Mục Vụ Do Thái

Mục Vụ Do Thái Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Mục Vụ Do Thái, Community Organization, Hanoi.

20/06/2026

Jerusalem ngày nay

Mục vụ Do Thái


NGÀY NAY TRONG KINH THÁNH - NGÀY Ê-XÊ-CHI-ÊN ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI VÀ NHÌN THẤY KHẢI TƯỢNG “CỖ XE THẦN THÁNH” KÉO THEO NGAI ...
19/06/2026

NGÀY NAY TRONG KINH THÁNH - NGÀY Ê-XÊ-CHI-ÊN ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI VÀ NHÌN THẤY KHẢI TƯỢNG “CỖ XE THẦN THÁNH” KÉO THEO NGAI ĐỨC CHÚA TRỜI.

Hôm nay, Thứ Bảy, ngày 20 tháng 6 năm 2026 nhằm ngày 5 tháng Tammuz, năm 5786 theo lịch sáng tạo. Hôm nay chính là ngày Ê-xê-chi-ên được Chúa kêu gọi phụ vụ Chúa khi ông nhìn thấy khải tượng “cỗ xe thần thánh” kéo theo ng*i của Đức Chúa Trời trong sách Ê-xê-chi-ên 1 .

Sách Ê-xê-chi-ên 1:1 có chép “Năm thứ ba mươi, ngày mồng năm tháng tư, khi ta đương ở giữa phu tù, trên bờ sông Kê-ba, các từng trời mở ra, và ta xem những sự hiện thấy của Đức Chúa Trời.” Đây chính là ngày khởi đầu chức vụ của Ê-xê-chi-ên, Chúa cũng đã gọi Ê-xê-chi-ên giống như Giê-rê-mi, Giăng Báp tít, từ trong dòng dõi của các thầy tế lễ để làm chức vụ tiên tri cho Chúa.

Sách Ê-xê-chi-ê 1:1 và Thi thiên 137:1 có nhắc đến bờ sông Kê-ba, nơi Ê-xê-chi-ên được kêu gọi, sông Kê-ba là con kênh nối hai con sông Ơ-phơ-rát và Hi-đê-ke (Tigris). Ngày nay sông này được gọi là Kabour (cũng gọi là Nerkabari). Nơi đây là chỗ của cộng đồng người Y-sơ-ra-ên trong thời gian bị lưu đày tại Babylon.

Ê-xê-chi-ên bị bắt lưu đày qua Ba-by-lôn trong lần thứ hai, tức là 8 năm sau khi Đa-ni-ên bị đưa đi và 11 năm trước khi Giê-ru-sa-lem sụp đổ. Sách II Vua 24:1 và Đa-ni-ên 1;1 là sự kiện dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày lần thứ I, trong đó có Đa-ni-ên (606 TC.) Sách II Vua 24:14-16, tường thuật về việc dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày lần thứ II, trong đó có Ê-xê-chi-ên (597 TC.).

Vì người Ba-by-lôn lựa bắt lưu đày những người có những tiêu chuẩn như: Thuộc Hoàng tộc, quan chức, trẻ, không bị tật nguyền (Đa-ni-ên 1:3-4). Những lính chiến mạnh mẽ, thợ chuyên môn (mộc, rèn…) (II Vua 24:14-16) Do đó, có thể biết Ê-xê-chi-ên thuộc vào thành phần trên. Ê-xê-chi-ên là thầy tế lễ nên khi ông bị lưu đày thì là lúc ông được 25 tuổi trở lên.

Ê-xê-chi-ên 1:1 nói đến “năm thứ ba mươi” đây cũng là tuổi của ông khi bắt đầu chức vụ. Theo đó thì ông sinh vào khoảng năm 622 TCN, vào khoảng thời gian cải cách của Giô-si-a, và ngay sau khi Giê-rê-mi được kêu gọi làm chức vụ tiên tri vào khoảng năm 626 TCN.

Ezekiel ( tiếng Hebrew : יְחֶזְקֵאל Ê-xê-chi-ên ) tên này có nghĩa là Sức lực của Chúa hay là Đức Giê-hô-va làm cho mạnh mẽ. Theo truyền thống Do Thái thì Ê-xê-chi ên cũng như Giê-rê-mi được xem là dòng dõi của Giô-suê và Ra-háp được chép trong Talmud (Meg 14b) và Midrash (Sifri, 78). Một số tuyên bố được tìm thấy trong các tài liệu của giáo sĩ Do Thái cho rằng Ê-xê-chi-ên là con trai của Giê-rê-mi, người được gọi là Bu-xi như trong Ê-xê-chi-ên 1:3 có chép.

Theo Midrash (Midrash Canticles Rabbah vii. số 8) thì ba người Hananiah, Mishael, và Azariah (còn gọi là Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô sách Đa-ni-ên 3) đã đến gặp tiên tri Ê-xê-chi-ên trước khi đối diện với lệnh của vua Nê-bu-cát-nết-sa.

Các lời tiên tri nổi tiếng nhất của ông được biên soạn trong Sách Ê-xê-chi-ên, là những khải tượng của ông về Cỗ xe thần thánh, Thung lũng Xương khô và Ngôi đền Thứ ba. Theo Ê-xê-chi-ên 1:1 thì vào ngày ông được kêu gọi, ngày 5 tháng Tammuz của năm 3332 kể từ khi được sáng tạo (429 TCN), Ê-xê-chi-ên, đã nhìn thấy khải tưởng đầu tiên của mình là hình ảnh “Cỗ xe thần thánh” . Thời điểm này là thời kỳ đen tối của Y-sơ-ra-ên, Chúa đã cho Ê-xê-chi-ên hiểu được rằng cho dù hoàn cảnh làm nản lòng ra sao đi nữa thì cũng không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là Đức Chúa Trời vẫn đang ngự trên ngôi, Ngài vẫn tiếp tục hoàn thành mục đích thánh của Ngài trong thế gian này.

