Tiếng Việt Đẹp Giàu

Tiếng Việt Đẹp Giàu tiếng Việt – cái đẹp của sự quân bình, tinh tế và nhân hậu

Tiếng Việt – Đừng để vốn từ của cha ông chỉ còn trong ký ức đi mở cõi.Có một điều rất lạ đang diễn ra ngay giữa Sài Gòn ...
16/07/2026

Tiếng Việt – Đừng để vốn từ của cha ông chỉ còn trong ký ức đi mở cõi.
Có một điều rất lạ đang diễn ra ngay giữa Sài Gòn và khắp miền Tây Nam Bộ mà nhiều người không để ý. Chúng ta vẫn đang nói tiếng Việt mỗi ngày, vẫn trò chuyện với nhau, vẫn đọc báo, xem tivi, lướt mạng xã hội, nhưng càng ngày càng thấy tiếng nói của chính quê hương mình phai lạt dần. Nó không mất vì bị cấm. Nó cũng không mất vì có ai bắt bỏ. Nó mất vì chúng ta quen miệng. Quen nghe trên tivi thì nói theo tivi. Quen nghe trên mạng xã hội thì lặp lại như một phản xạ. Rồi một ngày nhìn lại mới giựt mình, những từ ngữ mà ông bà, cha mẹ mình đã dùng cả trăm năm nay bỗng trở thành "lạ tai" ngay trên chính mảnh đất đã sinh ra nó. Điều đáng nói hơn cả, nhiều bạn trẻ Sài Gòn bây giờ nghe hai chữ "đá banh" lại thấy... quê, trong khi "bóng đá" thì thấy hiện đại. Nghe "xe hơi" thì thấy cũ, còn "ô tô" thì thấy đúng. Nghe "quẹo trái" thì sửa lại thành "rẽ trái". Nghe "đậu xe" thì đổi thành "đỗ xe". Không ai ép cả, nhưng cứ thế, từng chút một, phương ngữ Nam Bộ bị thay thế bằng những cách nói phổ biến hơn của ngoài kia. Điều đó không có nghĩa những cách nói mới là sai. Chúng đều là những cách nói được sử dụng rộng rãi trong tiếng Việt hiện nay. Nhưng nếu người Nam Bộ cũng bỏ luôn tiếng Nam Bộ thì rồi ai sẽ giữ? Tiếng Việt sở dĩ đẹp là vì có nhiều phương ngữ.
Cái đẹp của tiếng Việt không nằm ở chỗ mọi người đều nói giống nhau, mà nằm ở chỗ mỗi vùng đất đều góp vào một màu sắc riêng. Người Huế có tiếng Huế. Người Bắc có tiếng Bắc. Người Quảng có tiếng Quảng. Người Nam có tiếng Nam. Đó là sự phong phú của một ngôn ngữ sống. Nếu ngày nào đó từ Cà Mau đến Hà Giang ai cũng dùng đúng một kiểu từ, đúng một kiểu diễn đạt thì tiếng Việt sẽ mất đi rất nhiều hương vị.
Người miền Nam xưa gọi môn thể thao vua là "đá banh". Nghe là hiểu liền. Có trái banh thì đem ra đá. Cách gọi rất trực quan, rất bình dân. Ngày nay, "bóng đá" là tên gọi chính thức trong báo chí, trong sách giáo khoa và các liên đoàn thể thao. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng thử hỏi, chiều chiều mấy đứa nhỏ trong xóm rủ nhau ra sân, nếu một đứa la lớn: "Ê tụi bây, chiều nay đi chơi bóng đá nha!" nghe vẫn hiểu, nhưng sao nó vùa dư động từ mà thiếu cái chất đời thường bằng câu: "Ê, chiều nay đi đá banh nghen!".
Cũng giống như vậy, người Nam Bộ từ xưa ăn phở bằng tô. Hủ tiếu bằng tô. Bún bò bằng tô. Mì cũng bằng tô. Trong căn bếp của người Nam có chén, tô, thố, thau, mâm, nia, rổ, rá. Mỗi thứ có công dụng riêng. Miền nam xưa cũng có cái bát ở dưới nhỏ trên xòe ra như cái tộ, sau này gọi chung là tộ, còn cái Tộ lớn kêu là cái “tượng”. Chữ "bát" bây giờ là cách gọi quen thuộc của miền Bắc chỉ cái chén ăn cơm, hoàn toàn đúng trong hệ thống từ vựng của họ. Nhưng với người Nam, "tô phở"(thật ra là 1 tượng phở) vẫn nghe gần gũi giàu hình ảnh hơn "bát phở", Không phải vì một bên đúng một bên sai, mà vì đó là ký ức của một vùng đất. Người Nam gọi "xe hơi". Chữ "hơi" xuất phát từ thời động cơ hơi nước rồi dần dùng để chỉ xe có động cơ, phân biệt với xe đạp, xe ngựa, xe bò. Sau này thuật ngữ "ô tô" miền bắc phổ biến trên sách giáo khoa cho tất cả các thế hệ học sinh. Không có gì sai cả. Nhưng thử nghe câu: "Ổng mới mua chiếc xe hơi mới." và câu: "Ông ấy mới mua một chiếc ô tô mới." Cả hai đều đúng, nhưng câu đầu nghe là thấy nguyên cái Sài Gòn mấy chục năm trước hiện ra. Người Nam gọi "bảng số". Người ta nhìn tấm kim loại có ghi mấy con số thì gọi là bảng số. Ngày nay thuật ngữ hành chính dùng "biển số". Không sai. Nhưng nếu người Nam vẫn gọi "bảng số xe" trong sinh hoạt hằng ngày thì cũng chẳng có gì phải sửa. Người Nam nói "quẹo trái", "quẹo phải". Chữ "quẹo" nghe mềm, nghe nhanh, nghe đúng cái nhịp nói của miền Nam. Người ta nói "đậu xe", nghe rất đời. Còn "rẽ", "đỗ" là cách nói phổ thông hơn. Điều đáng tiếc là nhiều bạn trẻ bây giờ lại nghĩ "quẹo" hay "đậu xe" là nói không chuẩn, trong khi đó là vốn từ đã tồn tại ở Nam Bộ từ rất lâu. Người Nam gọi "xe đò", một từ gắn liền với ký ức của biết bao thế hệ. Xe đò Cai Lậy, xe đò Mỹ Tho, xe đò Cần Thơ... Bây giờ tất cả thành "xe khách". Người Nam gọi "bùng binh", giờ thành "vòng xuyến". Người Nam gọi "bàn ủi", giờ nhiều người quen miệng gọi "bàn là". Người Nam nói "chích ngừa", giờ quen với "tiêm chủng". Người Nam nói "nước lèo", bây giờ xài toàn "nước dùng". Người Nam nói "trái cây", giờ nhiều người đổi thành "quả". Người Nam nói "chiên trứng", "cơm chiên", giờ nghe "rán trứng", "cơm rang" nhiều hơn. Người Nam nói "ký-lô", “trăm gờ gam”, giờ nhiều người nói "một cân thịt", "một cân cá", trong khi cách gọi truyền thống ở Nam Bộ vẫn là "một ký" “trăm gờ gam”. Người Nam nói "ly bia", giờ nhiều người gọi "cốc bia". Người Nam nói "hộp thư", giờ thành "hòm thư". Người Nam gọi "rương", bây giờ kêu cái "hòm" (vậy cái hòm chôn người chết kêu bằng cái gì?).
