29/07/2026
BỨC TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ BẰNG ĐÁ NGỌC
TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG GỢI MỞ NGHIÊN CỨU
Trong kho tàng hiện vật Phật giáo hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, bức tượng Phật A Di Đà bằng đá ngọc mang số kiểm kê BTLS.984 là một hiện vật đặc biệt cả về chất liệu, kỹ thuật chế tác lẫn giá trị biểu tượng tôn giáo. Tác phẩm thuộc bộ sưu tập ngọc khí nổi tiếng của Victor Thomas Holbe (1857–1927) và được xác định có niên đại vào khoảng thế kỷ XVI, thời Minh (Trung Quốc). Không chỉ phản ánh trình độ chế tác ngọc đỉnh cao của nghệ nhân Trung Hoa, hiện vật còn là tư liệu quan trọng góp phần nghiên cứu quá trình phát triển của nghệ thuật Phật giáo Đông Á.
Theo hồ sơ lưu trữ tại Bảo tàng, tượng được chế tác từ đá ngọc nguyên khối màu trắng ngà, cao 28 cm. Hình tượng Phật đứng trên tòa sen bằng ngọc xanh lục đậm, phía sau là tán hào quang chạm lộng tinh xảo có thể tháo rời. Tổng thể tác phẩm cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa hai gam màu trắng ngà và xanh lục, tạo nên hiệu quả thẩm mỹ trang nhã, đồng thời làm nổi bật tính chất linh thiêng của hình tượng Phật giáo. Chất liệu ngọc có độ trong vừa phải cùng các vân tự nhiên càng gia tăng giá trị nghệ thuật và tính độc bản của hiện vật.
Xét về tạo hình, tượng thể hiện đầy đủ những đặc điểm biểu tượng của Phật A Di Đà trong nghệ thuật Đại thừa. Khuôn mặt đầy đặn, ánh mắt khép hờ, thần thái trầm mặc, thùy tai dài, urna nổi rõ giữa trán và usnisa tạo khối lớn đều phản ánh quan niệm thẩm mỹ Phật giáo về vẻ đẹp siêu việt của bậc giác ngộ. Đặc biệt, khuôn mặt cân đối với hai gò má đầy đặn có thể liên hệ với hệ thống Bát Thập Tùy Hảo – tám mươi vẻ đẹp của Đức Phật được ghi nhận trong kinh điển Phật giáo, qua đó cho thấy nghệ nhân không chỉ chú trọng kỹ thuật điêu khắc mà còn am hiểu sâu sắc biểu tượng học tôn giáo.
Một trong những giá trị nổi bật của hiện vật nằm ở trình độ chế tác ngọc đạt đến độ tinh xảo cao. Các kỹ thuật mài giũa, chạm khắc chìm, đánh bóng và tạo khối được vận dụng linh hoạt, đặc biệt thể hiện rõ qua những nếp áo mềm mại, sống động như đang chuyển động theo cơ thể. Hệ thống hoa văn sóng nước, hoa sen và chữ “壽” (Thọ) được khắc trực tiếp trên y phục cho thấy sự kết hợp giữa mỹ thuật cung đình, nghệ thuật trang trí ngọc khí và tư tưởng Phật giáo. Điều này phản ánh đặc trưng của nghề chế tác ngọc thời Minh – giai đoạn được xem là thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật ngọc Trung Hoa, với trung tâm chế tác nổi tiếng nhất là Tô Châu.
Dưới góc độ biểu tượng học, tư thế đứng của tượng mang nhiều ý nghĩa đáng chú ý. Trong nghệ thuật Phật giáo Trung Hoa, Phật A Di Đà ở tư thế đứng thường được gọi là Tiếp Dẫn Phật (Jieyin Fo), biểu thị vai trò tiếp dẫn chúng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của tượng BTLS.984 là đôi tay được thể hiện trong thế hợp chưởng ấn (Anjali mudra), tạo hình như một nụ sen khép hờ. Đây là thủ ấn khá hiếm gặp đối với hình tượng A Di Đà, gợi mở khả năng tồn tại những ảnh hưởng nhất định của tư tưởng Mật tông trong quá trình tạo tác. Chính yếu tố này làm tăng giá trị nghiên cứu của hiện vật, bởi nó phản ánh sự giao thoa giữa các truyền thống Phật giáo khác nhau trong không gian văn hóa Đông Á.
Tán hào quang phía sau tượng cũng là một chi tiết đáng lưu ý. Hình dáng cong nhẹ về phía trước có nhiều điểm tương đồng với các hình tượng Phật giáo thời Bắc Ngụy ở Trung Hoa và một số tượng Phật A Di Đà tại Nhật Bản. Đặc biệt hơn, phần đỉnh tán được chạm nổi hình tháp nhiều tầng (stupa) đặt trên một đóa sen – mô típ vốn ít xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình của Phật A Di Đà. Chi tiết này có thể phản ánh sự tiếp biến biểu tượng giữa các hệ thống tín ngưỡng hoặc là sự sáng tạo mang tính cá nhân của nghệ nhân, mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về nguồn gốc tạo hình và môi trường văn hóa của tác phẩm.
Chữ “壽” (Thọ) xuất hiện trên tay áo bên phải được khắc theo thể Triện dạng khối tròn, không chỉ mang ý nghĩa cầu chúc trường thọ trong văn hóa Á Đông mà còn có thể được hiểu trong mối liên hệ với danh hiệu “Vô Lượng Thọ” của Phật A Di Đà. Trong giáo lý Tịnh độ, tuổi thọ của Đức Phật và chúng sinh nơi cõi Cực Lạc đều vô lượng, vượt ngoài giới hạn của sinh tử. Vì vậy, sự hiện diện của chữ Thọ trên tượng có thể là sự kết hợp giữa ý nghĩa tôn giáo và quan niệm chúc thọ thế tục, thậm chí không loại trừ khả năng tác phẩm từng được chế tác như một lễ vật mừng thọ dành cho tầng lớp quý tộc hoặc giới tinh hoa đương thời.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng bức tượng Phật A Di Đà bằng đá ngọc tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là một tác phẩm mỹ thuật có giá trị cao mà còn là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, biểu tượng học Phật giáo, kỹ thuật chế tác ngọc và sự giao lưu văn hóa Đông Á. Việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hiện vật, đặc biệt thông qua đối sánh với các tượng Phật thời Minh và các bộ sưu tập ngọc Phật giáo khu vực, sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn niên đại, nguồn gốc cũng như vị trí của tác phẩm trong lịch sử nghệ thuật Phật giáo châu Á.
Tài liệu tham khảo
1. Đoàn Trung Còn (2005). Phật học từ điển (Tập 1,2,3), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Louis Frederic (2005), Tranh tượng và thần phổ Phật giáo. Nhà xuất bản Mĩ Thuật.
3. Nguyễn Khắc Xuân Thi (2017), Về hai tượng Phật A Di Đà Nhật Bản tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2017, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.576 – 578.
4. Nguyễn Tuệ Chân (2008), Toàn Tập Giải Thích Các Thủ Ấn Phật Giáo. Nhà xuất bản Tôn Giáo.
5. Trương Đăng Bảo (2004) Giải thích về tranh tượng Phật giáo Trung Quốc. Nhà xuất bản Thuận Hóa.
6. Vu Minh (2013), Ngọc khí Trung Quốc. Nhà xuất bản Tổng hợpThành phố Hồ Chí Minh.