Sự hiện thấy này của Ê-xê-chi-ên chứa đựng nhiều điều bí ẩn không giải thích được, tuy nhiên có một sứ điệp rất rõ ràng và có sức tác động mạnh mẽ: Đức Giê-hô-va là Chúa Chí Cao của Y-sơ-ra-ên và của tất cả mọi dân mọi nước trên đất.

Cũng vậy, một thời kỳ đen tối đang trải qua trên đất, với dịch bịnh hoành hành nhưng Đức Chúa Trời vẫn đang ngự trên ngôi, Ngài vẫn tiếp tục hoàn thành mục đích thánh của Ngài trong thế gian này.

Nguyện xin Chúa ban phước cho quý con cái Chúa và gìn giữ hết thảy mọi người.

Mục vụ Do Thái.

https://www.mucvudothai.org/post/ngày-ê-xê-chi-ên-được-chúa-kêu-gọi-và-nhìn-thấy-khải-tượng-cỗ-xe-thần-thánh-kéo-theo-ng*i-chúa




# Ezekiel

SUY NGẪM VỀ VŨ TRỤ NHƯ VUA ĐA VÍTNhững thành tựu của con người trong việc khám phá vũ trụ thật đáng kinh ngạc. Khi tàu t...
18/06/2026

SUY NGẪM VỀ VŨ TRỤ NHƯ VUA ĐA VÍT

Những thành tựu của con người trong việc khám phá vũ trụ thật đáng kinh ngạc. Khi tàu thám hiểm Perseverance của NASA hạ cánh thành công xuống sao Hỏa vào năm 2021 và gửi về những hình ảnh, âm thanh cùng các dữ liệu quý giá từ hành tinh đỏ, cả thế giới đã kinh ngạc trước khả năng sáng tạo và khám phá của con người. Những bức ảnh về bề mặt khô cằn, hoang vắng của sao Hỏa khiến nhiều người liên tưởng đến những cảnh tượng trong các bộ phim khoa học viễn tưởng. Tuy nhiên, dù những thành tựu ấy có vĩ đại đến đâu, chúng vẫn nhỏ bé nếu so sánh với công việc mà Đức Chúa Trời đang thực hiện trên Trái Đất theo kế hoạch đời đời của Ngài.

Các nhà khoa học đang tìm kiếm dấu vết của sự sống trong quá khứ trên sao Hỏa. Nhưng những gì các tàu thăm dò gửi về cho thấy một thực tế rõ ràng: sao Hỏa là một thế giới chết, khô cằn và đang trong tình trạng suy tàn. Trái ngược hoàn toàn với nó, Trái Đất vẫn tràn đầy sự sống, màu xanh và sự phong phú. Câu hỏi đặt ra là: tại sao lại có sự khác biệt như vậy?

Kinh Thánh cho chúng ta một góc nhìn đặc biệt về vấn đề này. Trong sách Gióp chương 38, Đức Chúa Trời nhắc lại công trình sáng tạo của Ngài. Ngài hỏi Gióp rằng liệu ông có mặt khi nền trái đất được đặt hay không. Qua những câu hỏi ấy, Đức Chúa Trời cho thấy vũ trụ không phải là sản phẩm của sự ngẫu nhiên, nhưng được thiết kế một cách khôn ngoan, có trật tự và mục đích. Khi nền trái đất được dựng nên, các thiên sứ đã reo mừng trước vẻ đẹp và sự hoàn hảo của công trình sáng tạo ấy.

Theo sự mặc khải của Kinh Thánh, trước khi con người được tạo dựng, Đức Chúa Trời đã giao cho Lucifer – một chê-ru-bim được xức dầu, đầy vinh quang và quyền năng – trách nhiệm quản trị Trái Đất. Ê-sai 14 và Ê-xê-chi-ên 28 mô tả Lucifer như một tạo vật tuyệt đẹp, khôn ngoan và có địa vị cao trọng trước mặt Đức Chúa Trời. Ông cùng với các thiên sứ dưới quyền được giao nhiệm vụ chăm sóc và phát triển thế giới mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng.

Tuy nhiên, Lucifer đã kiêu ngạo vì vẻ đẹp và quyền lực của mình. Ông nổi loạn chống lại Đấng Tạo Hóa và kéo theo một phần ba các thiên sứ tham gia cuộc phản nghịch. Cuộc nổi loạn ấy đã dẫn đến một cuộc chiến thuộc linh dữ dội. Hậu quả là Trái Đất cùng nhiều phần khác của vũ trụ rơi vào tình trạng hoang tàn và đổ nát.

Đó là lý do tại sao Sáng Thế Ký 1:2 mô tả rằng đất trở nên “vô hình và trống không”. Theo cách hiểu này, Đức Chúa Trời không tạo ra Trái Đất trong tình trạng hỗn loạn, nhưng nó đã trở nên như vậy sau sự phản nghịch của Lucifer. Những từ Hê-bơ-rơ được dùng trong câu Kinh Thánh này mang ý nghĩa hoang vu, đổ nát và bị tàn phá. Điều đó giải thích vì sao nhiều thiên thể trong vũ trụ ngày nay mang dáng vẻ của sự chết và sự suy tàn.

Sau cuộc nổi loạn ấy, Đức Chúa Trời bắt đầu một giai đoạn mới trong chương trình của Ngài. Ngài quyết định tạo dựng con người theo hình ảnh của chính mình. Đây là một kế hoạch kỳ diệu vượt xa mọi điều các thiên sứ từng được giao phó. Đức Chúa Trời nhận thấy rằng chỉ những ai mang bản tính thánh khiết và công chính của Ngài mới có thể cai quản vũ trụ cách trọn vẹn. Vì vậy, Ngài bắt đầu chương trình đào tạo con người để cuối cùng trở thành những thành viên trong gia đình đời đời của Đức Chúa Trời.