Người Nam nói "bảo đảm", giờ nghe "đảm bảo" phổ biến hơn. Người Nam nói "hợp ca", giờ thành "tốp ca". Người Nam quen với "hòa âm", giờ nhiều nơi dùng "phối khí", "phối âm". Người Nam nói "điều khiển chương trình", giờ thành "dẫn chương trình". Người Nam nói "hồi âm", giờ thành "phản hồi". Người Nam nói "phát thanh", "phát hình", giờ thành "phát sóng". Người Nam nói "đài truyền hình", giờ thành "kênh truyền hình". Người Nam nói "diễn hành", giờ phổ biến "diễu hành". Người Nam nói "đánh lộn", "đánh nhau", giờ trên mạng lại đầy những cụm từ như "tác động vật lý". Người Nam nói "điều tra", giờ báo chí hay dùng "vào cuộc". Người Nam nói "bực mình", "khó chịu", "bực bội", giờ đâu đâu cũng thấy "bức xúc". Người Nam nói "khoảng bốn giờ", giờ nhiều người nói "tầm bốn giờ". Người Nam nói "một đôi đũa", "một đôi dép", giờ có người lại nói "một cặp đôi".
Đó đều là những thay đổi trong ngôn ngữ theo thời gian. Có từ trở thành thuật ngữ chính thức. Có từ trở thành cách nói phổ thông. Có từ chỉ là xu hướng trên mạng xã hội. Nhưng điều đáng suy nghĩ là người Nam Bộ ngày càng ít sử dụng kho từ vựng rất giàu có của chính mình. Không phải để chống lại cách nói của vùng khác, mà là để giữ lấy bản sắc của mình. Một đứa trẻ lớn lên ở Sài Gòn vẫn có thể nói "đá banh", "xe hơi", "quẹo", "đậu xe", "tô phở", "nước lèo", "bàn ủi", "bùng binh", "xe đò", "trái cây", "chích ngừa", "bảo đảm", "hợp ca", "hồi âm". Những từ ấy không hề cản trở việc học tiếng Việt bị Bắc hóa trên sách giáo khoa. Trái lại, nó làm cho vốn tiếng Việt của các em phong phú hơn. Một người biết cả "đá banh" lẫn "bóng đá", biết cả "quẹo" lẫn "rẽ", biết cả "đậu xe" lẫn "đỗ xe", biết cả "tô" lẫn "bát", chắc chắn giàu vốn từ hơn người chỉ biết một cách nói. Tiếng Việt không nghèo vì có nhiều phương ngữ. Tiếng Việt chỉ nghèo đi khi chúng ta tự nguyện bỏ mất những phương ngữ ấy. Bởi vậy, giữ tiếng Nam Bộ không phải là chống lại ai, cũng không phải để phân biệt vùng miền. Giữ tiếng Nam Bộ là giữ ký ức của cha ông đi mở cõi, giữ tiếng rao trong con hẻm nhỏ, giữ tiếng gọi nhau ngoài bến sông, giữ câu nói của má, của ngoại, của ông nội, của người bán hủ tiếu đầu hẻm, của bác tài xe đò, của chú sửa xe, của cô bán trái cây ngoài chợ. Giữ những từ ấy cũng chính là giữ một phần lịch sử văn hóa của miền đất phương Nam. Mai này, nếu con cháu mình vẫn còn hồn nhiên nói: "Chiều nay đi đá banh nghen. Xong quẹo qua chợ ăn tô hủ tiếu nước lèo rồi đậu xe trước nhà.", thì có lẽ tiếng Nam Bộ vẫn còn sống. Mà tiếng Nam Bộ còn sống, cũng có nghĩa là tiếng Việt vẫn còn giữ được một trong những màu sắc đẹp nhất của mình.
Tiếng Việt đâu có thiếu chữ, sao cứ thích nói cho... lạ?
Có một chuyện tui để ý mấy năm nay mà càng nghĩ càng thấy vừa mắc cười vừa... đau lòng. Không biết từ khi nào, tiếng Việt mình vốn đẹp đẽ, giàu hình ảnh, giàu sắc thái, giàu cách diễn đạt như vậy mà nhiều người lại thích nói theo kiểu "càng lạ càng hay". Ngày xưa, nói chuyện tự nhiên là hay. Bây giờ, nói bình thường thì bị chê quê, nói theo mạng xã hội mới được khen là bắt trend. Riết rồi nhiều lúc ngồi nghe mấy đứa nhỏ nói chuyện với nhau, tui cứ tưởng tụi nó đang sáng chế ra một ngôn ngữ mới chớ không phải đang nói tiếng Việt. Điều đáng nói là mấy cái trào lưu này lan nhanh dữ lắm. Hôm nay một người nói, mai mười người nói, một tháng sau cả nước nói. Không ai biết nó đúng tới đâu, chỉ biết nghe nhiều riết thành quen miệng.
Điển hình nhứt là cái chữ "con". Hồi xưa ông bà mình dạy rất rõ. Con là con chó, con mèo, con cá, con gà, con vịt, con bò, con trâu, con ong... hoặc một số đồ vật đã trở thành cách gọi quen thuộc trong tiếng Việt như con dao, con đường, con nước, con thuyền, con tàu. Đó là cách gọi đã hình thành từ lâu trong ngôn ngữ. Vậy mà bây giờ thì thôi rồi. Cái gì cũng thành "con". Con xe. Con áo. Con quần. Con điện thoại. Con laptop. Con máy lạnh. Con tivi. Con camera. Con micro. Con drone. Con máy ảnh. Con bàn phím. Con chuột máy tính. Con nồi cơm điện. Con bình nước. Con vali. Con đồng hồ. Con bình giữ nhiệt. Con sạc điện thoại. Con USB. Con wifi. Nghe riết nhiều lúc tui chỉ sợ mai mốt vô siêu thị người ta hỏi: "Anh mua con kem đánh răng hay con chai nước suối?" Thậm chí có bữa nghe ai đó nói: "Con áo này đẹp quá." Tui giật mình tưởng cái áo biết chạy. Tiếng Việt mình vốn có lượng từ rất phong phú. Cái áo. Cái quần. Chiếc xe. Chiếc ghe. Chiếc tàu. Tờ giấy. Cuốn sách. Cây viết. Bộ bàn ghế. Bộ quần áo. Đôi dép. Đôi đũa. Cặp mắt. Cặp kính. Tất cả đều có lý do tồn tại. Vậy mà bây giờ gom hết vô đúng một chữ "con" cho khỏe.
