mitchell đưa ra khái niệm imagetext như một thực thể lai ghép trong đó các thành tố hình ảnh và văn bản liên tục thương lượng với nhau, nhằm liên tục nhào nặn các tiềm năng về ý nghĩa, dù chúng không bao giờ đạt được sự thống nhất. Áp dụng khái niệm imagetext, có thể nhìn điện ảnh là một địa hạt trong đó câu hỏi về trường quan hệ hình ảnh/ngôn ngữ được đặt ra một cách cực đoan và liên tục, nơi “show” hay “tell” thuần túy không tồn tại. Mỗi khoảnh khắc trong một bộ phim là một khoảnh khắc thương lượng: giữa hình ảnh và thoại, giữa âm thanh và hành động, giữa nhạc phim và cảm xúc được trình hiện, hay giữa sự vắng mặt và hiện diện của ngôn ngữ trong cấu trúc phim. Hãy xem cách mà Michelangelo Antonioni mô tả sự cô độc, lạc lõng, và vulnerability của nhân vật Claudia trước ánh mắt dò xét của những gã đàn ông trong L’Avventura (1960): máy quay đi theo Claudia một cách đầy xâm phạm, cách Claudia thu vai lại, bước đi nhanh nhưng lại không có mục đích rõ ràng, hay phần thoại của những gã đàn ông mà sự có mặt của Claudia chỉ là vật liệu cho cuộc trò chuyện sặc mùi định kiến giới của họ. Trong phân đoạn này, không có khoảnh khắc nào trong cảnh đó là “show” hay “tell” thuần túy. Các thành tố kể trên đều đang thương lượng với nhau, và nghĩa của cảnh nằm trong sự thương lượng, chứ không phải trong bất kỳ một thành tố đơn lẻ nào.

Một ví dụ về imagetext ở quy mô cấu trúc là News From Home (1977) của Chantal Akerman: khi hình ảnh động của đường phố New York và giọng đạo diễn đọc thư của mẹ không minh họa hay giải thích lẫn nhau. Hình ảnh không “show” nội dung những lá thư, còn những lá thư cũng không “tell” ý nghĩa của hình ảnh. Hai thành tố này đang thương lượng với nhau liên tục, và nghĩa nằm trong khoảng cách giữa chúng: khoảng cách địa lý giữa New York và Brussels, khoảng cách thế hệ giữa mẹ và con gái, khoảng cách giữa ngôn ngữ của người ở lại và hình ảnh của người đã rời đi - một không-gian-không-thể-đi-vào. Thế nên, câu hỏi nên được đặt ra không phải là phương thức nào, “show” hay “tell”, đang thống trị theo một nghĩa cố định, mà là quan hệ đó đang dịch chuyển như thế nào từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc kia, và sự dịch chuyển đó tạo ra ý nghĩa gì. "Show don't tell" tuyên bố giải phóng hình ảnh khỏi ngôn ngữ, nhưng thực ra nó đang lo sợ sự đa nghĩa của hình ảnh [7].

Còn lại, bọn mình xin phép không đánh giá về việc như thế nào mới là “show” đúng, hay như thế nào mới là “tell” chuẩn. Bọn mình chỉ thấy rằng, việc coi "show don't tell" hay phản đề của nó là chân lý phổ quát của điện ảnh là một quan niệm không ổn cho lắm. Tương tự là việc nhìn nhận “show” và “tell” như hai thành tố có thể tách biệt được trong điện ảnh, đặc biệt là điện ảnh chủ lưu.

------------------------------------------------------------------

*Ví dụ, mọi quyết định về góc máy, ánh sáng, nhịp dựng và vị trí của người xem trong quan hệ với hình ảnh đều đã mang trong mình những giả định về cái gì là cái đáng nhìn, ai có quyền nhìn và thực tại nên được trình hiện theo logic nào. Đây là điểm ngưỡng của Roemer (về chất lượng). Mitchell, ở phần cuối, đặt ra một câu hỏi khác (về cấu trúc quyền lực).

**Ở đây, bọn mình diễn giải ý của Panofsky không đồng nghĩa với việc bọn mình hoàn toàn đồng ý với quan điểm này của ông. Tuy vậy, đây vẫn là một cách phân biệt hữu dụng, đặc biệt là khi bọn mình không muốn đưa André Bazin vào cuộc thảo luận.