Trước khi tạo dựng con người, Đức Chúa Trời đã tái tạo và đổi mới Trái Đất. Thi Thiên 104:30 nói rằng Ngài đã “đổi mới mặt đất”. Sau đó, Ngài dựng nên A-đam và Ê-va, giao cho họ quyền quản trị công trình sáng tạo. Trái Đất trở thành nơi đặc biệt trong toàn thể vũ trụ, vì đây là nơi Đức Chúa Trời đang thực hiện kế hoạch vĩ đại nhất của Ngài đối với nhân loại.

Chính vì vậy, khi nhìn lên bầu trời đầy sao, vua Đa-vít không chỉ nghĩ về vẻ đẹp của các thiên thể. Trong Thi Thiên 8, ông kinh ngạc trước một câu hỏi lớn: “Loài người là chi mà Chúa nhớ đến?” Giữa một vũ trụ bao la vô tận, Đức Chúa Trời lại dành sự quan tâm đặc biệt cho con người. Đa-vít nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã ban cho loài người một vị trí vô cùng cao trọng, trao cho họ quyền quản trị công trình sáng tạo của Ngài và định cho họ một tương lai đầy vinh hiển.

Trong Thi Thiên 19, Đa-vít tiếp tục suy ngẫm về các tầng trời. Ông viết rằng các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Dù vũ trụ không phát ra lời nói bằng ngôn ngữ con người, nhưng sự trật tự, chính xác và hài hòa của nó là một lời chứng hùng hồn về Đấng Tạo Hóa. Các hành tinh chuyển động đúng quỹ đạo, các thiên hà vận hành theo những quy luật chặt chẽ, tất cả đều phản ánh sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Chúa Trời.

Đa-vít cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của sự hài hòa ấy chính là luật pháp của Đức Chúa Trời. Cũng như các định luật vật lý giữ cho vũ trụ vận hành ổn định, luật pháp thuộc linh của Đức Chúa Trời đem lại trật tự, bình an và phước hạnh cho đời sống con người. Khi con người sống theo luật pháp của Ngài, họ sẽ kinh nghiệm sự hòa hợp với Đức Chúa Trời và với nhau.

Ngày nay, nhiều người say mê khám phá vũ trụ nhưng lại quên tìm kiếm Đấng đã tạo nên vũ trụ ấy. Họ đặt câu hỏi: “Có sự sống trên sao Hỏa không?” nhưng ít người hỏi: “Ai đã tạo nên sao Hỏa và vì sao nó tồn tại?” Câu hỏi thứ hai mới thực sự dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Trời.

Con người có thể mơ ước chinh phục các hành tinh khác, nhưng vấn đề lớn nhất không phải là tìm nơi ở mới trong vũ trụ, mà là giải quyết tình trạng tội lỗi trong chính lòng mình. Nếu bản chất con người không được thay đổi, chúng ta sẽ mang sự hủy hoại đến bất cứ nơi nào mình đặt chân đến. Chỉ khi Đức Chúa Trời biến đổi con người, chúng ta mới có thể thực hiện mục đích cao cả mà Ngài đã định sẵn.

Kinh Thánh dạy rằng Chúa Giê-xu Christ sẽ trở lại để thiết lập Vương quốc của Đức Chúa Trời trên đất. Khi ấy, thế giới sẽ bước vào một thời kỳ hòa bình, công chính và thịnh vượng chưa từng có. Nhưng đó chưa phải là điểm kết thúc. Sau khi chương trình cứu chuộc nhân loại hoàn tất, Đức Chúa Trời sẽ mở rộng công việc phục hồi của Ngài ra toàn thể vũ trụ.

Những hành tinh hoang vu như sao Hỏa, những vùng không gian đang ở trong tình trạng suy tàn sẽ được đổi mới. Con người được cứu chuộc sẽ tham gia vào công việc ấy dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời. Đó chính là tiềm năng vũ trụ mà Kinh Thánh bày tỏ cho nhân loại.

Bởi vậy, khi nhìn những hình ảnh từ sao Hỏa hay chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bầu trời đêm, chúng ta không chỉ nên kinh ngạc trước sự rộng lớn của vũ trụ. Điều quan trọng hơn là nhận ra chương trình vĩ đại mà Đức Chúa Trời đang thực hiện qua con người. Vũ trụ không chỉ kể về quá khứ hay hiện tại, mà còn hướng chúng ta đến một tương lai huy hoàng trong kế hoạch đời đời của Ngài.

Đó là lý do Đa-vít không chỉ ngước nhìn các vì sao, nhưng còn suy ngẫm về số phận của con người. Giữa một vũ trụ vô cùng rộng lớn, Đức Chúa Trời đang thực hiện công việc kỳ diệu nhất của Ngài ngay trên Trái Đất: chuẩn bị những con người được cứu chuộc để trở thành những người đồng trị với Ngài trong vương quốc đời đời. Đây chính là niềm hy vọng lớn lao nhất mà Kinh Thánh dành cho nhân loại.

Mục vụ Do Thái.

https://www.mucvudothai.org/post/suy-ngẫm-về-vũ-trụ-như-vua-đa-vít



TRŨNG A-GIA-LÔN NGÀY NAY – NƠI CHÚA ĐÃ LÀM CHO “MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG DỪNG LẠI TRỌN MỘT NGÀY”Hôm nay thứ năm, ngày 18 thán...
17/06/2026

TRŨNG A-GIA-LÔN NGÀY NAY – NƠI CHÚA ĐÃ LÀM CHO “MẶT TRỜI, MẶT TRĂNG DỪNG LẠI TRỌN MỘT NGÀY”

Hôm nay thứ năm, ngày 18 tháng 6 năm 2026 nhằm ngày 3 tháng Tammuz, năm 5786 theo lịch Do Thái Giáo. Hôm qua chính là ngày mà “mặt trời và mặt trăng dừng lại” trên trũng A-gia-lôn như trong Giô-suê 10 có chép.

