Cà phê thứ Bảy Trẻ

Cà phê thứ Bảy Trẻ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Cà phê thứ Bảy Trẻ, Community Organization, Lầu 2 & Lầu 3 quán Trung Nguyen Legend/603 Trần Hưng Đạo, quận 1, Tphcm, Ho Chi Minh City.

Cà phê thứ Bảy Trẻ (thuộc chuỗi quán Cà phê thứ Bảy) là không gian dành cho giới trẻ, đặc biệt là những ai yêu thích văn hóa, muốn giao lưu, gặp gỡ với tinh thần cởi mở, kết nối để sáng tạo

CHIM LẠC-MỘT HÌNH ẢNH DO HẬU THẾ KIẾN TẠOTrong những ngày gần đây, từ một video âm nhạc, có nhiều tranh luận xoay quanh ...
06/06/2026

CHIM LẠC-MỘT HÌNH ẢNH DO HẬU THẾ KIẾN TẠO

Trong những ngày gần đây, từ một video âm nhạc, có nhiều tranh luận xoay quanh hình tượng chim Lạc. Có người xem đó là biểu tượng thiêng liêng của dân tộc, là hình ảnh tổ tiên, là linh vật gắn với cội nguồn Việt Nam. Nhưng nhìn từ góc độ văn hóa sử, câu chuyện chim Lạc và trống đồng lại là minh chứng cho khái niệm truyền thống được kiến tạo, được hiểu là những biểu tượng, nghi lễ, câu chuyện được xây dựng nhằm tạo nên ký ức chung, niềm tin chung và cảm giác thuộc về một cộng đồng chung. Từ đó, có thể thấy, truyền thống không chỉ là thứ được kế thừa từ quá khứ, mà đôi khi còn là thứ được xây dựng trong hiện tại - bài viết của nhà nghiên cứu Trần Quang Đức (dịch giả, và là tác giả của nhiều khảo cứu như Ngàn năm áo mũ, Chuyện Trà – Lịch sử một thức uống lâu đời của người Việt, Họ và tên - Một lịch sử nhìn từ danh tính người Việt...) đăng trên trang Tia sáng, CPTB Trẻ giới thiệu tới các bạn.

Những điểm chính được đề cập trong bài viết này là :
Thuật ngữ "Văn hóa Đông Sơn" quen thuộc với chúng ta để gọi cả một nền văn hóa thuộc thời đại kim khí cách đây khoảng hai đến ba nghìn năm, thực ra mới chỉ được sử dụng từ năm 1934 theo đề xuất của học giả Robert von Heine-Geldern. Đề xuất này xuất phát từ sự việc vào năm 1924, một người câu cá phát hiện một số hiện vật bằng đồng tại làng Đông Sơn bên bờ sông Mã (Thanh Hóa). Từ phát hiện ban đầu ấy, viên thuế quan người Pháp L. Paijot tiến hành những cuộc khai quật tiếp theo. Và như vậy, tên một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Mã từ đó trở thành tên gọi của cả một nền văn hóa rực rỡ.

Hình ảnh các vua Hùng cũng không phải từ xa xưa đã là biểu tượng quốc gia theo nghĩa hiện nay. Mãi đến năm 1917, vua Khải Định chuẩn y theo lời tấu của tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc mới quyết định chọn ngày giỗ chung cho các vua Hùng (trước đó chỉ có dân bản địa cúng tế, một năm hai kỳ, mùa xuân và mùa thu).

Tương tự, cái tên "chim Lạc" mà ngày nay ai cũng quen thuộc, theo lời kể của giáo sư Trần Quốc Vượng năm 1974: "Chim lạc ư! Đây là chuyện đặt tên của thầy tôi, GS Đào Duy Anh. Là nhãn hiệu cho một hình ảnh. Nhãn hiệu này đẹp. Tính tư tưởng cao. Còn muốn tên khác ư? Các ông các bà muốn gọi nó theo kiểu tả thực bằng tiếng Việt nhà quê thì cứ thế này: cái cò, cái vạc, cái nông... Xong!"
Nói cách khác, ngay cả tên gọi "chim Lạc" cũng là một sản phẩm của tư duy học thuật hiện đại.

Đối với mô-típ trang trí chim mỏ dài trên trống đồng Đông Sơn, cho đến nay chúng ta chưa có tư liệu nào chứng minh người Đông Sơn gọi nó là chim Lạc. Sự ngự trị của chim mỏ dài dạng cò, hạc bay ngược chiều kim đồng hồ thành một vành trang trí trên mặt trống đồng là khá ổn định, trải qua nhiều thế kỷ và mang tính biểu tượng cao. Nhưng cũng chưa có tư liệu nào cho thấy họ thờ phụng nó như một linh vật hay vật tổ theo nghĩa tôn giáo. Những ý nghĩa thiêng liêng mà ngày nay chúng ta gắn cho hình tượng ấy phần lớn là kết quả của quá trình diễn giải sau này.

Nói vậy không có nghĩa những ý nghĩa ấy là vô giá trị. Mọi cộng đồng đều cần những câu chuyện chung, niềm tin chung. Mọi quốc gia đều cần những biểu tượng chung. Lá cờ, quốc ca, ngày quốc khánh, những biểu tượng văn hóa... rất nhiều thứ trong số đó đều là sản phẩm của những quá trình kiến tạo lịch sử diễn ra cách đây không lâu. Điều quan trọng không phải chúng có mang nguồn gốc cổ xưa hay không, quan trọng là chúng giúp cộng đồng kể cho chính mình nghe một câu chuyện chung như thế nào.