Đang từ cái gì cũng "con", tự nhiên vài năm nay lại xuất hiện trường phái ngược lại. Cái gì cũng "chiếc". Chiếc view. Chiếc hoàng hôn. Chiếc cafe. Chiếc cảm xúc. Chiếc thanh xuân. Chiếc nỗi nhớ. Chiếc deadline. Chiếc cuối tuần. Chiếc người yêu. Chiếc em bé. Chiếc vợ. Chiếc chồng. Chiếc hotel. Chiếc homestay. Chiếc công việc. Chiếc cuộc đời. Đọc mấy dòng trạng thái trên mạng nhiều lúc muốn bật cười. "Hôm nay dắt chiếc mẹ đi ăn." "Đây là chiếc em bé đáng yêu nhất." "Cảm ơn chiếc người yêu đã luôn bên em." Tui chỉ muốn hỏi nhẹ một câu: má mình hồi nào thành... chiếc vậy? Trong khi chiếc vốn là lượng từ rất đẹp của tiếng Việt. Chiếc xe. Chiếc xuồng. Chiếc lá. Chiếc nón. Chiếc đồng hồ. Chiếc tàu. Chiếc ghe. Dùng đúng chỗ thì nghe rất hay. Còn bây giờ đem gắn vô bất cứ thứ gì cho có vẻ văn chương thì nhiều lúc nghe nó gượng gạo, vô hồn.
Rồi tới chữ "tầm". Hồi trước người Nam nói "khoảng", "độ", "chừng", "xấp xỉ", "ước chừng", "đại khái". Khoảng ba giờ. Chừng năm phút. Độ mười cây số. Xấp xỉ một triệu. Đại khái vậy. Bây giờ tất cả gom hết thành một chữ "tầm". Tầm ba giờ. Tầm năm phút. Tầm một triệu. Tầm mười cây. Tầm tuổi đó. Tầm giá đó. Tầm suy nghĩ đó. Tầm đẳng cấp đó. Tầm em thì chưa hiểu đâu. Nghe riết tưởng "tầm" là cây đũa thần, chỗ nào cũng nhét vô được. Tiếng Việt có cả chục từ diễn đạt mức độ, khoảng cách, thời gian, vậy mà cuối cùng chỉ còn đúng một chữ.
Còn cái câu "đỉnh nóc kịch trần" thì đúng là một hiện tượng. Ban đầu nghe vui thiệt. Một câu nói đùa trên mạng. Nhưng rồi cái gì cũng đỉnh nóc kịch trần. Ăn ngon đỉnh nóc kịch trần. Hát hay đỉnh nóc kịch trần. Đá banh thắng đỉnh nóc kịch trần. Ly cà phê ngon đỉnh nóc kịch trần. Con mèo dễ thương đỉnh nóc kịch trần. Đọc sách cũng đỉnh nóc kịch trần. Trời mưa cũng đỉnh nóc kịch trần. Trong khi tiếng Việt đâu có thiếu chữ. Hay nhất. Đẹp nhất. Tuyệt nhất. Xuất sắc. Hết sảy. Vô đối. Bá cháy. Đỉnh cao. Số một. Number one thì thôi còn đỡ vì ai cũng hiểu là tiếng Anh. Người Nam Bộ mình còn có "số dách", "ngon nhứt", "hay nhứt", "đỉnh cao", "đã đời", "đã cái nư", "khỏi chê", "hết bài", "không có đối thủ". Mỗi chữ mang một sắc thái riêng. Vậy mà bây giờ gom hết thành một câu, riết nghe đâu cũng giống đâu.
Một căn bệnh khác cũng đáng nói là nghiện chêm tiếng Anh. Học ngoại ngữ là chuyện rất tốt. Không ai phản đối. Nhưng học để giao tiếp quốc tế khác với nói tiếng Việt mà câu nào cũng cố nhét vài chữ tiếng Anh vô cho sang. "Deadline em hơi căng." "Mood hôm nay không được good." "Team mình cần update mindset." "Idea này rất creative." "Content chưa viral." "Profile anh premium." "View này healing." "Em cần reset cảm xúc." "Case này khó xử." "Deal này ok." "Feedback sớm nha." "Inbox em." "Check mail." "Confirm giúp." "Cancel luôn." "Booking rồi." "Flex nhẹ." "Chill xíu." "Trend này hot." "Crush em ghost luôn." Nghe xong cứ tưởng ba ngôn ngữ đang chen nhau trong một câu. Trong khi rất nhiều chữ đều có tiếng Việt rất đẹp. Ý tưởng. Nội dung. Hồ sơ. Cập nhật. Tâm trạng. Xác nhận. Hủy. Đặt chỗ. Thư điện tử. Tin nhắn. Góp ý. Thư trả lời. Không phải chữ nào cũng dịch được, nhưng cũng đâu cần câu nào cũng pha tiếng Anh cho có vẻ hiện đại.
Rồi tới vấn nạn đáng lo nhất là chửi tục như cơm bữa. Không biết từ bao giờ, mở mạng xã hội ra là nghe chửi. Livestream chửi. Bán hàng chửi. Review đồ ăn chửi. Chơi game chửi. Bình luận chửi. Nói chuyện với bạn cũng chửi. Có người một câu mười chữ thì bảy chữ là chửi. Thậm chí còn nghĩ chửi mới hài, mới ngầu. Chưa hết, bây giờ còn sáng tạo kiểu viết lách. Không viết nguyên chữ tục mà đổi thành "méo", "mợ", "đệt", "vãi", "vl", "vc", "cl"... Ai cũng hiểu người viết muốn nói gì, chỉ là thay vài ký tự để tự an ủi rằng mình lịch sự hơn. Thiệt ra khác gì lấy cái khăn che cái loa. Tiếng vẫn phát ra y chang. Trong khi tiếng Việt có biết bao nhiêu cách diễn đạt cảm xúc. Bực mình. Khó chịu. Tức. Cay. Ngán. Nản. Chán. Hết nói. Bó tay. Trời đất ơi. Muốn xỉu. Muốn té ghế. Không biết nói sao. Vậy mà cuối cùng cái gì cũng quy về một câu chửi.
Điều buồn nhất không phải là tiếng Việt có thêm từ mới. Ngôn ngữ nào cũng thay đổi. Đó là quy luật. Điều đáng lo là người ta đang bỏ dần những từ đẹp vốn có của tiếng Việt để chạy theo những trào lưu chỉ sống được vài tháng trên mạng xã hội. Hôm nay "chiếc". Mai "con". Mốt "đỉnh nóc". Bữa khác lại thêm vài câu mới. Trong khi những chữ rất hay như "đã đời", "đã cái nư", "mặn mòi", "bén vị", "ăn ghiền", "khó quên", "hết sảy", "khỏi chê", "vô đối", "số dách", "ngon nhứt", "hay nhứt" thì càng ngày càng ít nghe. Tiếng Việt không thiếu chữ. Tiếng Việt chỉ thiếu người chịu dùng đúng lúc, đúng nghĩa và đúng cái hồn của nó. Bắt trend không có gì sai. Sáng tạo cũng không có gì sai. Nhưng nếu vì chạy theo trào lưu mà làm vốn từ của mình ngày càng nghèo đi, câu nào cũng na ná nhau, cách diễn đạt nào cũng giống nhau thì đó mới là điều đáng tiếc. Hy vọng rằng, sau mỗi lần cười vì một câu nói “viral” trên mạng, chúng ta cũng nhớ quay về với những từ ngữ mộc mạc, giàu hình ảnh và đầy sức sống mà cha ông mình đã gìn giữ bao đời. Bởi vì giữ được sự phong phú của tiếng Việt cũng chính là giữ một phần văn hóa của dân tộc mình.

