30/07/2026
NHÀ NƯỚC PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VÌ HỦY HOẠI CỘNG ĐỒNG ĐANG SỐNG BÌNH YÊN
Đến khi bị mất đất mới biết mình yêu ngôi làng này đến nhường nào. Ngày trước chẳng ai nghĩ nhiều về những điều rất bình thường. Sáng mở cửa là gặp người quen. Chiều sang nhà nhau uống chén nước. Nhà nào có việc thì cả xóm cùng đến. Trẻ con chạy hết ngõ này sang ngõ khác, ai cũng biết con nhà ai. Người già đi bộ ra đình, ra chùa, ghé nhà thờ, gặp nhau thì đứng nói vài câu chuyện cũ. Đến ngày giỗ họ, con cháu dù đi làm ăn xa cũng cố trở về. Cuộc sống cứ thế trôi qua, bình yên đến mức chẳng ai nghĩ sẽ có ngày tất cả chỉ còn là ký ức.
Bây giờ gặp nhau, câu đầu tiên không còn là hỏi mùa màng hay sức khỏe nữa. Bà con hỏi đã tìm được chỗ ở chưa, con đã chuyển trường chưa, ông bà có chịu đi không, bao giờ phải dọn, bao giờ bàn giao đất. Nghe chỉ là vài câu hỏi, nhưng ai cũng hiểu phía sau đó là nỗi lo của cả một gia đình. Không ai biết vài tháng nữa mình sẽ sống ra sao. Không ai biết rồi những người hàng xóm mấy chục năm gắn bó có còn ở gần nhau nữa không. Cũng không ai biết cái làng mình đã sống cả đời rồi sẽ còn lại những gì.
Có người nói, ở đâu rồi cũng sống được. Nghe thì đúng. Con người vốn có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh. Nhưng có ai chỉ giúp được cách mang theo cả một ngôi làng không? Mang theo những người hàng xóm đã sống với nhau nửa đời người. Mang theo tiếng chuông nhà thờ mỗi chiều, tiếng mõ chùa ngày rằm, cây đa đầu làng, con đường đất mà bao thế hệ đã đi qua. Mang theo những ngày lễ hội, ngày giỗ họ, những ngôi mộ của cha ông, những ký ức mà cứ nhắm mắt lại là nhớ. Những thứ ấy đâu thể đóng lên xe tải rồi chở đi như bàn ghế hay tủ giường.
Cảm giác đau và thất vọng cứ dâng trào nhìn đống đổ nát, nhìn sự ly tán. Từ ngày mỗi nhà mỗi ngả, sẽ chẳng còn ai bước sang gọi nhau uống chén trà như trước. Sẽ chẳng còn cảnh trẻ con chạy sang gọi nhau đi chơi. Sẽ chẳng còn những bữa cơm có người hàng xóm mang sang bát canh khi nhà bên cạnh có việc. Sẽ chẳng còn cảm giác chỉ cần bước ra khỏi cửa là gặp đúng những con người đã cùng mình đi gần hết một đời. Có những thứ mất đi rất lặng lẽ. Mỗi ngày một ít. Đến lúc ngoảnh lại mới nhận ra cái làng mình từng sống đã không còn nữa.
Điều làm người ta chạnh lòng là những mất mát ấy dường như không mấy khi được nhắc đến. Người ta nói bao nhiêu héc-ta đất đã thu hồi, bao nhiêu hộ phải di dời, bao nhiêu tiền bồi thường, bao giờ khởi công, bao giờ hoàn thành. Nhưng mấy ai hỏi sẽ có bao nhiêu người già phải sống hết quãng đời còn lại trong nỗi nhớ quê, bao nhiêu đứa trẻ sẽ lớn lên mà không còn biết ngôi làng của cha mẹ mình từng như thế nào, bao nhiêu dòng họ sẽ không còn đông đủ mỗi dịp giỗ tết, bao nhiêu cộng đồng sẽ không bao giờ còn nguyên vẹn như trước. Có lẽ vì những điều ấy không thể đếm được bằng những con số, nên chúng rất dễ bị bỏ quên.
Cộng đồng không tự nhiên mà có. Ông bà để lại. Cha mẹ gìn giữ. Con cháu lớn lên trong đó. Có khi phải mất hàng trăm năm mới tạo nên được một ngôi làng với những con người biết yêu thương nhau, biết giúp đỡ nhau, biết cùng gìn giữ ký ức và truyền thống của mình. Nhưng để một cộng đồng bắt đầu tan rã thì lại chỉ cần rất ít thời gian. Đến một ngày nào đó, mọi người vẫn nhận ra nhau, vẫn gọi đúng cái tên cũ, nhưng không còn sống cùng một làng nữa. Từ đó, cuộc sống sẽ không bao giờ trở lại như trước.
Cũng vì thế, đây không còn chỉ là câu chuyện của từng gia đình. Khi một quyết định của Nhà nước làm tan rã một cộng đồng đang sống bình yên, thì đó không còn là nỗi buồn riêng của những người phải rời đi.
Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Bởi Nhà nước không chỉ thu hồi đất. Nhà nước đã làm thay đổi số phận của cả một cộng đồng. Và khi một cộng đồng bị hủy hoại bởi một quyết định công, thì Nhà nước không thể quay lưng để những con người còn ở lại tự nhặt nhạnh từng mảnh đời, từng mảnh ký ức và từng mảnh cộng đồng của chính mình.