WildAct

WildAct A Vietnamese organisation with a vision of Empowering people, Protecting wildlife, Saving planet. www.wildact-vn.org

Chúng tôi là một tổ chức phi lợi nhuận bảo tồn địa phương có trụ sở tại Việt Nam, được thành lập vào năm 2015. Mục tiêu của chúng tôi là:

- Bảo tồn các loài và hệ sinh thái bị đe dọa dựa trên cơ sở khoa học;

- Cung cấp chương trình giáo dục bảo tồn và xây dựng năng lực địa phương cho giới trẻ Việt Nam ở cả nông thôn và thành phố trên cả nước;

- Thay đổi tư duy của người Việt Nam thông qua các bằng chứng khoa học và kế sinh nhai của người dân địa phương;

- Hợp tác với các tổ chức bảo tồn và các bên liên quan khác để giải quyết các vấn đề bảo tồn tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

[ENG Below] Khi sự xa xỉ của thời trang được đánh đổi bằng mạng sống của động vật hoang dã Trong ngành thời trang, da và...
26/09/2026

[ENG Below] Khi sự xa xỉ của thời trang được đánh đổi bằng mạng sống của động vật hoang dã

Trong ngành thời trang, da và lông động vật đã trở thành những chất liệu có giá trị thương mại cao, từ cá sấu, trăn, kỳ đà đến cáo và nhiều loài khác. Những chiếc túi Birkin làm từ da cá sấu bạch tạng thậm chí được bán với giá gần 10 tỷ đồng. Thế nhưng, đằng sau những tấm da với họa tiết độc đáo được săn đón mà nhiều người tưởng là từ nguồn nuôi hợp pháp, lại thấm m.áu của động vật hoang dã.

Riêng với da bò sát, một nghiên cứu mới đây ghi nhận hơn 71,7 triệu bộ da bò sát được giao dịch giai đoạn 2000 - 2020; trong đó khoảng 45,5% được báo cáo là khai thác từ tự nhiên - tương đương hơn 32 triệu bộ da. Các nghiên cứu của IUCN cho thấy Việt Nam là một trong những nguồn cung chính của da trăn tại Đông Nam Á, đồng thời phát hiện nhiều cá thể bị bắt từ tự nhiên được “hợp thức hóa” dưới danh nghĩa nuôi nhốt.

Bên cạnh da bò sát, lông thú cũng là chất liệu được ưa chuộng. Với những loài đã được nuôi thương mại như chồn, nguồn cung có thể tới từ các trang trại hợp pháp. Tuy nhiên, thị trường thời trang biến động mạnh nhiều năm gần đây khiến việc nuôi các loài cho lông trở thành một ngành kinh doanh nhiều rủi ro. Vì thế, người ta vẫn tăng cường săn bắt từ tự nhiên do chẳng cần mấy vốn đầu tư. Nhu cầu khăn, áo, mũ lông càng lớn thì càng thúc đẩy các giao dịch động vật hoang dã.

Thực tế, thậm chí động vật có đến từ nguồn nuôi đi chăng nữa, thì cách con vật ấy bị tàn sát để trở thành một món đồ thời trang vẫn khủng khiếp và đầy ám ảnh. Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH) xếp lột da hoặc moi nội tạng khi con vật còn sống vào nhóm phương pháp g.i.ết không thể chấp nhận về mặt phúc lợi nhưng vẫn tồn tại trong thực tế.

Thay vì chạy theo những món đồ từ da, lông thú thật chỉ vì chúng “hiếm”, “độc” hay “sang”, chúng ta hoàn toàn có thể lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc phi động vật - mẫu mã vẫn đủ đa dạng với công năng tuyệt vời và độ bền cao. Chúng ta có thể không cần một chiếc túi làm từ da trăn hay cá sấu để sống, nhưng tự nhiên cần các loài động vật ấy phát triển bền vững để tồn tại.

**gvathoangda

____

When Fashion’s Luxury Comes at the Cost of Wildlife

In the fashion industry, animal skins and fur have become highly valuable commercial materials, sourced from crocodiles, pythons, monitor lizards, foxes and many other species. Birkin bags made from albino crocodile skin can even be sold for nearly VND 10 billion. Yet behind the distinctive patterns and textures that consumers often seek out and may assume come from legal captive-breeding operations lies the blood of wild animals.