Bạn có thể đọc toàn bộ bài viết của nhà nghiên cứu Trần Quang Đức ở đây : https://tiasang.com.vn/chim-lac-mot-truyen-thong-do-hau-the-kien-tao-5080691.html



Vào lịch hẹn cuối tuần nào bạn ơi
03/06/2026

Vào lịch hẹn cuối tuần nào bạn ơi

Người ta không ngừng theo đuổi ước mơ vì già đi, mà già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ!Ở tuổi 97 bà Xuân Phượng ra cuốn sá...
31/05/2026

Người ta không ngừng theo đuổi ước mơ vì già đi, mà già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ!

Ở tuổi 97 bà Xuân Phượng ra cuốn sách thứ ba

Câu chuyện ngụ ngôn về cái hang của Plato!
29/05/2026

Câu chuyện ngụ ngôn về cái hang của Plato!

CÂU CHUYỆN NGỤ NGÔN VỀ CÁI HANG CỦA PLATO

TỪ CÂU CHUYỆN "RỜI HANG"...

Ngày xửa ngày xưa, xưa ơi là xưa, có một cái hang và có một cộng đồng lớn sống trong cái hang đó. Vì cái hang ấy vô cùng lớn với các ngóc ngách rất lắt léo và cộng đồng ấy đã sống ở đó qua nhiều thế hệ, nên lâu ngày họ mặc nhiên tin rằng cái hang ấy là cả thế giới và ánh sáng từ đống lửa trong hang là ánh sáng duy nhất mà họ có.

Cho đến một ngày nọ, có một người bỗng vô tình lọt ra được ngoài hang. Ban đầu, anh ta cảm thấy đau đớn vì bị lóa mắt trước ánh mặt trời và cơ thể chưa thích ứng được với khí hậu và thời tiết của thế giới bên ngoài. Nhưng khi đã quen dần và cảm nhận được sự ấm áp của ánh mặt trời, sự sinh động huyền ảo của vạn vật, của cỏ cây hoa lá, anh ta nhận ra rằng đây mới thực sự là thế giới của “con người”.

Anh ta quyết định quay trở về hang và ra sức thuyết phục, tìm cách đưa mọi người đồng hang rời hang để về với thế giới. Thế nhưng, sau khi nghe anh ta kể câu chuyện ở thế giới bên ngoài hang, những người trong hang không những không tin, mà còn quyết định giết chết anh ta, vì cho rằng đó là những điều bịa đặt, và vì lo sợ rằng, những nỗ lực và việc làm của anh ta sẽ gây ra sự rối loạn, cũng như đe dọa cuộc sống êm ấm hạnh phúc bao đời của cộng đồng trong hang…”.
.. ĐẾN CÂU HỎI CHO CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH "QUẢN TRỊ CUỘC ĐỜI"

Mỗi khi ngẫm nghĩ về câu chuyện này, tôi lại tự hỏi mình rằng: Mình đã “rời hang” chưa? Gia đình mình, tổ chức mình, cộng đồng mình… đã “rời hang” chưa?

Nếu mình đã rời hang và ra với ánh sáng thì thật là tuyệt vời. Nhưng nếu vẫn còn ở trong hang và mình cũng biết rõ điều đó (và đang từng bước tìm cách rời hang) thì cũng không phải là điều tệ hại. Còn nếu mình đang ở trong hang mà lại cứ tưởng rằng đã rời hang rồi và ra với ánh sáng rồi thì thật là bất hạnh.

Nhưng có một điều còn bất hạnh hơn vô vàn lần, đó là, mình đã thực sự rời hang rồi, nhưng không phải là “rời hang” để ra “ánh sáng”, mà là rời cái hang này để rồi lại chui vào một cái hang khác, to hơn, tăm tối hơn, nhưng mình lại không hề nhận ra điều đó và cứ đinh ninh rằng mình đã rời hang.

Và mỗi con người, ai cũng có thể có đến mấy “cái hang” (chứ không phải chỉ một). Gia đình mình, tổ chức của mình, xứ sở mình, và thậm chí cả thế giới này đều có thể là những cái hang. Nhưng, “cái hang” to nhất, tăm tối nhất chính là cái hang “vô minh và ấu trĩ” bên trong con người của mình.

Nếu như hành trình khai phóng bản thân, đưa bản thân “rời hang” đã khó, thì hành trình khai phóng xã hội, cùng cộng đồng mình “rời hang” lại càng gian nan gấp bội phần. Đó là một hành trình đầy gian khó, rất dài lâu và nhiều hiểm nguy, nhưng là một hành trình tất yếu mà chắc hẳn ai trong chúng ta cũng thấy rằng không thể không bước tiếp.

