Chi Đoàn ấp 70 - xã Xuân Thới Sơn

Chi Đoàn ấp 70 - xã Xuân Thới Sơn Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Chi Đoàn ấp 70 - xã Xuân Thới Sơn, Labor Union, 2/300 Tân Thới Nhì 14 xã Xuân Thới Sơn, Ho Chi Minh City.

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳🔥Trung tướng Khuất Duy Tiến( 27/2/1931- 23/11/2024)🔥Tháng 9-1945, khi mới 14 tuổi, đồng chí K...
09/06/2026

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳

🔥Trung tướng Khuất Duy Tiến( 27/2/1931- 23/11/2024)🔥

Tháng 9-1945, khi mới 14 tuổi, đồng chí Khuất Duy Tiến bắt đầu tham gia các hoạt động của Việt Minh; 16 tuổi tham gia cán sự thiếu nhi xã rồi trở thành Xã đội phó và Phó ban Thông tin xã Đại Đồng (nay thuộc huyện Thạch Thất, TP Hà Nội).
Đầu năm 1950, sau khi tham gia trừ khử Việt gian, đồng chí Khuất Duy Tiến bị lộ, bị địch bắt giam, tra tấn tại nhà tù Hỏa Lò. Sau đó, nhân sơ hở của địch, đồng chí đã cùng một số tù nhân trốn thoát, rồi gia nhập Quân đội ngày 4-9-1950. Với sự năng nổ, nhiệt tình, trách nhiệm, luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, tháng 2-1952, đồng chí Khuất Duy Tiến vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Hơn nửa thế kỷ phục vụ cách mạng, với 72 năm tuổi Đảng, 47 năm công tác trong Quân đội, được tôi luyện, trưởng thành qua các cuộc kháng chiến, từ người chiến sĩ đến khi trở thành một vị tướng trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, đồng chí Khuất Duy Tiến được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó nhiều trọng trách như: Tư lệnh Quân đoàn 3; Cục trưởng Cục Tổ chức động viên (nay là Cục Quân lực, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam); Hiệu trưởng Trường SQLQ 1. Ở bất kỳ cương vị công tác nào, trong điều kiện, hoàn cảnh nào, đồng chí cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.
Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc ta, đồng chí luôn giữ vững lòng kiên trung, ý chí sắt đá, chiến đấu dũng cảm, chỉ huy mưu lược, sáng tạo, cùng với đồng đội, đơn vị lập nhiều chiến công.
Đầu năm 1971, quân Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân lớn mang tên Lam Sơn 719, đánh vào khu vực Đường 9-Nam Lào nhằm cắt đứt mạch máu tiếp viện chiến lược của Quân đội ta. Ngày 30-1-1971, một sư đoàn của Mỹ mở cuộc hành quân càn dọc Đường 9, chiếm lại Khe Sanh, làm bàn đạp cho ngụy quân Sài Gòn mở cuộc tiến công sang Nam Lào. Qua một ngày chiến đấu, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) dưới sự chỉ huy của đồng chí Khuất Duy Tiến đã diệt gọn Tiểu đoàn dù 6 của địch. Đặc biệt, những ngày cuối tháng 2-1971, đồng chí đã chỉ huy Trung đoàn 64 trực tiếp đánh chiếm điểm cao 543, bắt sống Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3 của ngụy quân Sài Gòn, góp phần làm phá sản cuộc hành quân Lam Sơn 719 và phá vỡ mục tiêu "hủy diệt, giành dân và bóp nghẹt" của địch.
Trong Chiến dịch Xuân Hè 1972, Trung đoàn 64 dưới sự chỉ huy của đồng chí Khuất Duy Tiến nhận được lệnh cùng các đơn vị phối thuộc bao vây, chiếm lĩnh khu vực điểm cao 1015 (Charlie) và 1049 (Delta), tạo điều kiện cho các lực lượng giải phóng Đăk Tô-Tân Cảnh vào tháng 4-1972. Cuối năm 1974, cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến tích cực, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, nhằm giải phóng Buôn Ma Thuột và tiến quân về đồng bằng. Đây là chiến dịch mang tầm chiến lược, tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để bảo đảm thắng lợi, đồng chí Vũ Lăng, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Khuất Duy Tiến, khi đó là Trưởng phòng Tác chiến (Mặt trận Tây Nguyên) xây dựng kế hoạch nghi binh địch, cô lập và bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột.
Kế hoạch nghi binh được thực hiện khéo léo khiến địch tập trung phòng thủ tại Kon Tum-Gia Lai, trong khi quân ta bí mật di chuyển lực lượng xuống Nam Tây Nguyên. Kế hoạch nghi binh thành công không chỉ giảm thương vong cho quân ta mà còn đẩy địch vào thế bất ngờ, giúp giải phóng Buôn Ma Thuột nhanh chóng, tạo thế tiến công liên hoàn giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung. Thành công này đánh dấu bước ngoặt chiến lược, mở đường cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong những năm 1978-1979, trên cương vị Tư lệnh Sư đoàn 320, đồng chí Khuất Duy Tiến cùng đồng đội chiến đấu anh dũng bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế giúp Campuchia khỏi nạn diệt chủng của Khmer Đỏ. Trở về từ chiến trường Tây Nam, đồng chí Khuất Duy Tiến tiếp tục cùng Quân đoàn 3 hành quân ra miền Bắc, làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc, mang lại hòa bình lâu dài cho đất nước.


🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳🇻🇳Nguyễn Văn Thương – Người chiến sĩ thép🇻🇳  Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống các...
08/06/2026

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳

🇻🇳Nguyễn Văn Thương – Người chiến sĩ thép🇻🇳

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Tây Ninh, Nguyễn Văn Thương sớm tham gia kháng chiến khi đất nước còn chìm trong khói lửa. Từ một chiến sĩ giao liên, ông được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong lực lượng tình báo hoạt động ở chiến trường miền Nam.

Năm 1969, trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị địch bắt. Dù bị tra tấn vô cùng dã man nhằm khai thác bí mật của tổ chức, Nguyễn Văn Thương vẫn một mực giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Kẻ thù nhiều lần dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, ép buộc nhưng đều thất bại.

Điều khiến đồng đội và nhân dân khâm phục nhất là ý chí phi thường của ông. Trong suốt những năm tháng bị giam cầm, dù chịu những thương tích nặng nề, ông vẫn không tiết lộ bất kỳ thông tin nào có thể gây nguy hiểm cho cách mạng. Sự kiên cường ấy khiến ngay cả kẻ thù cũng phải kinh ngạc và gọi ông là “người thép”.

Sau ngày được trao trả tù binh, Nguyễn Văn Thương tiếp tục cống hiến cho đất nước. Với những chiến công và sự hy sinh to lớn, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cùng nhiều huân chương cao quý khác.

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳Đại tướng Phạm Văn Trà (sinh ngày 19-8-1935), quê xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, n...
07/06/2026

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳

Đại tướng Phạm Văn Trà (sinh ngày 19-8-1935), quê xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (khóa VIII, IX), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1997-2006), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại biểu Quốc hội (khóa IX - XI). Ông nhập ngũ năm 1953, được thăng quân hàm Đại tướng năm 2003.