For reptile skins alone, a recent study recorded more than 71.7 million reptile skins traded between 2000 and 2020. Around 45.5% were reported to have been sourced from the wild — equivalent to more than 32 million skins. IUCN research has identified Vietnam as one of the major sources of python skins in Southeast Asia, while also documenting cases in which wild-caught animals were “laundered” into the legal trade under the guise of captive breeding.

Beyond reptile skins, fur remains a sought-after fashion material. For commercially farmed species such as mink, supplies may come from legal fur farms. However, the fashion market’s volatility in recent years has made fur farming an increasingly risky business. This can create incentives to turn to wild-caught animals, which require far less investment. As demand for fur scarves, coats and hats grows, so too can the pressure on wildlife populations and the illegal wildlife trade.

In reality, even when animals come from captive sources, the way they are killed to become fashion products can still be brutal and deeply disturbing. The World Organisation for Animal Health (WOAH) classifies methods such as skinning or removing the internal organs of animals while they are still alive among practices that are unacceptable from an animal-welfare perspective — yet they continue to occur in reality.

Instead of pursuing products made from real animal skins and fur simply because they are considered “rare,” “unique” or “luxurious,” we can choose animal-free alternatives. Today, these products come in a wide range of designs, functions and levels of durability. We may not need a bag made from python or crocodile skin to live, but nature needs these animals to thrive and survive in the wild.

[ENG below] NGÀNH BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC CHÍNH THỨC ĐƯỢC BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẤP MÃ NGÀNH  Sau nhiều...
25/09/2026

[ENG below] NGÀNH BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC CHÍNH THỨC ĐƯỢC BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẤP MÃ NGÀNH

Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu, trao đổi và làm việc cùng các đối tác, WildAct vui mừng thông báo: ngành Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học chính thức được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp mã ngành 440306, thuộc nhóm ngành Khoa học môi trường, lĩnh vực Khoa học tự nhiên.

Trong nhiều năm qua, do Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học chưa có mã ngành riêng, nhiều bạn trẻ muốn học và nghiên cứu chuyên sâu về bảo tồn phải tiếp cận lĩnh vực này thông qua những ngành học khác hoặc các hướng đào tạo liên quan. Điều đó khiến việc phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu thực tiễn gặp không ít hạn chế.

Vì vậy, việc chính thức được cấp mã ngành 440306 là một dấu mốc lớn. Đây là cơ sở để ngành sắp tới được tổ chức đào tạo chính thức trong hệ thống giáo dục đại học, từ xây dựng chương trình, tuyển sinh, đào tạo và kiểm định chất lượng đến cấp và quản lý văn bằng theo quy định.

Giờ đây, một bạn trẻ yêu thiên nhiên đã có thể theo đuổi con đường học tập và nghề nghiệp với một chương trình đào tạo được xây dựng riêng và một lộ trình chuyên môn rõ ràng hơn. Nhân lực bảo tồn tương lai sẽ được chuẩn bị không chỉ về kiến thức khoa học, mà còn về tư duy liên ngành và những kỹ năng cần thiết để giải quyết các vấn đề bảo tồn trong thực tiễn Việt Nam.

WildAct xin chúc mừng và trân trọng cảm ơn Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội vì những nỗ lực, tâm huyết và sự đồng hành trong quá trình đưa ngành học này trở thành một phần chính thức của hệ thống đào tạo đại học. WildAct xin trân trọng cảm ơn Conservation Vietnam đã tin tưởng lựa chọn đồng hành và hỗ trợ nguồn lực quý báu cho hành trình này.

Trong thời gian tới, WildAct sẽ tiếp tục đồng hành cùng Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội để trao đổi về nội dung, định hướng và nhu cầu thực tiễn, hướng tới xây dựng chương trình đào tạo ngành Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học phù hợp với bối cảnh Việt Nam.