Trũng A-gia-lôn chính là nơi mà Chúa đã làm hai phép lạ kỳ diệu mà người ta không thể giải thích được theo cách thông thường. Tại nơi này, Chúa đã khiến đá lớn từ trên trời rơi xuống để diệt đội quân A-mô-rít và đây chính là nơi mà mặt trời và mặt trăng dừng lại hoàn toàn “ước chừng một ngày trọn”.

Giô-suê chương 9, 10 cho biết : Sau khi dân Y-sơ-ra-ên tiến vào Ca-na-an và chiếm được Giê-ri-cô cùng thành phố A-hi thì những cư dân ở Ga-ba-ôn đã hành động xảo quyệt để lừa dân Y-sơ-ra-ên liên minh với họ.

Giô-suê 10 có chép “Khi A-đô-ni-Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, hay rằng Giô-suê đã chiếm lấy thành A-hi, và tận diệt nó đi, đãi thành A-hi và vua nó như người đã đãi Giê-ri-cô và vua nó, lại hay rằng dân Ga-ba-ôn đã lập hòa với dân Y-sơ-ra-ên và ở cùng họ, thì người lấy làm sợ hãi lắm;”

Vì vậy, A-đô-ni-Xê-đéc, vua thành Giê-ru-sa-lem, liên minh cùng năm vua A-mô-rít, tức là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Éc-lôn tấn công dân Ga-ba-ôn. Người Ga-ba-ôn đã cầu cứu cùng Giô-suê, “Vậy, Giô-suê ở Ghinh-ganh đi lên với hết thảy quân lính và những người mạnh dạn. … Vậy, Giô-suê ở Ghinh-ganh đi trọn đêm, rồi chợt đến áp chúng nó. Đức Giê-hô-va làm cho chúng nó vỡ chạy trước mặt Y-sơ-ra-ên, khiến cho bị đại bại gần Ga-ba-ôn; … Khi chúng nó chạy trốn trước mặt Y-sơ-ra-ên và xuống dốc Bết-Hô-rôn, thì Đức Giê-hô-va khiến đá lớn từ trời rớt xuống cả đường cho đến A-xê-ca, và chúng nó đều bị chết. Số những người bị chết về mưa đá nhiều hơn số những người bị dân Y-sơ-ra-ên giết bằng gươm.”

Để có thể tiêu diệt dân A-mô-rít trước khi màn đêm buông xuống Giô-suê 10 : 12-13 chép “… Giô-suê thưa cùng Đức Giê-hô-va tại trước mặt Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Ga-ba-ôn; Hỡi mặt trăng, hãy ngừng lại trên trũng A-gia-lôn! Mặt trời bèn dừng, mặt trăng liền ngừng, Cho đến chừng dân sự đã báo thù quân nghịch mình.
Điều đó há không có chép trong sách Gia-sa sao? Mặt trời dừng lại giữa trời, và không vội lặn ước một ngày trọn.”

Trũng A-gia-lôn, nơi đã xảy ra phép lạ đó ngày nay nằm ngay giữa dãy núi trung tâm cách Jerusalem khoảng 6 dặm về phía bắc. Tên thung lũng A-gia-lôn trong tiếng Do Thái là אַיָּלוֹן hoặc איילון. Đây là một thung lũng ở vùng đất thấp của Shephelah ở Israel và Bờ Tây. Khi một người đi xuống từ Ga-ba-ôn theo hướng tây về phía đồng bằng ven biển, anh ta đi qua trũng hay thung lũng A-gia-lôn.

Vào thế kỷ 19 và cho đến ngày nay nó có tên là Yalo hiện đại nằm dưới chân đèo Bethoron. Di chỉ cổ xưa của thành phố này chi là di chỉ Tell el-Amarna Letters nằm ở phía Tây Bắc của Jerusalem trong thung lũng A-gia-lôn dẫn từ núi xuống biển.

Tên của trung A-gia-lôn cũng là tên của một thành phố được phân chia cho chi phái Đan nằm tại khu vực này ( Giô-suê 19:42 ). Đây cũng là thành phố được cấp cho chi phái Lê Vi ( Giô- suê 21:24 ). Thành phố này thuộc về dòng dõi của A-rôn là những Kohen ( Thầy tế lễ ) ( 1 Sử-ký 6:69 ).

Tên trũng A-gia-lôn lần đầu được nhắc trong câu chuyện kể trên ( Giô-suê 10:12 ). Bất chấp chiến thắng ban đầu của Joshua ở Thung lũng A-gia-lôn thì người A-mô-rít vẫn tiếp tục sống ở thành phố A-gia-lôn ( Các Quan Xét 1: 34–35 ) mặc dù người của chi phái Ép-ra-im giữ nó như một chư hầu.

Chính bởi điều này cùng với áp lực liên tục của người Phi-li-tin tại đây đã buộc bộ tộc Dan phải rút lui về phía tây giảm phạm vi lãnh thổ của họ. Cuối cùng, người Đan đã từ bỏ quyền thừa kế ban đầu của họ ở khu vực A-gia-lôn và chuyển đến vùng cực bắc của Israel, định cư tại thành phố La-ít, nơi họ đổi tên thành Dan ( Các Quan Xét 18 ).

Trũng A-gia-lôn cũng là nơi Sau-lơ và Giô-na-than đã giành được thắng lợi lớn trước quân Phi-li-tin ( 1 Sa-mu-ên 14:31). Trong những năm sau đó, A-gia-lôn là nơi sinh sống của những người Ép-ra-im ( 1 Sử-ký 6:69 và 1 Sử-ký 8:13 ).

Sau khi vương quốc bị chia cắt, A-gia-lôn trở thành ranh giới giữa hai vương quốc Giu-đa và Israel . Rô-bô-am , vị vua đầu tiên của Giu-đa, đã củng cố thành phố A-gia-lô ( 2 Sử-ký 11:10 ), cung cấp quân đội, vũ khí và lương thực ( 2 Sử ký 11: 5–12 ) để chống lại vương quốc Y-sơ-ra-ên . Vào thời vua A-háp, nó đã bị người Phi-li-tin đánh chiếm ( 2 Sử ký 28:18 ).