Đại tướng Phạm Văn Trà từng có một “tuổi thơ dữ dội”. Trong một trận càn năm 1952, cha ông bị Tây bắn gãy chân, chú ông bị bắn chết. Một năm sau, trong trận càn tiếp theo, giặc xông vào nhà, cha ông bị gẫy chân không chạy được, bị chúng xả súng bắn chết tại chỗ. Đang cùng du kích chống càn, ông chạy về đau đớn bế người cha còn ấm nóng trên tay, nuốt nước mắt hứa với cha sẽ vào bộ đội, trả thù nhà, nợ nước. Chính vì thế, mới 17 tuổi, lại “thấp bé nhẹ cân”, ông vẫn khai thêm tuổi, bỏ đá vào quần để xin nhập ngũ. Trong chiến đấu, là người gan dạ, dũng cảm, mưu trí, ông thường xuyên được giao đảm nhiệm vị trí nguy hiểm nhất là ôm bộc phá đánh hàng rào và lô cốt đầu cầu...
Đại tướng Phạm Văn Trà nổi tiếng là vị tướng dạn dày trận mạc, gan góc, thông minh với những trận đánh bất ngờ, táo bạo đã làm kẻ thù khiếp sợ. Hơn nửa thế kỷ chinh chiến, ông đã trải qua mọi thang bậc, vị trí của người lính, từ những cấp bậc như chiến sĩ liên lạc, tổ trưởng 3 người cho đến cán bộ cấp sư đoàn, quân khu, rồi Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tiểu sử về ông được Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam khái quát, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, từ 1964-1975 chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, ông từng giữ các chức vụ từ Tham mưu trưởng Tiểu đoàn đến Trung đoàn trưởng. Từ tháng 12-1975 đến 1977, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 4 rồi Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 330, Quân khu 9. Đến tháng 8-1980, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, tham chiến tại Campuchia. Tháng 3-1983, ông đảm nhiệm chức Phó Tư lệnh Mặt trận 979. Từ năm 1985-1988, ông giữ chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9. Tháng 6-1988, ông được điều về giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 3. Từ 1989-1993, ông là Tư lệnh Quân khu 3. Tháng 12-1993, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND VN). Từ tháng 12-1995, ông là Tổng tham mưu trưởng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến tháng 12-1997, ông được phân công giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thay tướng Đoàn Khuê nghỉ hưu.
Ông là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng tài năng, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tuyệt đối trung thành và đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Tài thao lược của ông đã được bộc lộ từ những trận chiến đấu “vỡ lòng” trên quê hương Kinh Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến những năm tháng bám trụ ở chiến trường miền Tây Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tiếp đó là gần 10 năm cùng lực lượng vũ trang Quân khu 9 làm nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp, góp phần giải cứu dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt vong Khmer Đỏ...
Với những công lao và thành tích xuất sắc đó, ông được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (1976); Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, hạng Ba)...


🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳🔥ĐỒNG CHÍ LÊ KHẢ PHIÊU (1931 – 2020)Đồng chí LÊ KHẢ PHIÊU, sinh ngày 27-12-1931; quê quán: xã...
06/06/2026

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳

🔥ĐỒNG CHÍ LÊ KHẢ PHIÊU (1931 – 2020)

Đồng chí LÊ KHẢ PHIÊU, sinh ngày 27-12-1931; quê quán: xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thường trú tại số nhà 7/36/C1 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1947; vào Đảng ngày 19-6-1949.