—
NATURE CONSERVATION AND BIODIVERSITY OFFICIALLY RECEIVES AN ACADEMIC PROGRAMME CODE FROM THE MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

After years of research, consultation and collaboration with our partners, WildAct is pleased to announce that Nature Conservation and Biodiversity has officially been assigned academic programme code 440306 by the Ministry of Education and Training, under the Environmental Sciences group within the field of Natural Sciences.

For many years, because Nature Conservation and Biodiversity did not have its own academic programme code, young people seeking to pursue in-depth study and research in conservation often had to approach the field through other disciplines or related training programmes. This created significant limitations in developing a skilled workforce that could meet the practical needs of the conservation sector.

The official assignment of programme code 440306 therefore marks an important milestone. It provides the foundation for the programme to be formally incorporated into the higher education system, covering curriculum development, student admissions, training and quality accreditation, as well as the issuance and administration of academic qualifications in accordance with regulations.

Young people passionate about nature can now have a clearer pathway to pursue their studies and careers through a dedicated academic programme and a more defined professional trajectory. Future conservation professionals will be equipped not only with scientific knowledge, but also with interdisciplinary thinking and the practical skills needed to address conservation challenges in Viet Nam.

WildAct would like to extend our warmest congratulations and sincere thanks to the VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi and the Institute of Natural Resources and Environment, Vietnam National University, Hanoi for their dedication, commitment and collaboration in making this academic programme an official part of the higher education system. We would also like to express our sincere gratitude to Conservation Vietnam for placing its trust in this initiative and providing invaluable support and resources throughout this journey.

Moving forward, WildAct will continue working closely with the Faculty of Environmental Sciences, VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi, and the Institute of Natural Resources and Environment, Vietnam National University, Hanoi to exchange knowledge on curriculum content, strategic direction and practical needs, with the goal of developing a Nature Conservation and Biodiversity programme that is relevant to the Vietnamese context.

[ENG Below] Không được kiểm soát đất đai trong bối cảnh thiên tai và suy thoái thiên nhiên, phụ nữ dễ hứng chịu bạo lực....
24/09/2026

[ENG Below] Không được kiểm soát đất đai trong bối cảnh thiên tai và suy thoái thiên nhiên, phụ nữ dễ hứng chịu bạo lực.

Khi thiên tai ập đến hay nguồn tài nguyên khan hiếm, phụ nữ ở các khu vực gần rừng thường phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” - hai nguy cơ song song tồn tại. Thứ dễ nhìn thấy là khó khăn trong việc duy trì cuộc sống, nhưng điều ít người để ý hơn mà hậu quả cũng kinh khủng không kém là vấn đề bạo lực trên cơ sở giới (GBV). Sự bất bình đẳng về quyền kiểm soát đất đai khiến bạo lực hướng tới phụ nữ có thể trầm trọng hơn.

Theo dữ liệu mới nhất của Tổ chức Lương Thực Thế Giới (FAO), tại 85% quốc gia có dữ liệu, phụ nữ có mức sở hữu hoặc quyền sử dụng đất thấp hơn nam giới. Hiểu đơn giản là phụ nữ vẫn làm kinh tế trên mảnh đất nhà mình, nhưng không có quyền kiểm soát thu nhập hoặc tài sản sinh ra từ đó. Việc này khiến phụ nữ dễ bị lệ thuộc vào nam giới trong gia đình, chẳng thể đưa ra quyết định để bảo vệ bản thân trước bạo lực. Ví dụ, một người vợ sẽ khó rời khỏi người chồng bạo lực nếu việc đó đồng nghĩa với mất nhà, mất ruộng, mất nguồn thực phẩm và thu nhập. Ngược lại, GBV cũng là công cụ để duy trì khả năng kiểm soát đất đai của đàn ông - khi người chồng ép phụ nữ từ bỏ quyền được sở hữu tài sản chính đáng, cấm họ lên tiếng để bảo vệ bản thân.

Quyền kiểm soát đất đai nằm trong tay người khác còn gây ra những trường hợp phụ nữ phải dùng chính cơ thể mình để trao đổi. Tại Sierra Leone - một quốc gia Tây Phi, 8% phụ nữ được khảo sát cho biết họ từng bị yêu cầu dùng t.ì.nh d.ụ.c để giải quyết một vấn đề về đất, hoặc biết người từng gặp tình trạng này.