Biên tập bởi Mục Vụ Do Thái Lời Sự Sống Việt Nam.

https://www.mucvudothai.org/post/trũng-a-gia-lôn-ngày-nay-nơi-chúa-đã-làm-cho-mặt-trời-mặt-trăng-dừng-lại-trọn-một-ngày-1



TRUYỀN THỐNG DO THÁI - LINH HỒN (NESHAMAH) LÀ GÌ?Trong tư tưởng Do Thái, linh hồn được gọi là Neshamah, là bản thể sâu k...
16/06/2026

TRUYỀN THỐNG DO THÁI - LINH HỒN (NESHAMAH) LÀ GÌ?

Trong tư tưởng Do Thái, linh hồn được gọi là Neshamah, là bản thể sâu kín nhất của con người, là cái tôi thật sự đang sống bên trong thân thể và hoạt động thông qua thân thể. Linh hồn không chỉ là nguồn sự sống mà còn là trung tâm của ý thức, nhân cách, lý trí và mối liên hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Từ “Neshamah” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “hơi thở”, gợi nhớ đến sự kiện Đức Chúa Trời tạo dựng con người trong Sáng Thế Ký 2:7: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên loài người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì loài người trở nên một sinh linh sống.” Như vậy, linh hồn con người được xem là kết quả trực tiếp của hơi thở sự sống từ Đức Chúa Trời.

Theo quan niệm của các bậc hiền triết Do Thái, không chỉ con người mà mọi vật được tạo dựng đều có một dạng linh hồn hay nguyên lý sự sống. Động vật có linh hồn của chúng, cây cỏ có linh hồn của chúng, và ngay cả những vật vô tri cũng mang trong mình một tia sáng thiêng liêng duy trì sự tồn tại của chúng. Mỗi hạt cát, mỗi ngọn cỏ đều tồn tại bởi vì Đức Chúa Trời tiếp tục ban cho chúng sự sống và mục đích. Vì thế, linh hồn không đơn thuần là nguồn năng lượng làm cho một vật tồn tại, nhưng còn là ý nghĩa và mục đích sâu xa của sự hiện hữu ấy. Nếu thân thể là hình thức bên ngoài thì linh hồn chính là bản chất bên trong. Giống như một bản nhạc chỉ thật sự sống động khi thể hiện được ý tưởng và cảm xúc của người nhạc sĩ, mọi tạo vật cũng chỉ tìm thấy ý nghĩa thật của mình khi phản ánh ý định của Đấng Tạo Hóa.

Tuy nhiên, linh hồn con người là hình thức cao quý và phức tạp nhất trong mọi tạo vật. Các nhà hiền triết Do Thái dạy rằng linh hồn có năm cấp độ hay năm phương diện khác nhau. Đầu tiên là Nefesh, cấp độ liên hệ với sự sống sinh học và các chức năng tự nhiên của cơ thể. Thứ hai là Ruach, liên hệ đến cảm xúc, tính cách và đời sống tinh thần. Thứ ba là Neshamah, trung tâm của lý trí, nhận thức và sự hiểu biết thuộc linh. Thứ tư là Chayah, tầng sâu hơn của linh hồn, nơi phát sinh ý chí, khát vọng, niềm tin và sự tận hiến vượt trên lý trí thông thường. Cuối cùng là Yechidah, cấp độ cao nhất, thể hiện sự hiệp một giữa linh hồn với chính Đức Chúa Trời. Đây là phần sâu thẳm nhất của con người, phản ánh chân lý rằng linh hồn được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng Tạo Hóa và luôn hướng về Ngài.

Trong thần học Chassidic của Do Thái giáo, con người được mô tả như đang mang trong mình hai linh hồn hoạt động song song. Một là linh hồn tự nhiên hay linh hồn động vật, hướng con người đến nhu cầu sinh tồn, bảo vệ bản thân và những ham muốn thuộc thể. Linh hồn này không phải là điều xấu, bởi nó giúp con người tồn tại trong thế giới vật chất. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có linh hồn thiêng liêng, được ban cho với mục đích hướng con người đến Đức Chúa Trời, tìm kiếm chân lý, sự thánh khiết và ý nghĩa vĩnh cửu. Toàn bộ đời sống con người là sự tương tác liên tục giữa hai phương diện này. Một mặt con người phải đối diện với các nhu cầu vật chất; mặt khác, họ được thôi thúc bởi những khát vọng thuộc linh. Dù đôi khi hai xu hướng ấy dường như xung đột với nhau, nhưng trong chương trình của Đức Chúa Trời, cả hai đều có thể được hòa hợp để phục vụ mục đích cao cả của Ngài.

Chính bản chất thiêng liêng của linh hồn khiến con người khác biệt với mọi tạo vật khác, kể cả các thiên sứ. Các thiên sứ tuy là những hữu thể thuộc linh, nhưng họ hoạt động theo chức năng đã được định sẵn. Con người lại được ban cho một điều đặc biệt hơn: quyền tự do lựa chọn. Bởi vì linh hồn mang trong mình dấu ấn của Đấng Tạo Hóa, con người có khả năng vượt lên trên bản năng tự nhiên của mình để lựa chọn điều thiện hay điều ác, vâng phục hay chống nghịch, yêu thương hay ích kỷ. Chính khả năng lựa chọn này phản ánh phần nào hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người.