Từ năm 1947 đến năm 1949, đồng chí dạy bình dân học vụ ở xã. Tháng 6-1949, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, phụ trách công tác tuyên truyền, làm Chánh Văn phòng Chi bộ xã.
Từ tháng 5-1950 đến tháng 8-1954, đồng chí nhập ngũ, làm chiến sĩ, rồi đảm nhiệm các chức vụ Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Chính trị viên phó Đại đội, Chính trị viên Đại đội, Trung đoàn 66, Đại đoàn 304.
Từ tháng 9-1954 đến tháng 3-1955, đồng chí học bổ túc quân chính trung cấp khóa I.
Từ tháng 3-1955 đến tháng 3-1958, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Trưởng Tiểu ban Tổ chức Trung đoàn, Chính trị viên Tiểu đoàn; Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 66, Sư đoàn 304.
Tháng 4-1958, đồng chí là học viên Trường Chính trị trung cao.
Từ tháng 6-1961 đến năm 1966, đồng chí lần lượt giữ các chức vụ Phó Ban Cán bộ rồi Trưởng Ban Tổ chức, Phòng Chính trị Sư đoàn 304; sau đó làm Phó Chính ủy rồi Chính ủy Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân khu Hữu Ngạn, Đảng ủy viên Sư đoàn.
Tháng 7-1967, đồng chí vào chiến trường Trị Thiên chiến đấu, làm Chính ủy Trung đoàn 9. Tháng 1-1968, đồng chí kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9.
Năm 1970, đồng chí làm Trưởng Phòng Tổ chức Quân khu Trị Thiên.
Từ tháng 10-1971 đến tháng 2-1974, đồng chí làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Trị Thiên.
Tháng 3-1974, đồng chí làm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Trị Thiên (sau là Quân đoàn 2), Đảng ủy viên Quân đoàn.
Tháng 2-1978, đồng chí làm Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9.
Tháng 8-1980, đồng chí làm Phó Tư lệnh về chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, được bầu vào Thường vụ rồi Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu.
Tháng 3-1983, đồng chí giữ chức Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9.
Tháng 4-1984, đồng chí làm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh 719, đồng chí được thăng quân hàm Thiếu tướng.
Năm 1986, đồng chí làm Phó Tư lệnh về chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh 719, làm Ủy viên rồi Phó Bí thư Ban cán sự Bộ Tư lệnh 719.
Tháng 6-1988, đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng.
Tháng 8-1988, đồng chí làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (phụ trách khối tổ chức, cán bộ, bảo vệ).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phân công làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba, khóa VII, đồng chí được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Tháng 6-1992, đồng chí được thăng quân hàm Thượng tướng.
Tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1-1994), đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6-1996), đồng chí tiếp tục được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, được cử tham gia Thường vụ Bộ Chính trị, phân công làm Thường trực Bộ Chính trị kiêm Trưởng Ban Bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư, khóa VIII (tháng 12-1997), đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).
Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VII, VIII; Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị khóa VIII; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (từ tháng 12-1997 đến tháng 4-2001). Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X.
Tháng 10-2006, đồng chí được nghỉ công tác theo chế độ.
Do có nhiều công lao và thành tích xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

06/06/2026
🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳Anh hùng Nguyễn Văn Bạch, sinh năm 1924, quê ở tỉnh Vĩnh Phúc. Thuở nhỏ nhà nghèo, Nguyễn Văn...
05/06/2026

🇻🇳CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA🇻🇳

Anh hùng Nguyễn Văn Bạch, sinh năm 1924, quê ở tỉnh Vĩnh Phúc. Thuở nhỏ nhà nghèo, Nguyễn Văn Bạch phải đi chăn trâu, cày thuê cuốc mướn cho nhà giàu lấy gạo, lấy tiền đỡ đần bố mẹ nuôi các em.

Ngày 12-6-1949, Nguyễn Văn Bạch tình nguyện lên đường nhập ngũ. Đồng chí cùng đơn vị tham gia chiến đấu trong nhiều chiến dịch và được chỉ huy tin cậy giao cho các nhiệm vụ: Đảm nhiệm đánh mìn chặn đường tiếp viện của địch ở Chiến dịch Biên giới Cao-Bắc-Lạng; đi xây dựng Sở chỉ huy Chiến dịch Trần Hưng Đạo ở Tam Đảo; tháo gỡ bom mìn ở Chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào…