(Trích sách Đúng Việc – Một góc nhìn về câu chuyện khai minh” của tác giả Giản Tư Trung)

Nguồn: Pace.edu.vn

TRƯƠNG VĨNH KÝ- MỘT NHÂN VẬT ĐA DIỆN“Yêu nước thì ai cũng yêu nước, đừng ai đòi độc quyền yêu nước. Chỉ là chủ nghĩa yêu...
29/05/2026

TRƯƠNG VĨNH KÝ- MỘT NHÂN VẬT ĐA DIỆN

“Yêu nước thì ai cũng yêu nước, đừng ai đòi độc quyền yêu nước. Chỉ là chủ nghĩa yêu nước của mỗi người thể hiện khác nhau, thậm chí xung đột nhau về lợi ích” - nhà sử học Dương Trung Quốc nói xung quanh câu chuyện Trương Vĩnh Ký yêu nước hay không yêu nước? tại tọa đàm, trưng bày chuyên đề về nhà báo Trương Vĩnh Ký được Bảo tàng Báo chí Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 11/9/2020.

Theo nhà báo Trần Hữu Phúc Tiến, Trương Vĩnh Ký từng làm việc cho người Pháp, nhưng ông vẫn là người yêu nước theo cách của mình.

“Cụ không hô hào người dân ra Bưng Biền kháng chiến mà kêu gọi dân giữ văn hóa Việt Nam trong lúc giao thời. Cụ ra đời lớn lên vào buổi giao thời nhưng là người tiên phong phát triển văn hóa hiện đại Việt Nam trên nền văn hóa cổ truyền, với hơn 100 tác phẩm đã in và 40 tập di cảo”, nhà báo Phúc Tiến nói.

Ông Phúc Tiến cũng đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy Trương Vĩnh Ký là một người yêu nước theo cách của mình. Ông là người phổ biến truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu - một tác giả chống Pháp, viết những tác phẩm dạy chữ quốc ngữ nhưng thực ra là để truyền bá những câu chuyện lễ nghĩa của phương Đông, đưa mục Sử An Nam lên Gia Định báo, cụ viết sách lịch sử Việt Nam, viết lịch sử Sài Gòn trước khi người Pháp vào, đăng bài hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương trên tạp chí Thông Loại Khóa Trình…

Ông Phúc Tiến cũng đưa ra những dẫn chứng cho thấy một thời Trương Vĩnh Ký từng bị đánh giá là tay sai cho người Pháp trong một số việc ông làm nhưng sau đó lại được đánh giá lại.
Đó là câu chuyện với tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876, ông Phúc Tiến nói, nó từng bị cho là một báo cáo tình báo về Bắc Kỳ cho chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, nhưng giờ đây nó được coi là tác phẩm ký sự đầu tiên của Việt Nam ghi chép lại một chuyến đi, phóng sự đầu tiên về tình cảm Bắc - Nam.

Còn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khẳng định, với những gì mà Trương Vĩnh Ký để lại thì ông là tác giả quốc ngữ lớn và phong phú nhất từ khi chúng ta dùng chữ quốc ngữ.
Nhưng nghịch lý là ông lại chính là một trong những tác giả mà hậu thế đặt nhiều câu hỏi và đặt quá nhiều phủ định nhằm vào ông.

Về câu chuyện hậu thế đặt quá nhiều câu hỏi và sự phủ định với Trương Vĩnh Ký, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân kể, vào năm 1970, ở miền Bắc xuất hiện tiểu thuyết Bóng nước Hồ Gươm, trong đó cho Trương Vĩnh Ký xuất hiện như một nhân vật ra Bắc nhưng bị sĩ phu Bắc Hà thể hiện một thái độ rất mất cảm tình.
Và những dấu ấn “mất cảm tình” như thế về Trương Vĩnh Ký còn tiếp tục kéo dài.
Ông ví dụ, khi TP.HCM làm những bộ sách về địa chí văn hóa thì một trong những nhân vật bị nâng lên đặt xuống nhiều nhất là Trương Vĩnh Ký.

Một chuyện khác, cách đây khoảng hơn chục năm, tại một hội thảo mà ông Lại Nguyên Ân tham dự, một nhà nghiên cứu vừa tham luận trong hội thảo và vừa nói riêng với ông rằng chỉ nên xem Trương Vĩnh Ký là một nhà văn hoạt động văn hóa thôi chứ không phải nhà văn hóa.
Trong khi đó, theo ông Ân, Trương Vĩnh Ký “dư sức để được gọi là nhà văn hóa”.

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân than: “Người ta chỉ cần nhìn vào việc ông có cộng tác với người Pháp, còn ông có làm cho văn hóa dân tộc bao nhiêu thì người ta cứ để đấy đã”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc hoàn toàn không ngạc nhiên khi hiện nay vẫn còn những đánh giá chưa đúng về một nhân vật đa diện như Trương Vĩnh Ký.
“Đến nhân vật như Phan Chu Trinh mà lịch sử còn từng đánh giá là một nhà cách mạng cải lương theo nghĩa tiêu cực nữa là một nhân vật phức tạp như Trương Vĩnh Ký”, ông Quốc nói.

Chủ trì tọa đàm, GS-TS. Đỗ Quang Hưng, Đại học Quốc gia Hà Nội, kết luận, Trương Vĩnh Ký là khối đa diện có nhiều chiều kích, động đến nhiều vấn đề lớn của lịch sử dân tộc và lịch sử văn hóa cần nhiều ngành nghiên cứu để làm sáng tỏ về con người này.

