18/06/2026
Xóm hẻm ở Sài Gòn
Nhiều gia đình sinh sống gần nhau tạo thành khu xóm. Tuỳ theo đặc điểm chung của xóm mà tên xóm được đặt ra như xóm đình, xóm chùa, xóm chợ, xóm gà, xóm vườn tre, xóm bàn cờ, xóm chiếu, xóm củi… Từ những xóm lớn này lại chia ra thêm thành những xóm nhỏ, thấp nhất là liên gia.
Xóm lao động bình dân ở Sài Gòn xuất hiện rõ nét từ đầu những năm 1950, cũng có một vài xóm bắt đầu hình thành trước đó do nhu cầu của người dân lao động kiếm sống tại trung tâm thành phố. Trong cuốn sách Sài Gòn trăm năm, tác giả Phạm Công Luận có nhắc đến quyển sách mỏng (không rõ tác giả) “Những xóm bình dân trong vùng Sài Gòn – Chợ Lớn” xuất bản tại Sài Gòn năm 1953 viết về những xóm xưa mà cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại. Không kể vùng Gia Ðịnh giáp ranh Ðô thành, Sài Gòn – Chợ Lớn thuở đó có chừng hơn 20 tên xóm được ghi nhận. Ðặc biệt xóm Cầu Muối là một xóm lớn, có diện tích khoảng 50 ngàn mét vuông. Nhà cửa chen chúc độ ngàn nóc gia, cất lộn xộn không theo thứ tự. Có nhiều hẻm ngoằn ngoèo, lối đi độ một mét bề ngang. Buổi tối cả xóm dùng đèn dầu lửa. Nước thì dùng nước máy, lấy ở vòi nước công cộng.
Ngoài xóm Cầu Muối, xóm Chí Hoà hay xóm Hoà Hưng nơi tôi sinh ra và lớn lên cũng là xóm có dân cư đông đúc, hình thành từ thuở thành lập quận 3 (1920). Cái xóm thân thuộc từ xa xưa ấy như thể nào tôi đã viết trong bài Xóm Hoà Hưng và đình Chí Hoà. Từ khi tôi bắt đầu hiểu chuyện, lân la đầu trên xóm dưới khám phá hẻm xóm nơi mình ở đã để lại trong trí óc của một thằng bé thuở tiểu học một hình ảnh không thể nào quên. Ðến giờ, mỗi khi nhắc đến, tôi lại mường tượng ra từng con hẻm lớn nhỏ, từng ngôi nhà ở khu xóm trên hay khu xóm dưới hình dáng ra sao, từng cây mít, cây xoài hay cây mận tôi từng hái trộm, nhớ những trận banh nhựa với đám bạn nhà bên, những trò chơi trẻ con nhẹ nhàng cũng có, mạnh bạo cũng có và cả những trận cãi vã, ẩu đả với bạn bè trong xóm vì tranh giành một vật cỏn con.
Có xóm tức có hẻm. Hẻm xóm có thể do quy định của chủ đất phân chia phần đất làm lối đi chung khi một vài người dân đầu tiên đến mua lô đất nhỏ cất nhà trên cuộc đất lớn. Và hẻm xóm cũng có thể do Phòng Phát triển Gia cư địa phương hoạch định khi xây dựng một khu dân cư mới. Tuy vậy, việc quản lý trật tự xây dựng của cấp chính quyền địa phương cấp phường xã vào thời gian trước 1954 gần như hoàn toàn bỏ trống. Dân chúng khắp nơi nhập cư về Sài Gòn ngày càng nhiều, hầu hết trong số họ là những người nghèo, tìm vào những khu xóm nhỏ, những con hẻm nhỏ hẹp thuê mướn nhà hay mua đất cất căn nhà đơn sơ tạo thành những khu xóm mới. Và tương tự ở những vùng ven kênh rạch, cuộc định cư của dân nghèo khắp nơi đổ về đô thành kiếm sống càng sôi động, họ tìm đến khu vực ven kênh rạch phù hợp với túi tiền định cư và biến nơi đây thành những khu nhà ổ chuột tạm bợ nối kết với nhau bằng những hẻm cầu ván chông chênh. Thống kê cho thấy trước 1975, nhà ổ chuột ven kênh rạch Sài Gòn-Chợ Lớn lên đến hơn 30,000 gia đình.