Bảo tồn thiên nhiên không chỉ là bảo vệ rừng khỏi suy thoái, mà còn góp phần làm giảm những nguy cơ dẫn đến bạo lực giới, trong bối cảnh nhiều phụ nữ đang chưa được hưởng quyền sở hữu tài sản - nhất là đất đai - ngang bằng với nam giới. Vì vậy, việc tạo nguồn sinh kế cho phụ nữ ở các cộng đồng sống gắn bó với thiên nhiên là đặc biệt cần thiết để đảm bảo hạn chế các vấn đề xã hội khác phan sinh, đặc biệt là bạo lực.



___

When women lack control over land amid disasters and environmental degradation, they face greater risks of violence.

When disasters strike or natural resources become scarce, women living in forest-dependent communities can find themselves facing a “double burden” — two risks unfolding at the same time. The most visible is the struggle to maintain their livelihoods. But less visible, and no less devastating, is the risk of gender-based violence (GBV). Inequality in land rights and control can further increase women’s vulnerability to violence.

According to the latest data from the Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO), in 85% of countries with available data, women have lower levels of ownership or secure rights to agricultural land than men. In simple terms, women may still work and generate income from the land their families depend on, without having equal control over the income or assets it produces. This can increase women’s economic dependence on men and limit their ability to make decisions to protect themselves from violence. For example, it can be much harder for a woman to leave an abusive partner if doing so means losing her home, farmland, food security and source of income. At the same time, GBV can also be used as a tool to maintain men’s control over land, including through pressuring women to give up their legitimate property rights or silencing them when they speak up for themselves.

When control over land is held by someone else, women can even be placed in situations where they are forced to use their own bodies as a means of exchange. In Sierra Leone, a West African country, 8% of surveyed women reported that they had been asked to provide s*x to resolve a land-related issue, or knew someone who had experienced this.

Nature conservation is not only about preventing forest degradation. It can also contribute to reducing some of the vulnerabilities that expose women to violence, particularly in communities where women still do not enjoy equal property rights, especially over land. Creating secure and sustainable livelihood opportunities for women in nature-dependent communities is therefore essential, not only for conservation, but also for reducing the social risks that can emerge alongside environmental and economic insecurity, including GBV.

[ENG below] Mầm Non Của Rừng 2026 kết thúc với sự ủng hộ của gần 200 mạnh thường quân.Ngày 19/09 vừa qua, sự kiện “Mầm N...
23/09/2026

[ENG below] Mầm Non Của Rừng 2026 kết thúc với sự ủng hộ của gần 200 mạnh thường quân.

Ngày 19/09 vừa qua, sự kiện “Mầm Non của Rừng 2026” do WildAct và Vườn quốc gia Chư Yang Sin phối hợp tổ chức đã diễn ra trong không khí ấm áp và đầy cảm xúc, khép lại một mùa gây quỹ hỗ trợ hành trình học tập của các em nhỏ với nhiều dấu ấn ý nghĩa.

Khoảnh khắc các em nhỏ bước lên nhận học bổng mang theo niềm vui của các em và cả niềm tự hào của những người cha, người mẹ đang ngày ngày làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Những phần quà Trung thu được trao đi, đổi lại là những ánh mắt háo hức và những nụ cười rạng rỡ. Trong tiếng trống múa lân, tiếng cười và những mâm cỗ đoàn viên, các gia đình đã có một buổi tối thật đặc biệt, tạm gác lại những nhọc nhằn để cùng nhau tận hưởng niềm vui của con trẻ.

Năm nay, Quỹ Thiện Tâm, Orgalife, Biti’s, Vietcoco, Starbucks cùng 138 tấm lòng hảo tâm từ cộng đồng đã cùng chung tay mang đến những hỗ trợ thiết thực cho các gia đình lực lượng bảo vệ rừng. Nhờ đó, 37 suất học bổng (gấp gần 3 lần so với năm 2025) và 550 phần quà đã được trao tặng tới con em lực lượng bảo vệ rừng và Đội Cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng, góp thêm hành trang để các em tự tin bước vào năm học mới.