Nguồn tham khảo :
https://nguoidothi.net.vn/truong-vinh-ky-mot-nhan-vat-da-dien-25299.html

https://amp.laodong.vn/thoi-su/toa-dam-trung-bay-chuyen-de-ve-nha-bao-truong-vinh-ky-835223.ldo

TƯƠNG LAI QUÁ ĐÁNG SỢ TRONG TIỂU THUYẾT VỪA THẮNG GIẢI TẠI ANHMột tiểu thuyết viễn tưởng về tương lai nơi AI thay thế co...
29/05/2026

TƯƠNG LAI QUÁ ĐÁNG SỢ TRONG TIỂU THUYẾT VỪA THẮNG GIẢI TẠI ANH

Một tiểu thuyết viễn tưởng về tương lai nơi AI thay thế con người, còn thiên nhiên trở thành 'đặc quyền trả phí' vừa giành Climate Fiction Prize 2026 - Giải thưởng văn học về khí hậu trị giá 10.000 bảng tại Anh.

Tiểu thuyết có tựa đề HUM của nhà văn Mỹ Helen Phillips xoay quanh nhân vật May - một phụ nữ bị mất việc sau khi bị thay thế bởi "hum", dạng robot hình người tích hợp trí tuệ nhân tạo. Trong bối cảnh xã hội bị kiểm soát bởi công nghệ và hệ thống giám sát, May chật vật tìm việc mới và chấp nhận trở thành "chuột bạch" cho một thí nghiệm thay đổi khuôn mặt nhằm tránh bị AI nhận diện. Sau khi nhận tiền từ cuộc thử nghiệm, cô quyết định dùng số tiền đó để mua vé đưa gia đình đến Botanical Garden - không gian xanh cuối cùng còn sót lại trong thành phố. Tuy nhiên, chuyến đi nhanh chóng biến thành trải nghiệm đáng sợ.

Helen Phillips cho biết ý tưởng viết Hum bắt nguồn từ một trải nghiệm đời thường. Một ngày nọ, trên đường đi làm về, cô nghĩ rằng mình cần mua khăn lau chén. Khi mở máy tính ở nhà, cô lập tức nhìn thấy quảng cáo sản phẩm đó xuất hiện trên màn hình.
"Cảm giác rùng mình ấy cứ bám lấy tôi. Tôi bắt đầu nghĩ đến những kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra khi thuật toán và hệ thống giám sát biết quá nhiều về con người", nữ nhà văn chia sẻ.

Tờ The Guardian mô tả cuốn sách là "mê hoặc nhưng đáng sợ", bởi bức tranh tương lai mà nó xây dựng quá gần với thực tế hiện nay.

Theo báo Tuổi trẻ
https://tuoitre.vn/mot-cuon-tieu-thuyet-vua-thang-giai-tai-anh-vi-mo-ta-tuong-lai-qua-dang-so-20260528192615415.htm


NHÀ VĂN ĐÀI LOAN ĐẦU TIÊN CHIẾN THẮNG GIẢI SÁCH BOOKER 2026Vượt qua nhiều đối thủ 'nặng ký' từ châu Âu và Nam Mỹ, cuốn t...
27/05/2026

NHÀ VĂN ĐÀI LOAN ĐẦU TIÊN CHIẾN THẮNG GIẢI SÁCH BOOKER 2026

Vượt qua nhiều đối thủ 'nặng ký' từ châu Âu và Nam Mỹ, cuốn tiểu thuyết 'Nhật ký du lịch Đài Loan' của nhà văn Dương Trang Tử được xướng tên tại giải Booker Quốc tế, đánh dấu cột mốc lịch sử cho văn học nói tiếng Quan thoại (bên trái trong hình).
Theo AFP, đây là tác phẩm dịch từ tiếng Quan thoại đầu tiên đoạt giải thưởng này, đồng thời đưa Dương Trang Tử trở thành cây bút Đài Loan đầu tiên được vinh danh tại một trong những sân chơi văn chương khắc nghiệt nhất hành tinh.

Lấy bối cảnh Đài Loan vào những năm 1930, Nhật ký du lịch Đài Loan được kết cấu vô cùng độc đáo dưới dạng cuốn hồi ký du lịch bị thất lạc, do một nữ văn sĩ hư cấu người Nhật tên Aoyama Chizuko chấp bút. Đi theo bước chân của Chizuko đến vùng đất mới, độc giả không chỉ được thưởng lãm những nét văn hóa ẩm thực đặc sắc nơi đây, mà còn bị cuốn vào mối quan hệ tâm giao đầy tinh tế giữa cô và người nữ phiên dịch bản địa Chizuru.

Tờ Bangkok Post dẫn lời bà Natasha Brown, Chủ tịch Hội đồng giám khảo, nhận xét: "Đây là cuốn sách đầy những nút thắt bất ngờ và vượt ra khỏi những gì người ta có thể hình dung ở lớp vỏ bọc bên ngoài. Tác phẩm đã làm được một điều kỳ diệu là dung hòa trọn vẹn hai yếu tố: một câu chuyện tình cảm lãng mạn, tinh tế và một cuốn tiểu thuyết hậu thuộc địa cực kỳ sắc sảo".

Để chạm tay vào giải thưởng trị giá 50.000 bảng Anh (chia đều cho tác giả và dịch giả), tác phẩm của Dương Trang Tử phải vượt qua hàng loạt đối thủ sừng sỏ trên khắp thế giới. Trong đó có câu chuyện đầy ma mị của nhà viết kịch người Pháp Marie N'Diaye, tác phẩm về đề tài trại giam của văn sĩ người Brazil Ana Paula Maia, hay các tiểu thuyết "nặng ký" từ Đức, Bulgaria và Áo.

