06/09/2026
GIỮ GÌN VĂN HOÁ LÚA MÙA
Vào buổi chiều thứ Bảy vừa qua, không gian Cà phê Thứ Bảy Trẻ tiếp tục đón chào một vị diễn giả–một “nhà khoa học của nông dân”, kĩ sư nông nghiệp Lê Quốc Việt hay còn được biết đến với tên gọi Tư Lúa Mùa.
Với những chia sẻ chân thật và cực dí dỏm về một hành trình từ lúc biết làm ruộng năm 13 tuổi đến lúc quay về với văn hoá lúa mùa khi đã về hưu, chú Tư Việt đã làm dịu mát cả khán phòng trong một buổi chiều đầy nắng giữa lòng Sài Gòn. Trong buổi chia sẻ về đời sống lúa mùa của ông bà xưa, người nông dân gốc Hoa-Khmer kể rằng văn hoá lúa mùa chính là “tổng hợp tất cả những cách thức ứng xử giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, những hiểu biết về quy luật tự nhiên và vận dụng nó để thích ứng với những thay đổi của tự nhiên.” Văn hoá lúa mùa vừa là sự kế thừa nền văn minh lúa nước mấy ngàn năm, cùng hơn 300 năm khai thác và phát triển văn hóa ở vùng lúa nước của Đồng bằng Sông Cửu Long đã trở thành một phận rất quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam, vừa là sự giao thoa, tiếp biến văn hóa đầy sáng tạo của di dân Việt với người Khmer, người Hoa và người Chăm với tính chất một cộng đồng cùng sinh sống và phát triển.
Nét văn hoá đó được thể hiện qua cách thức ứng xử với tự nhiên của người xưa, nhìn thế đất để khai hoang và mở rộng sản xuất như khai thác đất gò trước-đất trũng sau, hay khai thác đất phù sa trước-đất phèn mặn sau; theo lời chú Tư, đó là một quá trình người nông dân tổng hợp, tích luỹ kinh nghiệm sử dụng đất thuận tự nhiên. Và vùng ĐBSCL vốn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, người nông dân xưa cần hiểu rõ quy luật của sông Cửu Long và hệ thống sông rạch trong vùng theo mùa để sắp xếp mùa vụ, việc làm. Bên cạnh đó, nông dân qua các đời đã cải tiến nông cụ để nâng cao năng suất lao động; khi tổng hợp lại, mới thấy những công cụ được truyền giữ qua nhiều đời mang đậm dấu ấn của văn hoá dân tộc Khmer, Hoa và Việt.
Cây lúa là loại quang cảm; hầu hết các giống lúa mùa đều ảnh hưởng quang kỳ thích ứng tự nhiên. Di sản lúa mùa chúng ta có được hôm nay đến từ việc chủ động chọn giống trên cơ sở thụ phấn chéo và đột biến có lợi của ông cha ta, cộng thêm sự giao lưu nông nghiệp giữa người Việt, người Chân Lạp, người Xiêm (Thái), và người Chăm. Trồng lúa mùa trong sự giao thoa văn hoá đó, cách con người đối nhân xử thế cũng được ảnh hưởng: người ta hợp tác, giúp đỡ nhau là chính, lối xóm vần công nhau từ chuyện ruộng đồng đến cất-sửa nhà, cưới hỏi, giỗ chạp, chia sẻ dụng cụ, lương thực, thức ăn mỗi khi có cơ hội… Nhìn một cách rộng hơn, có thể hiểu là do khai phá vùng đất mới thì người ta phải đặt yếu tố tồn tại lên hàng đầu, nhưng chính vì vậy mà việc trồng lúa mùa trở thành một quá trình đặt nền móng, quá trình tích luỹ không chỉ nguồn lương thực hữu cơ-kinh nghiệm cho nông nghiệp tái tạo mà còn hình thành một nếp sống nghĩa tình ở xã hội nông nghiệp xưa mà xã hội tiêu dùng ngày nay đang dần xoá bỏ.
Sẽ thiếu sót nếu bỏ qua những chia sẻ thực từ hàng ghế khán giả. Ngày hôm qua, cả khán phòng sôi động hẳn lên khi khán giả đặt nhiều câu hỏi thể hiện rõ sự quan tâm đối với chủ đề này, trong đó trung bình mỗi người phải hỏi đến 2-3 câu. Xin chia sẻ lại một suy ngẫm từ anh Minh Tôn-một khán giả, khi tham dự chương trình thay cho lời kết:
“KHÔNG THỂ BẮT MỘT MÌNH NGƯỜI NÔNG DÂN GÁNH CẢ VIỆC BẢO TỒN DI SẢN CHO XÃ HỘI.
Nếu chúng ta nói rằng cần nông nghiệp hữu cơ, cần đa dạng sinh học, cần giữ giống bản địa, cần văn hóa Mekong… nhưng khi đi chợ vẫn chỉ hỏi: “Gạo này bao nhiêu một ký?” thì có lẽ mình mới làm được một nửa câu chuyện.Nửa còn lại nằm ở người ăn. Chiều qua, chúng tôi có thể bỏ 92.000 đồng cho một ly đồ uống để ngồi trong một không gian đẹp, nghe anh Tư kể chuyện lúa mùa và thấy quá rẻ. Nhưng...Tôi bỗng tự hỏi mình: “Tôi đã sẵn lòng bỏ ra một khoản xứng đáng để mua một ký gạo lúa mùa hữu cơ của ảnh chưa? Nếu nó mắc hơn những loại gạo đang quảng cáo là “ngon nhứt”, mình có mua không? Mình có nấu cho con cháu ăn không? Mình có kể cho bạn bè nghe tại sao hột gạo ấy đáng giá không? Hay mình chỉ thích nghe câu chuyện đẹp về người giữ giống, rồi bước ra khỏi quán và tiếp tục mua thực phẩm theo cùng một cách cũ? Và rồi tôi nghĩ tới một tầng sâu hơn nữa.
MÌNH ĂN CƠM NHƯ THẾ NÀO CHO KHỎI PHỤ NẮNG MƯA
Có bao giờ, trước một chén cơm, mình thực sự cảm được trong đó có giọt mồ hôi của người nông dân?
Có những mùa mất trắng.
Có những phận người phải bán đất.
Có mấy trăm năm ông bà mình lựa từng giống lúa cho hợp đất, hợp nước, hợp mùa.
Có nắng.
Có mưa.
Có phù sa.
Có con nước.
Có bàn tay người Khmer, người Việt, người Hoa và biết bao lớp cư dân đã cùng sống trên châu thổ này.
Có khi có cả nước mắt. Và trong lịch sử mở đất, có lẽ cũng từng có máu...Nếu ăn được một chén cơm mà thấy được chừng ấy thứ, thì hột cơm đâu còn chỉ là carbohydrate để nuôi thân!
Nó mang theo một phần ký ức.
Một chút biết ơn.
Một chút tình nghĩa... Và biết đâu, những phẩm chất mà anh Tư nói về người miền Tây HÀO SẢNG, BAO DUNG, SÁNG TẠO cũng theo hột cơm mà đi vào trong mình…”
Trong tất cả các chương trình, không gian cà phê luôn chào đón tất cả mọi người và chào đón những câu hỏi dù cơ bản đến đâu. Để tham gia cùng chúng tôi ở những buổi cà phê trò chuyện tiếp theo, hãy theo dõi các sự kiện ở trang Event của Cà Phê Thứ Bảy Trẻ và Salon Văn Hoá Cà Phê Thứ Bảy nhé.
Bài viết: Hồng Xuân