TIẾNG VIỆT ĐANG BỊ GÌ VẬY TRỜI?Sáng ngủ dậy, pha ly cà phê, mở điện thoại lên định coi tin tức cho vui. Chưa kịp uống mi...
14/06/2026

TIẾNG VIỆT ĐANG BỊ GÌ VẬY TRỜI?

Sáng ngủ dậy, pha ly cà phê, mở điện thoại lên định coi tin tức cho vui. Chưa kịp uống miếng nào đã nghe một anh nào đó trên TikTok gào lên:

"Nào các con vợ của anh đâu rồi!"

Lướt thêm vài cái.

"Nào các cháu ơi, nghe bác chia sẻ nè!"

Qua clip khác.

"Nào các con của thầy đâu rồi!"

Rồi tới:

"Để bố chỉ cho các con cách kiếm tiền!"

Tôi ngồi nhìn cái màn hình mà tự hỏi: Ủa, đất nước mình từ hồi nào tự nhiên xuất hiện nhiều ông nội, bà nội, ông bố, bà mẹ dữ vậy? Mở mạng xã hội lên cứ tưởng đang họp mặt đại gia đình vài chục triệu người.

Người nói mới hai mấy tuổi, mặt còn non choẹt. Người nghe có khi năm mươi, sáu mươi tuổi. Vậy mà cũng "các con của thầy", "các cháu của bác".

Nghe riết thấy kỳ.

Nghe riết thấy chói tai.

Nghe riết thấy giống như một thứ văn hóa tự tôn bản thân quá mức.

Ngày xưa, người Việt mình nói chuyện đâu có vậy.

Muốn giới thiệu sản phẩm thì nói:

"Dạ hôm nay tôi xin chia sẻ."

"Dạ hôm nay em giới thiệu."

"Dạ anh chị tham khảo giúp em."

Nghe nhẹ nhàng, lịch sự.

Còn bây giờ cứ phải:

"Nào các con vợ của anh!"

"Nào các cháu của bác!"

"Nào các fan cứng của thầy!"

Không biết từ lúc nào cái kiểu xưng hô trịch thượng đó lại trở thành một trào lưu.

Mà đáng sợ nhất là nhiều người nghe riết rồi quen.

Quen tới mức không thấy phản cảm nữa.

Quen tới mức bắt chước theo.

Từ một câu nói đùa trở thành thói quen giao tiếp hằng ngày.

Đó mới là điều đáng lo.

---

Nhưng chuyện xưng hô chỉ là phần nổi của tảng băng.

Cái làm tôi ngạc nhiên hơn là sự biến dạng của rất nhiều từ ngữ trong tiếng Việt.

Không biết từ hồi nào, người ta không còn gọi là chiếc xe nữa.

Bây giờ phải là "con xe".

Không còn là cái máy.

Phải là "con máy".

Không còn là cái điện thoại.

Phải là "con điện thoại".

Không còn là cái laptop.

Phải là "con laptop".

Không còn là cái tai nghe.

Phải là "con tai nghe".

Có bữa tôi đọc được một bình luận:

"Con máy lạnh này chạy êm dữ lắm."

Tôi phải đọc lại lần thứ hai để xác định coi mình có nhìn lộn không.

Máy lạnh mà cũng thành con.