Sinh năm 1984, Dương Trang Tử là người đa tài khi vừa viết văn, sáng tác truyện tranh và viết kịch bản trò chơi điện tử. Trước khi bước ra thế giới, Nhật ký du lịch Đài Loan xuất bản lần đầu năm 2020 đã "càn quét" giải thưởng văn học Kim Chân Đế, giải thưởng cao quý nhất tại quê nhà của tác giả. Bản dịch tiếng Anh được thực hiện bởi Lâm Vương, dịch giả người Mỹ gốc Đài Loan (bên phải trong hình).

Nhà văn phát biểu cảm nghĩ bằng tiếng Trung. Cô cho biết, một số người cho rằng nghệ thuật và văn học phải tách rời khỏi chính trị. Nhưng cô vẫn luôn tin rằng, văn học trước giờ chưa bao giờ xa rời chính trị. Cô đề cập rằng, trong suốt lịch sử văn học Đài Loan kéo dài hàng trăm năm, người dân Đài Loan không ngừng tự hỏi rằng: “Chúng ta mong muốn tương lai như thế nào? Mong muốn một đất nước ra sao?”, và cuốn Taiwan Travelogue cũng tham gia vào cuộc tìm kiếm câu trả lời kéo dài hàng trăm năm này.
Cô cũng nói thêm rằng, người Đài Loan từng trải qua chế độ thực dân và đối mặt với nguy cơ xâm lược. Nhưng cô luôn tin rằng văn chương có sức mạnh. Văn chương có vẻ chậm rãi nhưng luôn hành động kiên định. Văn chương thường tĩnh lặng nhưng không ngăn cản niềm tin lan rộng. Dịch thuật có thể tạo ra sự khác biệt nhưng cũng có thể vượt qua những hạn chế về thời gian và không gian. Cô tin rằng văn chương có sức mạnh bởi vì trong thế giới tinh thần, văn chương chưa bao giờ từ bỏ việc khẳng định bản thân, cũng chưa từng từ bỏ việc đối thoại với chúng ta.

Giới chuyên môn đánh giá, chiến thắng tại Booker Quốc tế sẽ là bệ phóng cho sự nghiệp của Dương Trang Tử. Theo ban tổ chức giải thưởng, các tác phẩm được vinh danh tại đây luôn ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc về cả danh tiếng lẫn doanh số bản quyền trên toàn cầu. Thực tế chứng minh, nhiều tên tuổi từng đoạt giải Booker Quốc tế trước đây như Han Kang (Hàn Quốc), Annie Ernaux (Pháp) hay Olga Tokarczuk (Ba Lan) sau đó đều đã vinh dự trở thành chủ nhân của giải Nobel Văn học danh giá.

Tổng hợp từ báo Thanh niên, RTI.org



Lịch sự kiện tuần này của Cà phê Thứ Bảy ở TP. HCM!!! Hẹn gặp nhau nhé
26/05/2026

Lịch sự kiện tuần này của Cà phê Thứ Bảy ở TP. HCM!!! Hẹn gặp nhau nhé

Ta làm việc cật lực để kiếm nhiều tiền hơn, mua sắm không ngừng để bớt thấy thiếu thốn, lên kế hoạch để yên tâm về ngày ...
25/05/2026

Ta làm việc cật lực để kiếm nhiều tiền hơn, mua sắm không ngừng để bớt thấy thiếu thốn, lên kế hoạch để yên tâm về ngày mai. Nhưng càng cố kiểm soát đời sống, nhiều người lại càng cảm thấy bất an...
Năm 1951, Alan Watts - nhà văn, nhà triết học người Anh - đã viết về tình trạng này trong tác phẩm MINH TRIẾT TỪ NỖI BẤT AN.
75 năm sau, những gì Watts viết vẫn khiến người đọc giật mình vì quá giống đời sống hôm nay.

THỜI ĐẠI ÂU LO

Ta làm việc cật lực để kiếm nhiều tiền hơn, mua sắm không ngừng để bớt thấy thiếu thốn, lên kế hoạch để yên tâm về ngày mai. Nhưng càng cố kiểm soát đời sống, nhiều người lại càng cảm thấy bất an... - Năm 1951, Alan Watts - nhà văn, nhà triết học người Anh (*) - đã viết về tình trạng này trong tác phẩm Minh triết từ nỗi bất an. 75 năm sau, những gì Watts viết vẫn khiến người đọc giật mình vì quá giống đời sống hôm nay.

Trong Minh triết từ nỗi bất an (tựa gốc: The Wisdom of Insecurity), Alan Watts từng gọi thế kỷ 20 là ‘Thời đại âu lo’. Bước sang thế kỷ 21, cái tên ấy dường như vẫn chưa lỗi thời. Công nghệ phát triển, xã hội ngày càng tiện nghi hơn. Nhưng cùng với tiện nghi là một kiểu mệt mỏi khác: con người dễ thất vọng hơn, dễ bị kích động hơn và cũng dễ lệ thuộc vào các dạng kích thích hơn.