***Ví dụ, khi chúng ta nói "đây là phim, không phải sách" để bác bỏ phê bình về việc phim ít thoại, hay "điện ảnh phải dùng hình ảnh chứ không phải lời nói" như một nguyên tắc hiển nhiên, specificity thesis đang vận hành, nhưng ở dạng đã được tự nhiên hóa đến mức không còn ai nhận ra nó là một giả định có thể tranh luận được. Vấn đề không phải là specificity thesis đúng hay sai. Ngược lại, quan sát rằng các phương tiện nghệ thuật khác nhau có những khả năng và giới hạn khác nhau là một nhận xét có giá trị. Vấn đề là khi luận điểm mô tả đó bị chuyển hóa thành một mệnh lệnh quy phạm: từ "điện ảnh CÓ THỂ làm những điều mà văn học không làm được" sang "điện ảnh PHẢI làm những điều đó và KHÔNG ĐƯỢC làm những điều văn học làm". Đây là bước nhảy logic mà Noël Carroll đã phê phán, và đây cũng chính xác là bước nhảy mà “show don't tell” thực hiện mỗi khi nó được dùng như một tiêu chí phán xét thay vì một công cụ mô tả.

------------------------------------------------------------------

[1] Về cách diễn giải này, các bạn có thể tham khảo khái niệm sự dày đặc cú pháp (syntactic density) trong cuốn Languages of Art (1968) của Nelson Goodman.

[2] Về không gian tường thuật trong điện ảnh Hollywood và mối quan hệ của nó với cơ chế tái sản xuất ý thức hệ qua sự đóng khung và tự nhiên hóa hình ảnh, các bạn có thể tham khảo cuốn Questions of Cinema (1981) của Stephen Heath.

[3] Về một cách diễn giải chi tiết hơn về điện ảnh, xin mời tham khảo cuốn The Social History of Art (1951), chương VIII. The Film Age của Arnold Hauser. Hauser nhìn đặc trưng của điện ảnh là sự hòa trộn không gian và thời gian theo cách chưa từng có trong lịch sử nghệ thuật. Ông gắn điện ảnh với mô thức của thời hiện đại: của sự phân mảnh không gian [của ống kính], của tính đồng thời [của dựng phim song song], mà sự phát triển công nghệ lần đầu tiên làm con người ý thức được. Đây cũng là lý do mà Hauser khẳng định Proust và Joyce được đọc như những tác giả "điện ảnh nhất" trong văn học hiện đại: không phải vì họ bắt chước kỹ thuật dựng phim, mà vì họ và điện ảnh đang cùng phản ứng với một cấu trúc tri giác của thời đại.

[4] Một cách tiếp cận khác cho vấn đề đọc phim qua lăng kính ký hiệu học này là cuốn Film as Film (1972) của V. F. Perkins, khi ông đề xuất khái niệm về sự mạch lạc nội tại. Theo Perkins, một bộ phim hay không cần tuân theo bất kỳ quy tắc hay tập quán về hình thức nào từ bên ngoài; nó chỉ cần mạch lạc với chính nó, với thế giới mà nó đang xây dựng.

[5] Một cách nhìn khác về mối quan hệ giữa hình ảnh/ngôn ngữ có thể được tìm thấy qua cuốn La fable cinématographique (2001) của Jacques Rancière. Đọc lại Aristotle trong Poetics, Rancière tách biệt giữa mythos và opsis: giữa cốt truyện, sự mạch lạc của tường thuật, logic nhân quả (mang tính lý trí) và các hiệu ứng cảm giác, tác động thị giác phi tường thuật (mang tính tiền lý trí) - vốn là đặc trưng từ tính cơ giới, máy móc của điện ảnh. Rancière khẳng định tính máy móc của điện ảnh tạo ra một lực opsis liên tục kháng cự sự kiểm soát của mythos.

[6] Về mối quan hệ giữa hình ảnh/ngôn ngữ nhưng qua sự phân cấp về tính trung thực, các bạn có thể tham khảo tiểu luận Classic Realist Text (1974) của Colin McCabe. McCabe cho rằng điện ảnh Hollywood cổ điển đưa cho người xem ảo giác rằng khi một nhân vật nói điều gì đó không đúng hay tự lừa dối, hình ảnh biết và cho người xem thấy sự thật mà nhân vật không thấy, hoặc cố tình không thấy. Giả định ở đây là hình ảnh sẽ không bao giờ nói dối.

[7] Một tác giả, đồng thời cũng là một nhà làm phim thể nghiệm, Nathaniel Dorsky, đưa ra khái niệm về hình ảnh đa trị trong điện ảnh - một chỉnh thể không thể bị quy giản về một nghĩa duy nhất. Các bạn có thể tham khảo cuốn Devotional Cinema (2003) rất thơ của Dorsky; khi ông minh định về một cơ chế trải nghiệm điện ảnh mà sự chú ý của người xem hoàn toàn tập trung vào khoảnh khắc, vào sự hiện diện hoàn toàn với trạng thái đang có (thời gian hiện tại), chứ không phải hướng vào câu hỏi khoảnh khắc này dẫn đến đâu (thời gian tương lai).

Enjoy reading!

Address

Lãng Yên

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vòng về Phim posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Vòng về Phim:

Share