Ngày xưa ông bà mình dạy rất rõ.

Con chó.

Con mèo.

Con vịt.

Con gà.

Con người.

Đó là sinh vật.

Còn bàn ghế, xe cộ, máy móc là đồ vật.

Vậy mà bây giờ cái gì cũng "con".

Mai mốt không khéo người ta nói:

"Con nhà."

"Con cửa."

"Con cầu tiêu."

Nghe vừa buồn cười vừa ngao ngán.

---

Rồi tới những từ ngữ được dùng sai nghĩa nhưng ai cũng xài.

Ví dụ như từ "đảm bảo".

Ngày xưa người ta nói:

"Tôi bảo đảm."

Bây giờ thành:

"Tôi đảm bảo."

Nghe mãi thành quen.

Hay từ "hành động".

Hành động vốn là danh từ.

Nhưng nhiều người lại dùng thay cho "thực hiện".

"Tôi sẽ hành động dự án này."

"Tôi đang hành động kế hoạch."

Nghe sao cũng thấy trật trật.

Rồi còn vô số từ khác.

Gởi xe thay vì giữ xe.

Xử lý thay cho giải quyết.

Check-in thay cho ghé thăm.

Feedback thay cho phản hồi.

Update thay cho cập nhật.

Inbox thay cho nhắn tin.

Deal thay cho thỏa thuận.

Booking thay cho đặt chỗ.

Content thay cho nội dung.

Creator thay cho người sáng tạo.

Lúc nào cũng chen tiếng Anh vô giữa câu tiếng Việt.

Nghe giống như nồi lẩu bỏ đủ thứ vô nhưng chẳng ra hương vị gì.

---

Một căn bệnh khác của mạng xã hội là bệnh cường điệu.

Ngày xưa đẹp là đẹp.

Ngon là ngon.

Hay là hay.

Bây giờ không được.

Phải:

Đỉnh của chóp.

Đỉnh cao chót vót.

Bá cháy.

Bá đạo.

Hết nước chấm.

Nhức nách.

Không đối thủ.

Số một vũ trụ.

Ngon quên lối về.

Đẹp muốn xỉu.

Nghe một lần thì vui.

Nghe một ngàn lần thấy mệt.

Mọi thứ đều bị đẩy lên cực điểm.

Một tô hủ tiếu bình thường cũng thành:

"Ngon nhất hệ mặt trời."

Một ly cà phê bình thường cũng thành:

"Đỉnh cao nhân loại."

Một cái áo bình thường cũng thành:

"Xuất sắc không có đối thủ."

Nói riết thành ra mất giá trị của ngôn từ.

Bởi vì khi cái gì cũng tuyệt vời thì rốt cuộc chẳng còn gì là tuyệt vời nữa.

---

Còn giới trẻ ngày nay thì sáng tạo ra vô số từ lóng.

Nghe nhiều khi người lớn tuổi không hiểu họ đang nói tiếng Việt hay tiếng gì.

Khum.

Hông.

Hem.

Bít hông.

Lemỏn.

Ô dề.

Keo lỳ.

Flex.

Chill.

Drama.

Tấu hài.

Bóc phốt.

Gánh team.

Xin vía.

Xả vía.

Chốt đơn.

Lên sóng.

Mãi đỉnh.

Mãi keo.

Mãi yêu.

Có những từ sống được vài tháng rồi chết.

Nhưng lại có từ sống dai như đỉa.

Nó len lỏi vô học đường.

Len lỏi vô công sở.

Len lỏi vô đời sống.

Thậm chí nhiều em học sinh đem luôn cách nói trên mạng vô bài văn.

Đó mới là chuyện đáng suy nghĩ.

---

Điều đáng buồn hơn nữa là văn hóa tranh luận cũng đang xuống cấp theo ngôn ngữ.

Ngày xưa bất đồng ý kiến thì tranh luận.

Bây giờ bất đồng ý kiến là chửi.

Là công kích.

Là mỉa mai.

Là xúc phạm.

Là kéo bầy kéo nhóm vô tấn công.

Người ta không còn cố chứng minh mình đúng.

Người ta chỉ cố chứng minh người khác ngu.

Từ ngữ vì thế cũng trở nên thô ráp hơn.

Cộc cằn hơn.

Độc địa hơn.

---

Ngôn ngữ không chỉ là lời nói.

Ngôn ngữ phản ánh văn hóa.

Người ta nói sao thì suy nghĩ dần dần sẽ như vậy.

Nếu ngày nào cũng nghe những câu cộc lốc.

Nếu ngày nào cũng tiếp xúc với những từ ngữ méo mó.

Nếu ngày nào cũng sống trong môi trường giao tiếp hỗn tạp.

Thì dần dần cái đẹp của tiếng Việt sẽ bị bào mòn.

Không mất ngay lập tức.

Nhưng mất từng chút một.

Giống như nước chảy đá mòn.

---

Có người nói:

"Ngôn ngữ phải phát triển."

Đúng.

Tôi đồng ý.

Ngôn ngữ nào cũng thay đổi.

Ngôn ngữ nào cũng tiếp nhận cái mới.

Nhưng phát triển khác với biến dạng.

Làm giàu khác với làm nghèo.

Sáng tạo khác với phá nát.

Một từ mới xuất hiện để diễn đạt ý tưởng mới là điều tốt.

Nhưng dùng từ sai nghĩa, dùng từ lệch chuẩn, dùng từ cho oai, cho ngầu, cho giống đám đông thì không phải là làm giàu tiếng Việt.

Đó chỉ là chạy theo phong trào.

---

Vậy sửa bằng cách nào?

Không phải bằng cách cấm.

Cũng không phải bằng cách chửi giới trẻ.

Muốn sửa phải bắt đầu từ gia đình.

Cha mẹ nói chuẩn.

Con cái sẽ nói chuẩn.

Muốn sửa phải bắt đầu từ nhà trường.

Học sinh phải được khuyến khích đọc sách.

Đọc văn học.

Đọc báo chí tử tế.

Muốn sửa phải bắt đầu từ chính mỗi người.

Khi viết một câu hãy tự hỏi:

Mình đang dùng từ đúng nghĩa chưa?

Mình đang nói cho rõ hay chỉ đang bắt chước thiên hạ?