Ðiều này dễ nhận ra một vài xóm trong cuốn sách “Những xóm bình dân trong vùng Sài Gòn – Chợ Lớn” khi tác giả ghi nhận xóm tiếp tục được mở rộng qua vùng ven quanh Sài Gòn trước năm 1953.
Việc mở rộng xóm định cư cho dân chúng lao động bình dân nghèo trong thời buổi loạn ly khó có thể định hình quy hoạch các khu dân cư một cách bài bản và thật sự không thể nào kiểm soát nổi vào thời điểm đầu thập niên 60. Hầu hết xóm phát triển một cách tự phát. Và rồi những con hẻm cũng tự định hình theo sự tự phát đó tuỳ theo diện tích cuộc đất được phân chia thành bao nhiêu căn nhà. Thậm chí xẻo đất thừa rộng năm mười mét vuông cũng có thể trở thành một túp lều tuềnh toàng che mưa che nắng cho người lao động nghèo từ nơi khác đến định cư.
Tất nhiên trong hẻm xóm có những hẻm khá hiền hoà, có những hẻm quanh năm bốn mùa nước đọng, có những hẻm nghe tên lại không dám vào. Thậm chí có những con hẻm nổi tiếng dành cho dân ham vui phải treo biển cảnh báo “Khu Vực Cấm Quân nhân”trên đường Lê Văn Duyệt (hẻm số 2) hoặc Pétrus Ký (hẻm Cây Ðiệp xóm Bình Khang). Nhưng dù cho sinh hoạt có như thế nào chăng nữa thì người dân sống ở đó xem ra sống thật vô tư với thế sự cuộc đời. Mặc cho tiếng ồn ào náo nhiệt của một trận đá gà, âm thanh rát tai phát ra từ chiếc máy cưa bàn của nhà thợ mộc, của những chiếc radio vọng lên câu vọng cổ não nuột hay vang lên bài tân nhạc với giai điệu bolero mộc mạc và đây đó những thanh niên không nghề nghiệp cởi trần tụm năm tụm ba nói chuyện trên trời dưới đất, của những phụ nữ rỗi việc ngồi nhỏ to tám chuyện bà con thiên hạ, của những đứa trẻ thoải mái la ó chơi đùa đủ trò trong xóm nhỏ.
Ðó là hình ảnh sinh hoạt ban ngày của người dân sống trong hẻm xóm ta vẫn thường thấy ở xóm này hay xóm kia. Nó chất chứa bao hỉ nộ ái ố trong nhịp sống hằng ngày. Xóm chỉ yên tĩnh khi màn đêm buông xuống, đó là quãng lặng dành cho cả xóm, dành cho những con người lao động sau một ngày làm việc trở về nhà quây quần bên mâm cơm gia đình dưới ánh đèn hiu hắt
Hẻm xóm nghèo ở Sài Gòn tuy không là một bức tranh nghệ thuật nhưng luôn là nguồn cảm xúc vô tận của nhiều nhạc sĩ và nhà thơ, nhà văn khác nữa. Ðó là đời sống thực của đại bộ phận dân Sài Gòn.
May mắn thay, vào những năm cuối thập niên 1960, nhờ sự viện trợ của quốc tế, chính quyền thực hiện một phần trong chương trình chỉnh trang đô thị dành cho cư dân nghèo sống trong hẻm xóm. Tôn fibro, xi măng phát không cho người dân để tân trang cái nhà, tráng lại con hẻm nước đọng quanh năm. Nhiều hẻm xóm nhìn khang trang hơn lúc trước. Nhưng cuộc nhập cư vẫn cứ tiếp diễn ra trên khắp Sài Gòn và cứ thế các xóm mới lại được hình thành.