Một câu hỏi thường được đặt ra là: nếu linh hồn đến từ Đức Chúa Trời và thuộc về cõi thiêng liêng, tại sao nó lại được đặt vào một thân thể vật chất? Theo truyền thống Do Thái, linh hồn được hình thành trong các cõi thuộc linh trước khi bước vào thế giới này. Nó được ban cho một sứ mạng riêng biệt và chỉ có thể hoàn thành sứ mạng ấy thông qua cuộc sống trong thân thể. Chính trong môi trường đầy thách thức của thế giới vật chất, linh hồn mới có cơ hội bày tỏ đầy đủ quyền năng và phẩm chất mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong nó. Những thử thách, khó khăn, cám dỗ và quyết định hằng ngày trở thành cơ hội để linh hồn trưởng thành và hoàn thành mục đích của mình.

Để giúp linh hồn thực hiện sứ mạng ấy, Đức Chúa Trời đã ban cho con người sự mặc khải và luật pháp của Ngài. Trong Do Thái giáo, Torah được xem là bản hướng dẫn cho đời sống và cũng là nguồn nuôi dưỡng linh hồn. Khi con người học hỏi và suy ngẫm Lời Chúa, linh hồn được bồi dưỡng giống như thân thể được nuôi bằng thức ăn. Sự khôn ngoan từ Đức Chúa Trời trở thành sức mạnh giúp linh hồn đứng vững giữa những thử thách của đời sống.

Bên cạnh đó, các hành động vâng phục và việc lành, được gọi là mitzvot, giữ vai trò vô cùng quan trọng. Mỗi hành động yêu thương, mỗi sự hy sinh, mỗi việc thiện được thực hiện đều là một cơ hội để con người cộng tác với Đức Chúa Trời trong công cuộc bày tỏ vương quốc của Ngài trên đất. Chính vì các việc lành chỉ có thể được thực hiện trong đời sống hiện tại nên khoảng thời gian linh hồn sống trong thân thể là một đặc ân vô giá. Đây là cơ hội duy nhất để linh hồn biến những chân lý thuộc linh thành hành động cụ thể trong thế giới vật chất.

Khi cuộc đời trên đất kết thúc, linh hồn rời khỏi thân thể và trở về trạng thái thuộc linh. Dù không còn có thể thực hiện các việc lành như trước, nhưng những gì đã được gieo trồng trong đời sống vẫn tiếp tục sinh kết quả. Các hành động yêu thương, đức tin và sự vâng phục đã thực hiện trên đất tiếp tục mang ý nghĩa đời đời và nâng linh hồn đến những mức độ vinh hiển cao hơn.

Theo niềm hy vọng của Kinh Thánh và truyền thống Do Thái, lịch sử sẽ không kết thúc bằng sự chết. Sẽ đến ngày Đức Chúa Trời hoàn tất chương trình cứu chuộc của Ngài. Trong thời kỳ Mê-si-a, sự sống lại của người chết sẽ diễn ra, và linh hồn sẽ được đoàn tụ với thân thể trong một trạng thái vinh hiển mới. Khi ấy, sự chết sẽ bị hủy diệt hoàn toàn, và cả thế giới sẽ phản chiếu trọn vẹn vinh quang của Đức Chúa Trời. Điều mà linh hồn luôn khao khát từ ban đầu — sự hiệp nhất hoàn toàn với Đấng Tạo Hóa — sẽ được hoàn thành một cách viên mãn.

Vì vậy, linh hồn không chỉ là nguồn sự sống của con người mà còn là chiếc cầu nối giữa trời và đất, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa con người và Đức Chúa Trời. Hiểu biết về linh hồn giúp chúng ta nhận thức rõ hơn giá trị của đời sống hiện tại, ý nghĩa của sự tồn tại và mục đích đời đời mà Đức Chúa Trời đã dành cho mỗi con người.

Mục vụ Do Thái.

https://www.mucvudothai.org/post/truyền-thống-do-thái-linh-hồn-neshamah-là-gì



NGÀY NAY TRONG LỊCH SỬ DO THÁI – NGÀY SINH VÀ QUA ĐỜI CỦA GIÔ-SÉP CON TRAI GIA CỐPHôm nay, Thứ Ba, ngày 16 tháng 6 năm 2...
15/06/2026

NGÀY NAY TRONG LỊCH SỬ DO THÁI – NGÀY SINH VÀ QUA ĐỜI CỦA GIÔ-SÉP CON TRAI GIA CỐP

Hôm nay, Thứ Ba, ngày 16 tháng 6 năm 2026 nhằm ngày 1 tháng Tammuz năm 5786 theo lịch Do Thái Giáo. Theo truyền thống Do Thái thì hôm nay chính là ngày sinh và ngày qua đời của Giô-sép con trai Gia-cốp (1562 và 1452 TCN)

Giô-sép con trai Gia-cốp sinh ra tại Charan (Mesopotamia) vào ngày 1 tháng Tammuz của năm 2199 sau khi tạo dựng (năm 1562 TCN), là đứa con đầu lòng của người vợ yêu dấu nhất của Jacob, Rachel , sinh ra sau 7 năm kết hôn không có con. Ông qua đời vào cùng ngày 110 năm sau, tại Ai Cập.

Khi Giô-sép lên sáu tuổi,Gia cốp và gia đình trở về Đất Thánh, cuối cùng định cư tại Hebron . Mặc dù nhỏ hơn 10 trong số 11 người anh em của mình, Giô-sép là người được cha yêu thích nhất, và có một sự ganh đua lớn giữa ông và các anh em của mình, sự thù địch của họ đối với ông tăng lên khi ông kể lại hai giấc mơ mà ông đã dự đoán rằng ông sẽ cai trị họ.

Khi Giô-sép 17 tuổi, ông bị anh em mình bán làm nô lệ và bị đưa đến Ai Cập; khi ông từ chối sự tán tỉnh của vợ chủ mình, bà đã bắt ông vào tù , nơi ông phải chịu đựng trong 12 năm. Ở tuổi 30, ông đã giải thích một cặp giấc mơ bí ẩn mà Pharaoh mơ thấy, và được bổ nhiệm làm phó vương của Ai Cập để giám sát việc thu thập và lưu trữ ngũ cốc để chuẩn bị cho bảy năm đói kém mà giấc mơ của Pharaoh đã tiên đoán. Ông kết hôn với Asnat và có hai người con, Menasseh và Ephraim .