WildAct xin trân trọng cảm ơn Vườn quốc gia Chư Yang Sin đã tin tưởng và đồng hành cùng WildAct trong hành trình thực hiện “Mầm Non của Rừng”. WildAct cũng xin cảm ơn các Quý nhà tài trợ, các cá nhân và tất cả những tấm lòng đã chung tay để mùa “Mầm Non của Rừng” mùa 3 có thể diễn ra thật trọn vẹn.

Sự sẻ chia của bạn đã mang đến cho các em nhỏ một mùa Trung thu ấm áp hơn, tiếp thêm hành trang để các em vững bước đến trường và gửi lời động viên tới những gia đình đang ngày ngày gìn giữ Chư Yang Sin.


–
Forest Seedlings 2026 Comes to a Close with Support from Nearly 200 Donors

On 19 September, the “Forest Seedlings 2026” event, jointly organised by WildAct and Chư Yang Sin National Park, took place in a warm and deeply moving atmosphere, bringing this year’s fundraising campaign to a close with many meaningful moments in support of children’s education.

As the children stepped forward to receive their scholarships, their joy was accompanied by the pride of the parents who work tirelessly to protect the forest every day. The Mid-Autumn Festival gifts were met with eager eyes and beaming smiles. Amid the sound of lion dances, laughter and traditional reunion feasts, families enjoyed a truly special evening, putting aside the hardships of daily life for a while to share in the joy of their children.

This year, Quỹ Thiện Tâm, Orgalife, Biti’s, Vietcoco and Starbucks, together with 138 generous individuals from the community, joined hands to provide practical support to families of forest protection personnel. Thanks to this collective support, 37 scholarships, nearly three times as many as in 2025, and 550 gift packages were presented to the children of forest protection personnel and members of the Community Forest Protection Patrol Team. These gifts will help equip the children with greater confidence as they begin the new school year.

WildAct would like to express our sincere gratitude to Chư Yang Sin National Park for its trust and partnership throughout the “Forest Seedlings” journey. We would also like to thank our valued sponsors, individual supporters and everyone who contributed to making the third season of “Sprouts of the Forest” a meaningful and memorable one.

Your generosity has brought the children a warmer Mid-Autumn Festival, given them greater support as they continue their journey at school, and offered encouragement to the families who work tirelessly every day to protect Chư Yang Sin.

[ENG below] “Không đi vườn thú TTTM để xem và học về động vật thì chả lẽ phải lên rừng hay sang tận châu Phi à?”  Đây là...
22/09/2026

[ENG below] “Không đi vườn thú TTTM để xem và học về động vật thì chả lẽ phải lên rừng hay sang tận châu Phi à?”

Đây là phản ánh của một số phụ huynh khi WildAct phê phán việc cho trẻ tới “học kiến thức về động vật” ở vườn thú trong TTTM, cũng như các cơ sở nuôi nhốt không đảm bảo phúc lợi khác. Sự thật là nhiều phụ huynh, giáo viên vẫn đang nhầm tưởng rằng: Để hiểu thế giới động vật, cách tốt nhất chỉ có nhìn thấy chúng trực tiếp - dù chúng bị đặt ở bất kỳ đâu.

Thực ra, trẻ chỉ có thể học về động vật khi chứng kiến cách chúng sống hàng ngày trong môi trường tự nhiên qua bất kỳ phương tiện nào, hoặc ở nơi có chuyên gia chăm sóc phụ trách.

Các em có thể tiếp cận các tư liệu như sách ảnh, phim tài liệu, hoạt hình về thiên nhiên; tới vườn thú/safari đảm bảo phúc lợi động vật, thăm trạm cứu hộ động vật,... Nếu các bé lớn (học cấp II trở lên), phụ huynh hoàn toàn có thể đưa con vào một số vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên/dự trữ sinh quyển mở cửa cho khách tham quan. Những trải nghiệm này vẫn có thể mang đến cho trẻ kiến thức trực quan và khơi gợi sự tò mò về thế giới động vật mà không cần đặt các em vào một mô hình vô giá trị giáo dục như vườn thú trong TTTM.

