05/11/2025
ĐÀI THỜ THIÊN HẬU THÁNH MẪU
TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đoàn viên: Nguyễn Văn Ngọc
Thiên Hậu Thánh Mẫu (chữ Hán: 天后聖母) hay bà Thiên Hậu, còn gọi là Ma Tổ (媽祖), Mẫu Tổ (母祖), hay Thiên Thượng Thánh Mẫu (天上聖母) hoặc Thiên Hậu Nguyên quân (天后元君); là một vị thần quan trọng trong tín ngưỡng của người Trung Hoa và người Việt gốc Hoa.
Bà được xem như vị thần bảo trợ của ngư phủ và người đi biển, được tôn kính đặc biệt cả trong Phật giáo và Đạo giáo ở các quốc gia Đông Á, và nhất là tại Đài Loan. Ngày tưởng niệm bà là ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm.
Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh đang lưu giữ nhiều hiện vật liên quan đến chủ đề về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó, Đài thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu là hiện vật đang được trưng bày tại phòng chuyên đề cố định “Văn hóa các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam” thể hiện được ước mong, niềm tin tín ngưỡng của người Hoa kiều xa xứ và được đặt trang trọng ở trung tâm nơi thờ cúng bà Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Theo học giả Vương Hồng Sển thì bà có tên là Lâm Mặc Nương, người gốc ở đảo Mi Châu, Bồ Dương, Phúc Kiến. Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044), đời vua Tống Nhân Tông. Mẹ của bà phải mang thai 14 tháng mới hạ sinh. Sau đó, 8 tuổi bà biết đọc, 11 tuổi bà tu theo Phật giáo. 13 tuổi, bà thọ lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập đắc đạo, bà còn xem thiên văn trên biển cho ngư dân đảo Mi Châu.
Một lần, cha bà tên Lâm Nguyện ngồi thuyền cùng hai anh trai (anh của bà), chở muối đi bán tỉnh Giang Tây, giữa đường thuyền lâm bão lớn... Lúc đó bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ và trong lúc ngủ đã xuất thần để đi cứu cha và hai anh. Bà dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm hai anh, giữa lúc đó mẹ gọi bà thức giấc, bà vừa hở môi trả lời thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh. Từ đó, mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị nạn người ta đều gọi vái đến bà. Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu".
Được làm với chất liệu gỗ sơn thếp vàng có niên tại từ thế kỷ XIX, vì trải qua thời gian nên bức chạm không còn giữ được lớp thếp vàng nguyên vẹn, nhưng những đường nét chạm khắc còn khá nguyên vẹn, chi tiết.
Đài thờ Bà (kích thước cao: 28,5, đế: 36cm) có kết cấu nhiều tầng gồm: chân đài, thân đài và phần trên đỡ tượng có dáng hình bát giác thể hiện sự cân đối, viên mãn và vũ trụ quan âm dương tương hợp.
Chân đài trang trí hoa văn mây cuộn và được chạm khắc hình ảnh của con dơi, từ dơi trong tiếng Hán được hiểu đồng âm với từ “Phúc” trong “Phúc Lộc”. Các trụ đỡ được chạm hình thú có tác dụng trừ tà, trấn giữ.
Thân đài (tầng giữa) được nhấn điểm chạm nổi từng ô với cảnh sinh hoạt và nghi lễ cùng nhiều nhân vật (quan lại, người hầu, nhạc công…), tư thế triều bái, chúc thọ, là ẩn dụ cộng đồng kính lễ, Quốc thái dân an, thuận buồm xuôi gió (Bà hộ độ ngư dân, thương thuyền). Xen giữa là hình ảnhyếm chạm lộng mây, hoa lá, dây lá hoá long tạo cảm giác nhẹ nhàng, uyển chuyển tượng trưng cho sự sinh sôi và trường tồn. Là biểu thị cho sự kết nối giữa trời và đất.
Phần khung viền trên là hoạ tiết hồi văn (vân chữ vạn, vân triện) biểu trưng cho trật tự vũ trụ, sự bền vững, trường tồn cùng các dải đối xứng thể hiện sự trang nghiêm.
Toàn bộ tổng thể hiện vật là một hình ảnh vũ trụ thu nhỏ với sự liên kết của Thiên – Địa – Nhân trong tín ngưỡng thờ cúng. Đây không chỉ là một hiện vật tôn giáo mà còn là một tác phẩm nghệ thuật dân gian đặc sắc, phản ánh tín ngưỡng, thẩm mỹ và bản sắc cộng đồng người Hoa ở Nam bộ. Do nghệ nhân người Hoa tại Chợ Lớn tạo tác phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng cộng đồng.
Hiện nay, đài thờ Bà đang được bảo quản, trưng bày trang trọng trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh với số kiểm kê BTLS.14399 để giới thiệu nét văn hóa đặc sắc và quá trình di cư, hội nhập văn hoá lâu dài trong tín ngưỡng của người Hoa ở Việt Nam.
Tư liệu tham khảo:
Sách bàn Xâm Bà – Nguyễn Bá Thời
https://vi.wikipedia.org/wiki/Thiên_Hậu_Thánh_Mẫu
Tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu ở Cà Mau – Phạm Văn Tú