Nạn đói lớn đã khiến các anh của ông phải sang Ai Cập để mua ngũ cốc; sau khi bắt họ trải qua một loạt thử thách để kiểm tra lòng trung thành của họ với nhau và sự hối hận về những gì họ đã làm với ông, Joseph đã tiết lộ danh tính của mình với các anh em, làm hòa với họ và định cư cha mình cùng toàn bộ gia đình -- tổng cộng 70 người -- ở Ai Cập.

Giô-sép qua đời tại Ai Cập vào đúng ngày sinh nhật thứ 110 của mình. Là người đầu tiên trong số những người anh em của mình qua đời, ông đã truyền lại cho họ lời hứa thiêng liêng với Gia-cốp rằng con cháu ông sẽ được đưa ra khỏi Ai Cập và trở về quê hương, và bắt họ hứa sẽ mang hài cốt của ông theo khi họ ra đi.

Mục vụ Do Thái.

https://www.mucvudothai.org/post/ngày-nay-trong-lịch-sử-do-thái-ngày-sinh-và-qua-đời-của-giô-sép-con-trai-gia-cốp




QUẦN ÁO DO THÁI – KHÔNG CHỈ LÀ TRANG PHỤC MÀ CÒN LÀ BẢN SẮC ĐỨC TINTrong mọi nền văn hóa, quần áo không đơn thuần chỉ là...
14/06/2026

QUẦN ÁO DO THÁI – KHÔNG CHỈ LÀ TRANG PHỤC MÀ CÒN LÀ BẢN SẮC ĐỨC TIN

Trong mọi nền văn hóa, quần áo không đơn thuần chỉ là phương tiện che chở cơ thể. Trang phục còn phản ánh bản sắc, địa vị xã hội, niềm tin tôn giáo và những giá trị mà một cộng đồng theo đuổi. Đối với dân tộc Do Thái, điều này càng trở nên rõ ràng hơn. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, từ thời Kinh Thánh cho đến ngày nay, quần áo luôn giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống người Do Thái. Nó không chỉ thể hiện căn tính dân tộc mà còn phản ánh mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời, với cộng đồng và với thế giới xung quanh.

Các giáo sĩ Do Thái cổ đại từng dạy rằng một trong những lý do khiến dân Israel xứng đáng được giải cứu khỏi ách nô lệ Ai Cập là vì họ đã không từ bỏ bản sắc của mình. Dù sống giữa một nền văn hóa ngoại bang hùng mạnh, họ vẫn giữ tên gọi, ngôn ngữ và cách ăn mặc riêng biệt. Điều đó cho thấy trang phục không chỉ là vấn đề bên ngoài mà còn là biểu hiện của lòng trung thành với căn tính mà Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài.

Ngày nay, khi nhắc đến trang phục Do Thái, nhiều người thường nghĩ đến những người đàn ông đội mũ nhỏ trên đầu, mặc áo khoác đen dài hoặc những phụ nữ che tóc sau khi kết hôn. Tuy nhiên, thực tế đa dạng hơn rất nhiều. Phần lớn người Do Thái hiện đại ăn mặc tương tự như những người khác trong xã hội nơi họ sinh sống. Tuy nhiên, trong các cộng đồng Chính Thống giáo và đặc biệt là các cộng đồng Hasidic, trang phục truyền thống vẫn được duy trì như một phần quan trọng của đời sống đức tin.

Một trong những dấu hiệu dễ nhận biết nhất của đàn ông Do Thái là chiếc mũ nhỏ gọi là Kippah hay Yarmulke. Chiếc mũ này được đội trên đỉnh đầu như một lời nhắc nhở rằng luôn có Đức Chúa Trời ở trên con người. Đối với nhiều người Do Thái Chính Thống, việc che đầu không chỉ diễn ra trong lúc cầu nguyện mà trong suốt cả ngày như một biểu tượng của sự kính sợ Thiên Chúa.

Ngoài Kippah, nhiều người đàn ông Do Thái còn đội những chiếc mũ đen truyền thống hoặc Shtreimel, một loại mũ lông lớn thường được các nhóm Hasidic sử dụng trong ngày Sa-bát và các dịp lễ trọng. Trang phục của nhiều cộng đồng Hasidic ngày nay vẫn mang dáng dấp của giới quý tộc Ba Lan và Đông Âu thế kỷ XVIII, thời kỳ phong trào Hasidic bắt đầu phát triển.

Một đặc điểm quan trọng khác là Tzitzit, những tua rua được gắn vào bốn góc của một loại áo đặc biệt theo mạng lệnh trong Kinh Thánh. Nhiều người Do Thái mặc chiếc áo này bên trong quần áo thường ngày. Đôi khi các tua rua được để lộ ra ngoài, đôi khi được giấu bên trong áo. Dù nhìn thấy hay không, chúng vẫn đóng vai trò như một lời nhắc nhở liên tục về các điều răn của Đức Chúa Trời.

Đối với phụ nữ Do Thái Chính Thống giáo, vấn đề trang phục thường gắn liền với khái niệm Tzniut, tức là sự khiêm nhường và kín đáo. Vì vậy, nhiều phụ nữ lựa chọn mặc váy hoặc đầm thay vì quần dài. Họ thường mặc quần áo che phủ phần lớn cơ thể, mặc dù mức độ kín đáo có thể khác nhau tùy từng cộng đồng. Trong nhiều nhóm Chính Thống giáo, sau khi kết hôn, người phụ nữ sẽ che tóc bằng khăn, mũ hoặc tóc giả (sheitel). Đây không chỉ là một truyền thống văn hóa mà còn được xem là dấu hiệu của sự trang trọng trong hôn nhân và đời sống đức tin.