Song song đó, cũng có ý kiến cho rằng mô hình vườn thú trong TTTM “chẳng làm sao” vì trẻ vẫn vui, nhận thêm trải nghiệm và được gắn kết với nhau. Nhưng nếu mục tiêu chính là tạo ra một không gian để trẻ vui chơi, trải nghiệm và gắn kết, chúng ta nên lựa chọn những hoạt động khác mà không cần đánh đổi bằng phúc lợi của động vật hay những rủi ro nghiêm trọng không đáng có đối với sức khỏe của trẻ.

WildAct vẫn hy vọng mọi người sẽ cùng nhìn nhận vấn đề từ góc độ rộng hơn: lựa chọn một trải nghiệm giáo dục không chỉ là lựa chọn điều gì thú vị cho trẻ, mà còn là lựa chọn những giá trị mà chúng ta muốn các em học được từ trải nghiệm ấy. Và quan trọng hơn, hãy cùng nói không với những mô hình lấy danh nghĩa giáo dục để hợp thức hóa việc khai thác động vật và trục lợi trên sự đau khổ của chúng.


—
“If we don’t take children to shopping-mall zoos to see and learn about animals, are we supposed to take them into the forest or all the way to Africa?”

This is a question raised by some parents in response to WildAct’s criticism of taking children to learn about animals at zoos inside shopping malls, as well as at other facilities where animal welfare is not adequately ensured.
The reality is that many parents and teachers still assume that the best way for children to understand the animal world is simply to see animals in person, regardless of where or how they are being kept.

But children can learn about animals by witnessing how they live in their natural environments through a range of educational resources, or by visiting places where animals are kept and cared for by qualified professionals.
They can explore picture books, wildlife documentaries and nature programmes; visit responsible zoos or safari parks, or animal rescue and rehabilitation centres. For older children, particularly those in secondary school and above, parents can also consider visiting national parks, nature reserves or biosphere reserves that are open to visitors. These experiences can still provide children with first-hand knowledge and spark their curiosity about the natural world, without exposing them to an educational model that offers little genuine educational value, such as a zoo inside a shopping mall.

Some may also argue that shopping-mall zoos are “harmless” because children have fun, gain new experiences and spend time connecting with one another. But if the primary goal is to create a space where children can play, explore and connect, there are many other activities that can achieve this without compromising animal welfare or exposing children to serious and unnecessary health risks.

WildAct hopes we can look at this issue from a broader perspective. Choosing an educational experience is not simply about choosing something that children will find interesting or enjoyable. It is also about choosing the values we want them to take away from that experience.

Most importantly, let us say no to models that use the language of education to legitimise animal exploitation and profit from their suffering.

[ENG Below] Sơ cứu động vật mắc bẫy, bị thương sao cho an toàn? Đó chính là câu hỏi được trả lời trong tập huấn: Huấn lu...
21/09/2026

[ENG Below] Sơ cứu động vật mắc bẫy, bị thương sao cho an toàn?

Đó chính là câu hỏi được trả lời trong tập huấn: Huấn luyện Sơ cứu cho Động vật Hoang dã được WildAct phối hợp tổ chức với VQG Chư Yang Sin vào cuối tháng 8 vừa qua. Sự kiện có sự tham gia của 40 cán bộ Kiểm lâm và cán bộ chuyên trách tại Vườn.

Trong công tác tuần tra, không ít cán bộ từng bắt gặp động vật hoang dã bị thương hoặc mắc bẫy. Phản ứng đầu tiên thường là nhanh chóng gỡ bẫy và thả động vật trở lại tự nhiên. Tuy nhiên, việc tái thả ngay không phải lúc nào cũng là lựa chọn an toàn. Trước khi quyết định, cán bộ cần đánh giá tình trạng của động vật, mức độ tổn thương, các rủi ro tại hiện trường và khả năng sống sót sau khi được thả.