Mình đang làm giàu tiếng Việt hay đang góp phần làm méo mó nó?

Tiếng Việt là tài sản mà cha ông để lại.

Mất một cánh rừng có thể trồng lại.

Mất một ngôi nhà có thể xây lại.

Nhưng nếu mất đi sự trong sáng của tiếng Việt thì phải mất rất nhiều thế hệ mới có thể phục hồi.

Cho nên đôi khi giữ gìn tiếng Việt không phải là chuyện của nhà ngôn ngữ học.

Mà là chuyện của từng người dân Việt Nam.

Bắt đầu từ những điều rất nhỏ.

Nói đúng một từ.

Viết đúng một câu.

Và biết trân trọng ngôn ngữ mà mình đang sử dụng mỗi ngày.

Tại Sao cứ phải là "CUỐN"???Có một hiện tượng ngôn ngữ khá lạ đang lan rất mạnh ở miền Nam và đặc biệt là TRÊN MẠNG XÃ H...
24/05/2026

Tại Sao cứ phải là "CUỐN"???
Có một hiện tượng ngôn ngữ khá lạ đang lan rất mạnh ở miền Nam và đặc biệt là TRÊN MẠNG XÃ HỘI vài năm gần đây: người ta bắt đầu lạm dụng chữ “cuốn” trong giao tiếp hằng ngày. Đi ăn món gì ngon cũng nói “món này cuốn quá”, coi bộ phim thấy hấp dẫn thì “phim này cuốn”, gặp người nói chuyện có duyên cũng “nói chuyện cuốn ghê”, thậm chí đi nhậu vui, nghe hát hay, coi đá banh hồi hộp… tất cả đều gom lại bằng đúng một chữ: “cuốn”. Ban đầu nghe còn mới mẻ, vui tai, nhưng riết rồi đi đâu cũng nghe “cuốn”, từ mạng xã hội tới ngoài quán cà phê, từ học sinh sinh viên tới người lớn tuổi bắt chước nói theo, thành ra cái chữ này bị xài nhiều tới mức mất hết cái hay ban đầu của nó.

Thật ra chữ “cuốn” trong tiếng Việt vốn là một động từ rất đẹp và rất cụ thể. “Cuốn” là hành động cuộn lại, quấn lại, gom lại theo vòng tròn. Người ta có bánh cuốn vì lớp bánh được cuốn nhân ở trong. Có cuốn tập, cuốn sách vì giấy được đóng thành từng xấp. Có cơn lốc cuốn phăng mái nhà, dòng nước cuốn trôi ghe xuồng. Nghĩa gốc của chữ “cuốn” là kéo đi, hút vào, làm cho chuyển động theo nó. Sau này trong ngôn ngữ hiện đại, đặc biệt qua mạng xã hội miền Bắc rồi lan dần vô Nam, chữ “cuốn” được dùng theo nghĩa bóng để chỉ sự hấp dẫn, thu hút, gây mê hoặc khiến người ta không dứt ra được. Ví dụ coi phim mà coi một lèo tới sáng gọi là “bị cuốn”. Nghĩa này không sai hoàn toàn, nhưng vấn đề là người ta đang dùng nó quá dễ dãi, quá đại trà, tới mức làm nghèo đi khả năng diễn đạt vốn cực kỳ phong phú của tiếng Việt.

Tiếng Việt mình đẹp ở chỗ cùng một cảm xúc thôi nhưng có hàng chục từ để diễn tả. Thay vì nói cái gì cũng “cuốn”, người miền Nam xưa nay vốn có rất nhiều cách nói vừa hình ảnh vừa có hồn hơn nhiều. Một bộ phim hay có thể gọi là hấp dẫn, lôi cuốn, mê ly, gây nghiện, hút hồn, bắt mắt, đã đời, dính quá trời, coi không dứt ra được. Một người nói chuyện duyên dáng có thể gọi là có duyên, mặn mòi, nói chuyện bắt tai, nói nghe đã, nói có lửa, nói vô là ghiền. Một món ăn ngon thì có thể khen đậm đà, bén vị, ăn ghiền, ăn vô nhớ hoài, ngon bá cháy, ngon quên lối về. Một bài hát hay thì gọi là thấm, phiêu, nghe nổi da gà, nghe muốn khóc, nghe vô tâm trạng. Chỉ cần chịu khó lựa chữ một chút thôi là câu nói đã khác hẳn rồi.

Có thể liệt kê sơ sơ hơn mười chữ hoặc cụm từ thay cho chữ “cuốn” như: hấp dẫn, lôi cuốn, mê hoặc, say mê, thu hút, bắt mắt, bắt tai, gây nghiện, có duyên, hút hồn, quyến rũ, mê ly, thấm, đã, dính, ghiền, bén, mê mẩn, sinh động, thú vị… Mỗi chữ mang một sắc thái khác nhau. Đó mới là cái giàu của tiếng Việt. Chứ giờ cái gì cũng “cuốn” thì nghe riết câu nào cũng na ná nhau, vô hồn, cụt ngủn và lười suy nghĩ.

Đáng nói hơn là nhiều người trẻ miền Nam, đặc biệt miền Tây, bắt đầu bỏ luôn những cách nói rất riêng của vùng mình để chạy theo kiểu nói trên mạng. Ngày xưa dân Nam bộ khen cái gì hay là nói “đã dữ”, “mặn mòi”, “nghe bắt”, “nghe vô”, “đẹp ác”, “coi mê”, “ăn ghiền”, “thấy ham”, “đã cái nư”, “đã con mắt”, “nghe thấm”, “nói chuyện duyên”. Những chữ đó nghe một cái là ra chất miền Nam liền. Nó có cái chân chất, gần gũi, sống động của đời sống sông nước. Còn giờ nhiều người mở miệng ra là “cuốn”, “chữa lành”, “nội tâm”, “lowkey”, “kiểu”… nghe cứ lơ lửng nửa mùa sao đó.