Những kích thích ấy không chỉ đến từ hóa chất. Chúng còn nằm trong nhịp sống quá nhanh, những trò giải trí ồn ào, những hình ảnh và âm thanh bủa vây quanh ta hàng ngày. Càng quen với cường độ ấy, các giác quan dần trở nên kém tinh nhạy và con người lại cần những kích thích mạnh hơn nữa để cảm thấy mình đang thật sự sống.

Watts cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc con người lo âu, mà còn ở chỗ họ nhiều khi không thật sự biết mình đang muốn gì. Những mục tiêu tưởng như rất rõ ràng: thành công, danh tiếng, hôn nhân hạnh phúc, niềm vui, sự tử tế… đôi khi chỉ là những cái tên đẹp đẽ che phủ một đời sống lặp lại và mệt mỏi.

“Để duy trì ‘đời sống chất lượng cao’, hầu hết chúng ta sẵn sàng chịu đựng một cuộc sống mà phần lớn thời gian, chúng ta làm một công việc nhàm chán để kiếm sống, rồi lại tìm kiếm những cách thức để giải thoát khỏi đời sống tẻ nhạt ấy bằng những thú vui cuồng nhiệt, ồn ào và tốn kém. Chúng ta coi những khoảng thời gian xen giữa này là sống thật sự, là mục đích thật sự của đời sống mà vì nó chúng ta phải làm công việc “tệ hại” kia. Hoặc chúng ta tưởng tượng ra một lý do “chính đáng” để biện minh cho việc mình phải làm công việc đó, là để kiếm tiền nuôi gia đình, để mỗi người trong gia đình lại tiếp nối nhau làm điều tương tự - nuôi gia đình riêng của mỗi người... và cuộc sống như vậy cứ tiếp diễn…” - Watts đánh giá.

Theo Watts, bất an không nằm ngoài khát vọng an toàn; nó sinh ra ngay trong lúc ta cố bám lấy sự an toàn ấy. Ta muốn tình yêu đừng đổi khác, tuổi trẻ đừng qua đi, thành công đừng tuột khỏi tay, hạnh phúc đừng có ngày kết thúc. Nhưng chính nỗ lực níu giữ ấy lại tạo ra sự sợ hãi.

“Nói một cách thẳng thắn thì là thế này: khao khát an toàn và cảm giác bất an thật ra chỉ là một thứ. Nín thở chính là để mất đi hơi thở của mình. Một xã hội đặt mong muốn an toàn làm nền tảng thì chẳng khác nào một cuộc thi nín thở tập thể mà trong đó ai cũng căng như dây đàn và đỏ mặt tía tai” – Alan Watts viết.

Watts không cho rằng thời đại này bất an hơn mọi thời đại trước. Đói nghèo, bệnh tật, chiến tranh, những đổi thay và cái chết đều không phải là điều mới mẻ.

Vì vậy, điều Watts đề nghị không phải là làm thêm điều gì, mà là thêm ánh sáng. “Ánh sáng ở đây có nghĩa là sự nhận biết - nhận biết cuộc sống đang diễn ra, nhận biết trải nghiệm trong giây phút hiện tại mà không có bất cứ phán xét hay ý niệm nào về nó. Nói cách khác, bạn cần thấy và cảm nhận trải nghiệm hiện tại như nó đang là chứ không phải như cách nó được định danh”.

Nói như vậy nghe có vẻ đơn giản. Nhưng với Watts, phần khó nhất lại nằm ở chính điều tưởng như ai cũng làm được: thật sự có mặt với khoảnh khắc hiện tại.

Để làm rõ điều này, Watts đặt ra một câu hỏi tưởng rất dễ trả lời: “Bạn là ai, ngay khoảnh khắc này?”. Nếu dừng lại và nghĩ ngợi một chút, có thể bạn sẽ nói với người hỏi không phải về khoảnh khắc hiện tại, mà về quá khứ. Đó sẽ là những thông tin như tên, địa chỉ, công việc và lịch sử cá nhân của bạn. Nhưng ở đây, câu hỏi là “Bạn là ai?” chứ không phải “Bạn đã là ai?”.

Câu hỏi ấy buộc người đọc nhận ra một điều: ta thường định nghĩa mình bằng những gì đã qua, hơn là bằng trải nghiệm đang diễn ra ngay lúc này. Ở góc nhìn này, mỗi khoảnh khắc đều khó nắm bắt và ngắn ngủi đến mức chúng ta chưa kịp nghĩ đến nó thì nó đã đi qua. Với Watts, chính sự đổi thay ấy mới làm đời sống sống động và đáng chú ý.

Để nói về điều này, Watts dùng âm nhạc: “Âm nhạc đem lại hứng thú vì nhịp điệu và dòng chảy của nó. Tuy nhiên, ngay khoảnh khắc bạn chặn dòng chảy, để một nốt hay một hợp âm kéo dài lâu hơn, nhịp điệu của bản nhạc sẽ bị phá hủy. Cuộc sống cũng là một dòng chảy như vậy, trong đó sự đổi thay và cái chết là một phần tất yếu. Nỗ lực loại trừ phần tất yếu đó chính là nỗ lực chống lại cuộc sống”.

Từ đó, cuốn sách trở lại với một ý quan trọng “định luật đảo”: có những thứ càng cố nắm giữ, ta càng làm chúng rời xa ta. Cố gắng buộc mình phải bình an chỉ khiến tâm trí căng thẳng hơn; cố quên đi nỗi sợ lại khiến nỗi sợ hiện diện rõ ràng hơn. Vì vậy, sự nhẹ nhõm bên trong không đến từ việc ép mình phải bình an, mà từ khả năng nhìn thẳng vào điều mình đang thật sự trải qua.