Thông qua tập huấn, các học viên được thực hành những kỹ năng cần thiết như đánh giá hiện trường và tình trạng động vật; tiếp cận, khống chế động vật an toàn; tháo gỡ bẫy; cầm máu và xử lý vết thương; sử dụng trang thiết bị bảo hộ. Bên cạnh đó, cán bộ cũng được học về cách xác định khi nào có thể tái thả và khi nào cần chuyển động vật đến cơ sở cứu hộ. Chương trình cũng giúp người tham gia hiểu rõ hơn về phúc lợi động vật và nhấn mạnh sự an toàn của con người trong quá trình tiếp xúc với động vật hoang dã bị thương.

Kết thúc tập huấn, 100% học viên nắm được quy trình sơ cứu cơ bản và có thể nêu ít nhất một kỹ năng đã được thực hành trong chương trình. Đặc biệt, 100% học viên cũng xác định được các biện pháp bảo vệ bản thân khi tiếp cận động vật bị thương, từ quan sát hiện trường và hành vi của động vật, giữ khoảng cách an toàn, tránh vùng miệng đến sử dụng đầy đủ trang bị bảo hộ và chỉ tiếp cận khi có đủ kỹ năng.

Những kỹ năng này sẽ góp phần giúp cán bộ tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin chủ động và an toàn hơn khi xử lý các tình huống động vật hoang dã bị thương hoặc mắc bẫy trong quá trình tuần tra, qua đó tăng cơ hội để các cá thể được xử lý đúng cách và trở về tự nhiên một cách an toàn.

**gvat **gvat

___

How to Safely Provide First Aid to Injured or Trapped Wildlife?

This was the key question addressed during the Wildlife First Aid Training, jointly organized by WildAct and Chư Yang Sin National Park at the end of August. The training brought together 40 forest rangers and specialized staff from the National Park.

During patrols, rangers may encounter injured wildlife or animals caught in snares. The first response is often to quickly remove the snare and release the animal back into the wild. However, immediate release is not always the safest option. Before making a decision, rangers need to assess the animal’s condition, the extent of its injuries, potential risks at the site, and its chances of survival after release.

Through the training, participants practiced essential skills including assessing the site and the animal’s condition; safely approaching and restraining wildlife; removing snares; controlling bleeding and treating wounds; and using appropriate personal protective equipment. They also learned how to determine when an animal can be safely released and when it should instead be transferred to a wildlife rescue facility. The training also strengthened participants’ understanding of animal welfare while emphasizing human safety when handling injured wildlife.

At the end of the training, 100% of participants demonstrated an understanding of the basic first-aid procedure and were able to identify at least one skill they had practiced during the program. Notably, all participants were also able to identify measures to protect themselves when approaching injured wildlife, including assessing the surroundings and the animal’s behavior, maintaining a safe distance, avoiding the animal’s mouth, wearing appropriate protective equipment, and only approaching when they have the necessary skills.

These skills will help staff at Chư Yang Sin National Park respond more confidently and safely to injured or trapped wildlife encountered during patrols. In turn, this can increase the chances that animals receive appropriate care and are safely returned to the wild.

[ENG Below] Một tay bắt nhốt, xẻ thịt hổ; tay kia vẫn... thắp hương khấn vái hổ đề cầu bình an, tài lộc. Hổ (hay “ông ba...
20/09/2026

[ENG Below] Một tay bắt nhốt, xẻ thịt hổ; tay kia vẫn... thắp hương khấn vái hổ đề cầu bình an, tài lộc.

Hổ (hay “ông ba mươi”) là một biểu tượng quan trọng trong tiềm thức dân gian Việt Nam, là biểu tượng uy linh tại nhiều gian thờ đình, chùa, lăng, miếu. Tại nhiều vùng miền trên cả nước, thờ ông Hổ, ông Cọp từ lâu đã trở thành hình thức tín ngưỡng dân gian quen thuộc trong đời sống hằng ngày. Thế nhưng, ngày nay, hổ đang đứng trước nguy cơ biến mất hoàn toàn khỏi tự nhiên vì sự săn lùng của con người. Tất cả đến từ niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên của loài vật này.