Ngôn ngữ không đứng yên, chuyện vay mượn hay ảnh hưởng lẫn nhau giữa các vùng miền là bình thường. Không ai cấm dùng chữ mới. Nhưng vấn đề là phải dùng có chừng mực và đúng sắc thái. Nếu một chữ bị lạm dụng quá mức, nó sẽ làm người nói mất dần khả năng diễn đạt tinh tế. Giống như một họa sĩ mà chỉ xài đúng một màu sơn để vẽ mọi thứ, lâu ngày tranh sẽ nhạt nhẽo. Tiếng Việt cũng vậy. Nó đẹp vì đa dạng thanh âm, đa dạng cách nói, đa dạng sắc thái địa phương. Mỗi miền có cái duyên riêng trong lời ăn tiếng nói của mình.

Người miền Nam xưa nay vốn nổi tiếng nói chuyện có hình ảnh, có nhịp điệu và giàu cảm xúc. Chỉ cần nghe mấy câu như “nghe cái giọng muốn xỉu”, “ăn cái này ghiền chết cha”, “nói chuyện mặn như muối biển”, “đẹp muốn đứng hình” là đã thấy cả một không khí sống động trong đó rồi. Nó dân dã nhưng có hồn. Nó không bóng bẩy mà lại nhớ lâu. Nếu cái gì cũng quy về “cuốn” thì chẳng khác nào tự mình gom cả một kho ngôn ngữ phong phú thành đúng một cái ngăn kéo nhỏ xíu.

Cái đáng lo không phải một chữ “cuốn”, mà là tâm lý bắt chước vô thức. Thấy mạng nói sao thì nói theo, thấy TikTok dùng gì thì dùng đó, riết rồi quên luôn cách nói của chính quê mình. Đặc biệt giới trẻ miền Nam bây giờ nhiều người nói chuyện nghe không còn ra chất Nam bộ nữa. Không phải vì họ học cái mới là sai, mà vì họ bỏ luôn cái cũ đẹp đẽ của mình. Trong khi ngôn ngữ miền Nam vốn là một kho tàng cực kỳ sinh động, hài hước và giàu hình ảnh.

Cho nên nói cho cùng, học hỏi cái mới thì được, nhưng đừng vì chạy theo trào lưu mà làm nghèo tiếng Việt. Một chữ chỉ nên là một lựa chọn, không nên biến thành cây gậy chống cho mọi cảm xúc. Người miền Nam mình vốn ăn nói phong phú, hào sảng, duyên dáng, đâu cần cái gì cũng “cuốn” mới sang miệng. Nhiều khi bỏ bớt một chữ thời thượng, quay lại nói kiểu thiệt tình, tự nhiên, đúng chất quê mình, nghe còn “đã cái nư” hơn nhiều.

Ý BẠN THÌ SAO NÈ?

Miền Nam – xứ Đàng Trong – nếu nói cho gọn thì đó là vùng đất của những người không chịu ngồi yên. Từ mấy trăm năm trước...
04/05/2026