Khi quay trở lại Kinh Thánh, chúng ta nhận thấy rằng Torah thực ra không nói quá nhiều về thời trang hay kiểu dáng quần áo. Tuy nhiên, những gì được đề cập đều mang ý nghĩa thuộc linh sâu sắc. Torah cấm pha trộn len và vải lanh trong cùng một trang phục, điều được gọi là Shatnez (Lê-vi Ký 19:19). Luật này thường được xem như một phần trong những điều răn nhấn mạnh việc tôn trọng các ranh giới mà Đức Chúa Trời đã thiết lập trong sự sáng tạo.

Torah cũng cấm đàn ông mặc quần áo của phụ nữ và ngược lại (Phục truyền Luật lệ Ký 22:5), đồng thời truyền lệnh cho dân Israel đeo các tua rua Tzitzit trên áo bốn góc của mình (Dân Số Ký 15:37-41). Mục đích của những tua rua này là để người Do Thái nhớ đến các điều răn của Đức Chúa Trời và sống trong sự vâng phục Ngài.

Điều đáng chú ý là trong khi Torah không đưa ra nhiều quy định cho người dân bình thường, Kinh Thánh lại dành nhiều chương để mô tả y phục của các thầy tế lễ, đặc biệt là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm. Sách Xuất Ê-díp-tô Ký chương 28 mô tả rất chi tiết các loại y phục linh thiêng được sử dụng trong Đền Tạm và sau này là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Những bộ y phục ấy được trang trí bằng vàng, chỉ xanh, tím, đỏ điều và những viên đá quý mang tên mười hai chi phái Israel.

Tuy nhiên, có một điều rất đặc biệt. Vào ngày lễ trọng đại nhất trong năm là Yom Kippur (Ngày Chuộc Tội), khi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm bước vào Nơi Chí Thánh, ông không mặc bộ lễ phục huy hoàng ấy. Thay vào đó, ông chỉ mặc một bộ áo vải g*i trắng đơn sơ (Lê-vi Ký 16:4). Điều này dạy rằng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, điều quan trọng nhất không phải là vẻ bề ngoài, địa vị hay vinh quang của con người, mà là sự khiêm nhường và tinh sạch của tấm lòng.

Màu trắng từ đó trở thành biểu tượng của sự thanh sạch trong truyền thống Do Thái. Ngược lại, màu đen thường gắn liền với sự đau buồn và tang chế. Ngày nay, trong nghi thức tang lễ Do Thái, người thân thường thực hiện nghi thức xé áo như dấu hiệu của sự đau buồn sâu sắc, một phong tục đã xuất hiện từ thời Kinh Thánh.
Trong suốt thời kỳ lưu đày và phân tán giữa các dân tộc, trang phục Do Thái tiếp tục thay đổi dưới ảnh hưởng của các nền văn hóa địa phương. Người Do Thái tại Tây Ban Nha, Bắc Phi, Ba Tư, Yemen hay Đông Âu đều phát triển những phong cách ăn mặc riêng. Đôi khi họ tự nguyện giữ trang phục khác biệt để bảo tồn bản sắc dân tộc. Trong những thời kỳ khác, chính quyền địa phương lại buộc người Do Thái phải mặc những trang phục hoặc đeo những dấu hiệu riêng để phân biệt họ với cộng đồng xung quanh.

Chính trong hoàn cảnh đó, quần áo trở thành một phần của câu chuyện sinh tồn của dân tộc Do Thái. Nó phản ánh cuộc đấu tranh không ngừng giữa việc hội nhập với xã hội và việc bảo tồn căn tính mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ.

Tuy nhiên, bất kể kiểu dáng hay thời đại nào, thông điệp sâu xa nhất của trang phục Do Thái vẫn không thay đổi. Quần áo không phải là mục đích cuối cùng. Chúng chỉ là phương tiện nhắc nhở con người về những giá trị thuộc linh bên trong. Các giáo sĩ Do Thái nhiều lần cảnh báo chống lại sự phô trương, xa hoa hoặc việc sử dụng trang phục để tìm kiếm sự chú ý. Thay vào đó, họ nhấn mạnh đến sự khiêm nhường, phẩm giá và lòng kính sợ Đức Chúa Trời.

Đó cũng là lý do người Do Thái từ lâu đã có truyền thống mặc những bộ quần áo đẹp nhất trong ngày Sa-bát và các kỳ lễ trọng. Không phải để khoe khoang, mà để bày tỏ sự tôn trọng đối với ngày thánh mà Đức Chúa Trời đã biệt riêng.

Nhìn từ góc độ thuộc linh, quần áo Do Thái nhắc nhở chúng ta rằng đời sống đức tin không chỉ nằm trong những điều chúng ta tin mà còn thể hiện qua cách chúng ta sống. Trang phục có thể thay đổi theo thời gian và văn hóa, nhưng tấm lòng kính sợ Đức Chúa Trời, sự khiêm nhường và lòng trung thành với Ngài mới là điều thực sự làm nên vẻ đẹp của một con người trước mặt Đức Chúa Trời.

Có lẽ đó chính là bài học lớn nhất mà lịch sử trang phục Do Thái để lại cho chúng ta: điều quan trọng không phải là chúng ta mặc gì, mà là chúng ta thuộc về ai và đời sống của chúng ta phản ánh điều gì về Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ phượng.

Mục vụ Do Thái.

https://www.mucvudothai.org/post/quần-áo-do-thái-không-chỉ-là-trang-phục-mà-còn-là-bản-sắc-đức-tin



Address

Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 18:00
Tuesday 08:00 - 18:00
Wednesday 08:00 - 18:00
Thursday 08:00 - 18:00
Friday 09:00 - 18:00
Saturday 08:00 - 18:00
Sunday 08:00 - 18:00

Telephone

+84935267297

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Mục Vụ Do Thái posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Mục Vụ Do Thái:

Share