Điều nực cười là ở chỗ, dù táo tợn xẻ thịt hổ, nhiều gian thương vẫn không quên “thắp hương”, khấn vái vì khiếp sợ chính loài vật mà họ đang giết hại.

Trong phóng sự điều tra một nhóm chuyên nấu cao hổ, chủ nhà luôn thắp hương cho “ông ba mươi” trên ban thờ, khấn vái cẩn thận. Sau đó, nhóm thợ nhấc con hổ lòi xương ra khỏi cái tủ cấp đông loại lớn. Một trong số đó chia sẻ “dù gì, hổ cũng là chúa sơn lâm, là vật thiêng của núi rừng, nên hành lễ khói hương cũng là việc nên làm.”

Người ta biết sợ trước uy lực của thần linh, tin vào sức mạnh của rừng xanh nhưng vẫn sẵn sàng xẻ thịt, lóc xương, lột da con vật vì lợi ích trước mắt. Các sản phẩm từ hổ như da, cao bị đẩy giá lên tới hàng chục triệu. Chúng vẫn ngày ngày được săn lùng vì niềm tin vào việc trở nên phi thường như chính loài vật này.

Nếu những niềm tin phi lý ấy tiếp tục tồn tại, những “ông ba mươi” còn lại có thể sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tranh ảnh, tượng đá trong đền, chùa, miếu hoặc bị nhốt trong những chiếc lồng tối tăm. Hiện thực đó không còn quá xa vời khi tại Việt Nam, dấu tích cuối cùng của hổ trong tự nhiên được phát hiện từ tận 24 năm trước.

Rừng xanh sẽ chẳng còn những chúa tể với sức mạnh thống trị nếu đà săn bắt này vẫn tiếp diễn. WildAct kêu gọi mỗi cá nhân hãy chủ động nói KHÔNG với việc tiêu thụ bất cứ sản phẩm nào từ động vật hoang dã. Hãy chung tay để những “ông hổ” được tự do trong rừng xanh.



___

With one hand, they capture, confine, and butcher tigers; with the other, they still… burn incense and pray to tigers for peace, prosperity, and good fortune.

Tigers, or “ông Ba Mươi” as they are traditionally called in Vietnam, hold an important place in the Vietnamese cultural imagination and are revered as sacred figures in many communal houses, temples, shrines, and places of worship. In many regions across the country, worshipping “ông Hổ” or “ông Cọp” is a familiar form of folk belief woven into everyday life. Yet today, tigers are facing the very real threat of disappearing from the wild altogether because of human demand and hunting, much of which is fueled by beliefs in the animal’s supernatural power.

The irony is that even while brazenly butchering tigers, many traders still remember to “light incense” and pray, apparently fearful of the very animal they are killing.

In an investigation by VTC News into a group involved in making tiger bone glue, the owner of a workshop was seen carefully lighting incense and praying at an altar. Afterwards, the workers took a tiger carcass, reduced to little more than bones, out of a large freezer. One of them explained that “after all, the tiger is the lord of the forest, a sacred creature of the mountains and forests, so offering incense and performing a ritual is simply the right thing to do.”

People fear the power of the divine and believe in the strength of the forest, yet they are still willing to butcher, strip the bones from, and skin these animals for immediate profit. Tiger products such as skins and tiger bone glue can fetch tens of millions of Vietnamese d**g. They continue to be sought after because of the belief that consuming them can somehow grant people the extraordinary strength associated with the tiger itself.

If these irrational beliefs continue to persist, the remaining “ông Ba Mươi” may one day exist only as statues in temples and shrines, or as tigers locked away in dark cages. That reality may not be as far away as it seems. In Vietnam, the last confirmed evidence of a tiger in the wild dates back to 2002, and no further traces have been recorded since.

The forests will no longer have their powerful rulers. So what is left of the strength and majesty that people claim to revere in tiger claws and pots of tiger bone glue? WildAct calls on everyone to actively say NO to consuming any products derived from wildlife. Together, we can help ensure that tigers remain where they belong: free in the wild.

Address

Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 15:00

Telephone

+84334509868

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when WildAct posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to WildAct:

Shortcuts

Share