Khi thấy mình không đứng tách rời khỏi đời sống, ta bớt căng thẳng với việc phải bảo vệ cái tôi bằng mọi giá. Khi ấy, thay vì cố bắt mọi thứ đi theo ý mình, ta có thể học cách sống nhẹ nhàng hơn với những gì đang diễn ra. Chính khi thôi cố kiểm soát tất cả, ta lại có cơ hội hiểu mình rõ hơn.

Sống trong hiện tại, vì thế, không phải là mặc kệ mọi thứ trôi đến đâu thì đến. Nó cũng không phải là bám chặt vào những gì quen thuộc chỉ vì sợ thay đổi. “Bí quyết để sống trong “tình thế nan giải” này không phải là cứ dạt trôi vô định, càng không phải là bám víu một cách sợ hãi vào quá khứ và những gì đã biết. Cần phải hoàn toàn nhạy cảm với từng khoảnh khắc, thấy mỗi khoảnh khắc đều là độc nhất và mới mẻ, với một tâm trí rộng mở và hoàn toàn sẵn sàng đón nhận” - Watts viết.

Có lẽ vì nền đọc rộng, từ triết học, tôn giáo đến tâm lý học và khoa học, Watts không biến nỗi bất an thành một vấn đề cần tiêu diệt. Ông xem nó như một cánh cửa để con người nhìn lại cách mình đang sống. Nhưng thay vì tìm cách “giải thoát” con người khỏi thực tại bất an, ông chỉ nhắc người đọc quay lại với điều đang xảy ra và học cách ở lại với nó. Bởi suy cho cùng, hiện tại mới là nơi duy nhất mà chúng ta thực sự sống.

Bài viết của Quỳnh H. báo Người đô thị

(*) Alan W. Watts (1915-1973) là nhà văn, triết gia và diễn giả người Mỹ gốc Anh. Ông được nhớ đến nhiều nhất với tư cách là người giới thiệu giáo lý của Thiền Phật giáo nói riêng và triết lý Ấn Độ và Trung Hoa nói chung cho người phương Tây. Là người không thuộc tông phái nào, ông nổi tiếng là một trong những triết gia độc đáo và “không đi theo lối mòn” của thế kỷ 20. Alan Watts là tác giả của khoảng hai mươi quyển sách về triết học và tâm lý học tôn giáo đã được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ trên khắp thế giới.

Là một diễn giả đầy nhiệt huyết, ông thường xuyên xuất hiện trên đài phát thanh và ông cũng được biết đến trong vai trò người dẫn chương trình trong chương trình truyền hình nổi tiếng Eastern Wisdom and Modern Life (tạm dịch: Trí tuệ phương Đông và Cuộc sống hiện đại) vào những năm 1960.


Nguồn gốc người Việt là một vấn đề nóng hổi ở mọi thời điểm lịch sử. Người Việt đến từ đâu luôn là câu hỏi mang tính tri...
22/05/2026

Nguồn gốc người Việt là một vấn đề nóng hổi ở mọi thời điểm lịch sử. Người Việt đến từ đâu luôn là câu hỏi mang tính triết học, xuất phát từ một câu hỏi lớn hơn: ta là ai, ta từ đâu tới, và ta sẽ đi về đâu?

Góc nhìn
NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT : MỘT LƯỢC SỬ TƯ TƯỞNG

Nguồn gốc người Việt là một vấn đề nóng hổi ở mọi thời điểm lịch sử. Người Việt đến từ đâu luôn là câu hỏi mang tính triết học, xuất phát từ một câu hỏi lớn hơn: ta là ai, ta từ đâu tới, và ta sẽ đi về đâu?

"Người Việt" là gì?
"Người Việt" (Việt nhân) là một khái niệm được sử dụng trong vài trăm năm trở lại đây, nhưng ngày nay đôi khi được dịch là "Việt tộc" hay "Kinh tộc" hay "dân tộc Kinh". Tất cả những thuật ngữ này cần được phân biệt với khái niệm "dân tộc Việt Nam", "người Việt Nam". Hai thuật ngữ sau thể hiện diễn ngôn chính trị với mong muốn nhất thể hóa các tộc người khác nhau vào một kiến tạo lịch sử đồng nhất, nhằm che lấp sự khác biệt đa chiều kích (hàm ẩn bên trong những mâu thuẫn mà người ta đang muốn khỏa lấp từ văn hóa - lịch sử, cho đến quyền lực chính trị). Trong khi đó "người Việt" ở thời điểm hiện tại là một thuật ngữ của dân tộc học, cũng đã mang trong mình những diễn ngôn chính trị cùng chiều với khái niệm "dân tộc Việt Nam".

Ta có thể tìm thấy vô số các cách diễn đạt mờ nhòe giữa các khái niệm này, từ các bài báo phổ thông, cho đến các nghiên cứu của giới học giả. Một sự mờ nhòe được tạo nên từ cả hữu thức và vô thức. Nó cho thấy, cái cộng đồng người nói tiếng Việt đã luôn sử dụng khái niệm "người Việt" trong những bối cảnh tri thức khác nhau, dù trên thực tế "người Việt" có nhiều nguồn gốc khác nhau, như nhóm Hoa kiều đã Việt hóa, nhóm các dân tộc ít người đã bị Kinh hóa đến mức nhận đồng nguồn gốc, để lãnh thêm những đặc quyền mới từ phía dân tộc chiếm ưu thế. Cái cộng đồng người Việt chiếm hơn 80% dân số đã đồng thanh để tạo nên một giọng nói đồng nhất về nguồn gốc của mình dưới sự điều phối của hệ tư tưởng thời đại, bằng cả khoa học và niềm tin thuần thực.