Tháng 3-1951, đồng chí Nguyễn Văn Bạch được điều động làm Tiểu đội trưởng của một đơn vị mới thành lập thuộc Đại đội Công binh M83 (Trung đoàn Công binh 151, Đại đoàn 351) do Đại đội trưởng Nguyễn Phú Xuyên Khung chỉ huy. Nhiệm vụ của đội là phá bom nổ chậm, bom bướm, bom bi ở dốc Pha Đin, đèo Bản Chẹn.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tại cứ điểm A1, sau nhiều đợt tấn công quân địch, chúng ta chỉ chiếm được 1/2 quả đồi, muốn tiêu diệt được cứ điểm này thì ta phải làm chủ được căn hầm ngầm của địch trên đỉnh đồi. Lúc này, Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã vạch ra một kế hoạch “Lấy hầm trị hầm” - một kế hoạch mang tính quyết định.
Ngày 20-4-1954, Đại đội Công binh M83 được lệnh đào hầm ngầm. Để bảo đảm bí mật, an toàn cho hầm ngầm, công việc ngụy trang cửa hầm được làm rất công phu; ngoài cửa hầm có mái che phủ đất để vừa chống lựu đạn và mảnh pháo từ trên cao ném xuống vừa che mắt địch; đất đá đào ra đều cho vào túi dù đưa ra ngoài, sau khi đổ còn ngụy trang rất kỹ. Càng đào vào sâu, công việc càng khó khăn vì vừa thiếu ánh sáng vừa thiếu không khí, nên bộ đội phải liên tục thay nhau ra ngoài để thở.

Vừa đào hầm, Đại đội Công binh M83 vừa lo đi tìm bom chưa nổ để gỡ thuốc làm bộc phá vì theo thiết kế, khối bộc phá phải đủ 1 tấn thuốc nổ mới đủ mạnh để đánh sập lô cốt địch, nhưng lúc ấy trong kho chỉ còn có 500kg. Lúc đó, đồng chí Nguyễn Văn Bạch đang đào hầm ngầm cùng đồng đội thì chỉ huy giao cho nhiệm vụ dẫn 3 chiến sĩ có kinh nghiệm bí mật di chuyển đến chiếc máy bay B24 của địch bị ta bắn rơi gần Bản Kéo để tháo gỡ 5 quả bom trong máy bay chưa nổ, lấy được gần 500kg thuốc nổ. Sau đó, Nguyễn Văn Bạch cùng 3 chiến sĩ lại về đồi A1 tiếp tục đào hầm ngầm cho kịp kế hoạch tác chiến đã định.

Ngày 5-5, đường hầm ngầm hoàn thành cũng là lúc khối bộc phá đã chuẩn bị xong với 5 nụ xòe để bảo đảm chỉ cần điểm hỏa một lần cả khối bộc phá sẽ đồng loạt phát nổ. Đồng chí Nguyễn Văn Bạch được Đại đội trưởng Nguyễn Phú Xuyên Khung giao cho nhiệm vụ quan trọng, là điểm hỏa khối bộc phá nặng 960kg - đây là quả bộc phá lớn nhất của Quân ta dùng trong thời kỳ đánh thực dân Pháp.
Ngày 6-5-1954, theo hợp đồng tác chiến, lúc nào pháo binh ta bắn dồn dập lên đồi A1 chính là lệnh cho đồng chí Nguyễn Văn Bạch giật nụ xòe bộc phá, mệnh lệnh được thực hiện vào lúc 20 giờ 30 phút. Giật nụ xòe bộc phá xong, đồng chí Bạch chạy trong giao thông hào về nơi an toàn, chạy được một đoạn ngắn thì khối bộc phá đã nổ làm rung chuyển đất trời Mường Thanh. Cột khói bốc cao ngùn ngụt, màu đen ngòm. Nhìn lên đồi, đồng chí Nguyễn Văn Bạch đã thấy bộ đội ta trong chiến hào từ các hướng ào ạt xông lên chiếm đồi A1. Về đến đơn vị, đồng chí Nguyễn Văn Bạch được cán bộ, chiến sĩ Đại đội Công binh M83 đón mừng như một người mới cải tử hoàn sinh trở lại nhà.

Với thành tích nổi bật trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Văn Bạch được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ngày 23-2-2010, đồng chí Nguyễn Văn Bạch được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân

Address

2/300 Tân Thới Nhì 14 Xã Xuân Thới Sơn
Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi Đoàn ấp 70 - xã Xuân Thới Sơn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category