Miền Nam – xứ Đàng Trong – nếu nói cho gọn thì đó là vùng đất của những người không chịu ngồi yên. Từ mấy trăm năm trước, khi người ta còn quen “an cư lạc nghiệp” thì ở đây đã có một lớp người dám bỏ quê, bỏ làng, xách gói đi mở đất. Mà đã là dân đi mở cõi thì trong máu nó có sẵn cái chất tự do rồi, không thích bị bó buộc, không thích rườm rà, không thích nói nhiều mà thích làm. Chính cái nền tảng đó làm nên một miền Nam rất khác – phóng khoáng, dễ thở, và đặc biệt là… dễ thương theo kiểu rất đời. Vùng đất này không phải tự nhiên mà hình thành một kiểu người như vậy. Nó là kết quả của cả một quá trình trộn lẫn văn hóa rất đặc biệt. Người Khmer bản địa hiền lành, thẳng tính, sống chan hòa với thiên nhiên. Dấu tích của văn hóa Phù Nam xưa vẫn còn đâu đó trong nếp sống nhẹ nhàng, không quá câu nệ. Rồi người Việt từ miền Trung, miền Bắc vào, mang theo sự chịu thương chịu khó, gan lì trước khó khăn. Sau đó là người Hoa “phản Thanh phục Minh”, mang theo cái chất làm ăn uy tín, coi trọng chữ tín hơn vàng. Rồi thêm chút “gia vị” của người Ấn – dân Nam hay gọi vui là Chà Và – với cái đầu nhanh nhạy, buôn bán lanh lẹ. Tất cả trộn lại thành một nồi lẩu văn hóa mà nói thiệt, kiếm trên thế giới cũng khó có chỗ thứ hai giống vậy. Nói Sài Gòn – Gia Định xưa là “hợp chủng quốc” từ thế kỷ 17-18 nghe hơi lớn lao, nhưng nghĩ kỹ thì… cũng không sai mấy đâu. Mà cái vùng đất này không chỉ có tự do suông. Dưới thời Tổng binh Lê Văn Duyệt, Sài Gòn – Gia Định đã được định hình theo một kiểu quản lý rất rõ ràng, thực tế, lấy hiệu quả làm trọng. Cái đó nó ăn sâu vô cách vận hành xã hội luôn, chứ không phải chuyện nhất thời. Rồi sau này tới thời Pháp, nhiều người nghe “đô hộ” là thấy ghét rồi, đúng, nhưng phải nói cho công bằng: họ đem vô đây một hệ thống tổ chức công việc rất bài bản. Họ cần người làm được việc để khai thác thuộc địa, nên họ đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, chia bộ máy rõ ràng, ai làm việc nấy, không chồng chéo. Cái này mới là mấu chốt. Nhờ vậy mà sau này, dù Pháp đi, Mỹ vô, rồi tới thời Việt Nam Cộng Hòa, cái nền tảng “làm việc có quy trình, có trách nhiệm” đó vẫn còn, và nó tiếp tục ảnh hưởng tới tận bây giờ. Cho nên nói cho rõ: cái sự “chuyên nghiệp” của người miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn, không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của lịch sử, của văn hóa, của cả một quá trình rèn luyện lâu dài. Và cái hay là nó không nằm trên giấy tờ hay khẩu hiệu, mà nó thể hiện rõ nhất ở những thứ rất nhỏ. Nhỏ tới mức nhiều người coi là bình thường nên không để ý. Ví dụ như anh giữ xe, chị bán rau, anh chạy xe ôm công nghệ, hay bạn phục vụ quán ăn. Những người đó, họ không cần học mấy khóa “dịch vụ khách hàng 5 sao” gì hết, nhưng trong đầu họ có một suy nghĩ rất đơn giản: “Tui đang làm việc của tui, mà việc này là phục vụ người ta, thì phải làm cho đàng hoàng.” Vậy thôi. Không cần triết lý cao siêu. Họ không than nghèo kể khổ với khách. Nhà có chuyện gì là chuyện riêng, còn đã bước vô ca làm thì làm cho tới nơi tới chốn. Làm tốt để khách vui, để người ta quay lại. Mà nếu thấy tiền không xứng công thì sao? Thì nghỉ, đi chỗ khác. Gọn gàng. Không làm màu, không làm mình làm mẩy, không đứng đó vừa làm vừa than cho khách nghe để xin thông cảm. Ở đây có một luật ngầm: đã chơi thì chịu. Đã nhận việc thì phải làm cho ra việc. Nghe đơn giản vậy thôi mà không phải chỗ nào cũng có. Nói tới dịch vụ thì không thể không nhắc tới quán ăn. Đây là một trong những nghề “khó chiều” nhất trên đời. Làm tốt 99 lần không ai nhớ, nhưng lỡ một lần sơ suất là coi như công sức trước đó… trôi sông. Bởi vậy mới nói phục vụ ăn uống phải tốt 1000%, chứ 100% chưa chắc đã đủ. Con người mà, “chín người mười ý”, đâu ai giống ai. Người thích nhanh, người thích chậm, người thích nói chuyện, người thích yên tĩnh. Vậy mà ở miền Nam có những quán ăn tồn tại 50-60 năm, khách vẫn khen, vẫn quay lại đều đều. Không phải tự nhiên. Đó là kết quả của một thứ gọi là “làm nghề bằng cái tâm và cái đầu hiểu khách”. Và nếu bạn đã từng sống ở Sài Gòn, từng trải nghiệm cái kiểu phục vụ “tận răng” ở đây rồi, thì nói thiệt, đi đâu bạn cũng sẽ có cảm giác… thiếu thiếu. Không phải chê nơi khác, nhưng cái cách phục vụ ở Sài Gòn nó tạo cho bạn cảm giác mình được tôn trọng. Mà cái này mới là quan trọng. Có những nơi dịch vụ tốt thật, nhưng giá cũng “tốt” theo, cao gấp mấy lần. Còn ở Sài Gòn, với số tiền đó, bạn có thể được phục vụ như “ông hoàng bà hoàng” luôn. Nghe hơi quá nhưng trải nghiệm rồi sẽ hiểu. Lấy ví dụ đơn giản nhất: ăn phở. Ở Sài Gòn, bước vô quán là có người ra hỏi ăn gì, ngồi bàn đàng hoàng, có trà đá, khăn giấy, khăn lạnh, trên bàn đủ thứ gia vị, rau sống đầy đủ, thích ăn kiểu gì thì tự do nêm nếm. Kêu thêm là có liền, không phải chờ lâu. Ăn xong chỉ cần giơ tay là có người lại tính tiền. Ra về còn được một câu “cảm ơn, ghé lại ủng hộ nha” nghe cái thấy vui. Còn ở Hà Nội, nhiều quán phở gia truyền thì lại theo kiểu khác. Phải xếp hàng, tự bưng, tự tìm chỗ, ăn nhanh rồi đứng lên nhường chỗ. Không phải họ làm sai, mà đó là văn hóa riêng của họ. Họ tập trung vô cái vị phở, muốn người ăn cảm nhận đúng cái “chất” mà họ nấu ra. Nước lèo trong, vị đậm, ăn giữa trời lạnh thấy ấm người. Nghe cũng hợp lý. Nhưng vấn đề là trải nghiệm dịch vụ thì… mỗi người một cảm nhận. Có người thích sự nhanh gọn, có người thích được phục vụ đầy đủ. Không có đúng sai tuyệt đối. Chỉ là hợp hay không hợp thôi. Người Sài Gòn quen cái kiểu thoải mái, được chăm sóc, nên khi ra ngoài gặp kiểu tự phục vụ, đôi khi thấy… hơi bị hụt hẫng. Còn người Hà Nội quen nhịp sống đó thì lại thấy bình thường. Thành ra nói cho công bằng: phở mỗi nơi mỗi ngon, mỗi kiểu. Người nấu khác nhau, khí hậu khác nhau, khẩu vị khác nhau. Đừng cố so hơn thua làm gì. Nhưng nếu nói riêng về dịch vụ, thì Sài Gòn đúng là có một “trường phái” riêng – trường phái của sự chiều khách và tôn trọng trải nghiệm. Và chính cái điều đó làm nên một đặc tính rất riêng của người miền Nam: làm việc là làm cho tới nơi, phục vụ là phục vụ cho đàng hoàng, không nửa vời. Nó không phải là cái gì cao siêu, mà là một thói quen được hình thành từ lịch sử, từ văn hóa, từ cách sống. Và kết lại một câu cho gọn: nếu bạn đã từng sống, từng ăn, từng trải nghiệm dịch vụ ở Sài Gòn mà vẫn thấy “không có gì đặc biệt” thì có hai khả năng thôi – một là bạn quá khó tính, hai là bạn… chưa để ý kỹ. Còn nếu bạn đã thấy rồi mà vẫn chưa quay lại, thì thôi, cho tôi xin một cái hẹn: xách cái bụng đó vô lại Sài Gòn, ăn một tô phở, uống ly cà phê, ngồi nghe người ta nói chuyện, rồi coi có “ghiền” lại không. Tin tôi đi, không cần quảng cáo nhiều, chỉ cần trải nghiệm một lần cho đúng kiểu, tự bạn sẽ biết vì sao người ta nói: Sài Gòn – đã thương là thương tới bến, mà đã phục vụ là phục vụ cho “đã đời” luôn!
Mấy nay cái clip 2 bạn ở ngoải vô trong này ăn thấy chủ quán ở đây hiền quá, bán món ăn tụ do gọi thêm rồi trả lại tự do quá nên họ giải tỏa tỏa mấy cái âm ức bấy lâu nay trong lòng. sao không giống phong cách bán ngoài kia ...thấy sao cũng tội tội mà thôi cũng kệ.. đi ha!@

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tiếng Việt Đẹp Giàu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share