Nhưng khi nghiên cứu về lịch sử, các nhà nghiên cứu thường chỉ để ý đến các sự kiện mà mình mong muốn tìm thấy, và thường bỏ sót những "khái niệm mang tính lịch sử" cho biết người đương thời đang nghĩ gì, bằng những công cụ tư duy như thế nào. Một thao tác cơ bản của sử liệu học và khảo cổ học tri thức là phải lần tìm theo các dấu vết ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ và chữ viết là sử liệu hiển ngôn cho biết người xưa đã nghĩ gì. Cụ thể như ở đây, các dòng sử chí Nho giáo- dòng sử chí thực dân và dòng sử chí Marxist đã dùng những khái niệm nào để chỉ về cộng đồng người mà ngày nay ta gọi là "người Việt"?

Đào Duy Anh trong cuốn "Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam" (1957) chỉ dùng khái niệm "dân tộc Việt Nam" với tư cách đây là một thuật ngữ của các nhà lý luận của chủ nghĩa Marx về dân tộc.
Học giả Nguyễn Văn Tố (1889-1947) trong công trình (Đại Nam dật sự) (đăng tải vào các năm 1943-1945) chỉ dùng khái niệm "người Nam" trong tương quan với "nước Nam", đối lập với "người Tàu", "nước Tàu".
Phan Bội Châu trong "Việt Nam quốc sử khảo" (1906) gọi là "người nước ta" trong sự đối lập với "người châu Âu", "người Nhật Bản".
Các dòng sử chí từ triều Nguyễn thường tự nhận mình (những người nói tiếng Việt và viết văn ngôn chữ Hán) là Hán nhân, và những người dân (phần lớn chỉ biết nói tiếng Việt) là Hán dân. Còn người Hán khi đó thì được gọi là Thanh nhân, và lưu dân của nhà Minh phiêu dạt, ngụ cư ở mảnh đất này thì được gọi là Minh nhân.
Ngô Sĩ Liên (1479) đã sử dụng khái niệm "Việt nhân" trong sự đối lập với "Hán nhân".

Vậy khái niệm "Việt nhân" trong quan niệm của Ngô Sĩ Liên có khác gì với khái niệm "người Việt" trong não bộ của người Việt hiện tại? Chỉ khi nào ta hệ thống hóa được các nguồn sử liệu nguyên ngữ với những niên đại tuyệt đối, thì khi ấy ta mới có thể tiến hành nghiên cứu một cách cẩn thận về một lịch sử tư tưởng về những cộng đồng người mà nay gọi là "người Việt".

Trích bài viết của PGS.TS Trần Trọng Dương, Chuyên gia Hán Nôm, văn tự học và văn hoá Việt Nam
Link bài đầy đủ trên tạp chí Tia sáng : https://tiasang.com.vn/nguon-goc-nguoi-viet-mot-luoc-su-tu-tuong-4973550.html

Trong chương trình Cà phê Gặp gỡ & Đối thoại chiều Chủ nhật tuần này, ngày 24/5, vấn đề Nguồn gốc người Việt sẽ được soi chiếu từ góc nhìn Kinh Dịch với diễn giả- thầy Viên Như. Thầy Viên Như là tác giả của các tác phẩm đã xuất bản như Giọt long, Huyền Quang – Cuộc đời và oan khuất, Người Việt- Chủ nhân của kinh dịch và chữ vuông, Đi tìm nguồn gốc người Việt qua Kinh dịch và truyền thuyết. Thầy chuyên nghiên cứu lịch sử tác dịch và cổ sử người Việt. Thầy coi văn hóa là xương sống, cốt lõi của dân tộc. Ngoài kinh Dịch, Thầy còn nghiên cứu về chữ Nôm.
Mời các anh chị và các bạn quan tâm cùng tham dự :
CÀ PHÊ GẶP GỠ VÀ ĐỐI THOẠI
Chủ đề: NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT THEO KINH DỊCH
- Diễn giả: Thầy Viên Như
- Đối phối: Mỹ Dung
- Thời gian: Chủ Nhật 24/5/2026
+ Đón khách: 14h30, Bắt đầu: 15h00
- Địa điểm: Lầu 2 – Không gian Cà phê Thứ Bảy Trẻ (Thế giới Cà phê - 603 Trần Hưng Đạo)


Address

Lầu 2 & Lầu 3 Quán Trung Nguyen Legend/603 Trần Hưng Đạo, Quận 1, Tphcm
Ho Chi Minh City
70000

Opening Hours

Monday 07:00 - 22:00
Tuesday 07:00 - 22:00
Wednesday 07:00 - 22:00
Thursday 07:00 - 22:00
Friday 07:00 - 22:00
Saturday 07:00 - 22:00
Sunday 07:00 - 22:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cà phê thứ Bảy Trẻ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Cà phê thứ Bảy Trẻ:

Share