Nhân Hoà Y Viên - 仁和医园

Nhân Hoà Y Viên - 仁和医园 Kênh giới thiệu Ưu Phẩm chính thức thông qua Nhân Hoà Y Đạo kiểm duyệt chất lượng !

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG NGỌC BÌNH PHONG TÁN TRÊN LÂM SÀNG CỦA GIÁO SƯ TANG KHÔN ĐƯỜNG (PHẦN 1)     Ngọc bình phong tán thành...
01/06/2024

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG NGỌC BÌNH PHONG TÁN TRÊN LÂM SÀNG CỦA GIÁO SƯ TANG KHÔN ĐƯỜNG (PHẦN 1)
Ngọc bình phong tán thành phần gồm 3 vị thuốc: Hoàng kỳ, Bạch truật, Phòng phong. Giáo sư Tang Khôn Đường Đại học y khoa Phương Nam trong lâm sàng thường sử dụng Ngọc bình phong tán gia giảm để điều trị các chứng ngoại cảm và nội thương, bao gồm cả các bệnh về miễn dịch dị ứng, hiệu quả được đánh giá khá cao. Kinh nghiệm điều trị chủ yếu có thể tóm gọn lại như sau: “Hư nhân ngoại cảm, ích khí giải biểu; Ích khí cường thân, bất câu ngoại cảm; Phù chính kháng mẫn, cố vệ khư tà”.
Tang Khôn Đường là giáo sư Đại học y khoa phương Nam, danh lão trung y cấp quốc gia, là một trong 2 thế hệ giáo sư hướng dẫn và truyền nghề. Thầy Tang có hơn 60 năm kinh nghiệm trong nghề, chuyên điều trị những chứng bệnh khó, thường hay sử dụng linh hoạt cổ phương, lại từ đó mà xây dựng lên tân phương, đặc biệt, ông rất tâm đắc trong việc sử dụng Ngọc bình phong tán gia giảm để điều trị các bệnh ngoại cảm và nội thương tạp chứng trên lâm sàng, hiệu quả vô cùng tốt.
Ngọc bình phong tán là một bài cổ phương tạo nên bởi 3 vị thuốc: Hoàng kỳ, Bạch truật, Phòng phong. Trong phương thang này, các vị thuốc tuy đơn giản nhưng lại có chọn lọc, kết cấu chặt chẽ, lấy thuốc bổ khí cố biểu làm chủ đạo, phối hợp với lượng nhỏ thuốc khư phong giải biểu, bổ trung để tán, động tĩnh kết hợp, dựa lý để cố biểu mà không làm lưu tà. Kha Cầm nói về phương này “Người muốn tán phong tà thì dựa vào nó như tấm bình phong, và trân quý nó như ngọc”. Tầm quan trọng của phương thuốc này trong lâm sàng giúp ta có thể thấy rõ được điều này. Thầy Tang rất trân trọng bài thuốc này, ông nắm chắc hai chữ “Ngọc bình” và mở rộng phạm vị ứng dụng điều trị của bài thuốc cho nhiều bệnh tất khác nhau, thu lại hiệu quả đáp ứng khá tốt. Sau đây chúng tôi sẽ phân tích để mọi người có thể cùng tham khảo.
1. Hư nhân ngoại cảm, ích khí giải biểu
“Tố vấn - thiên Bình nhiệt bệnh luận” có viết: “Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư”. Những người bình thường có thể chất hư nhược, vệ ngoại bất cố thì dễ bị mắc ngoại cảm. Trong trường hợp này, thầy Tang cho rằng, bệnh ở biểu thì thường dùng cách cho ra mồ hôi để xử lí, nhưng với người khí hư kèm theo biểu chứng thì lại lấy ích khí để giải biểu mới là thích hợp. Trên thực tế lâm sàng thường sử dụng Ngọc bình phong tán để gia tăng công năng của vệ ngoại, tăng cường cho hàng rào phòng thủ bên ngoài, kết hợp với thuốc sơ phong giải biểu để khu tà giải biểu. Thầy Tang dùng Ngọc bình phong tán gia giảm rất nhiều trong việc phòng ngừa và điều trị các triệu chứng giống như cảm mạo ở người có thể chất hư nhược mắc bệnh mạn tính và suy giảm sức đề kháng như lao, bệnh lý gan mạn tính, bệnh nhân ung thư trong giai đoạn hoá trị…
Thầy Tang có môt phương thang kinh nghiệm, lấy tên là “Phù chính giải biểu thang”, lấy nền tảng là Ngọc bình phong tán gia thêm Ngân hoa 10g, Hoàng cầm 10g, Bản lam căn 20g, Sinh cam thảo 10g mà thành. Phương thang này trên lâm sàng thường dùng cho người thể trạng hư nhược mắc bệnh lý đường hô hấp nguyên nhân do cảm phải phong nhiệt. Nếu như là ngoại cảm phong hàn, các vị thuốc có tính thanh nhiệt giải độc trong thang có thể đổi thành Khương hoạt, Kinh giới, Quế chi; Nếu như ăn không ngon miệng, đại tiện lỏng nát, rêu lưỡi dính nhớt thì gia Hoắc hương, Sa nhân, Tiêu tam tiên; Nhiệt độc nhập lý, tráng nhiệt gia thêm Thạch cao, Tri mẫu; Hầu họng khô đau, vú sưng đau gia Sơn đậu căn, Ngưu bàng tử.
2. Ích khí cường thân, bất câu ngoại cảm
“Tố Vấn - thiên Dị thiên thích pháp luận” viết: “Chính khí tồn nội, tà bất khả can”. Chính khí bất túc, không có khả năng chống lại tà, bệnh dễ kéo dài dai dẳng, lâu khỏi và dễ tái phát. Phương thuốc này giúp phù chính khu tà, có thể dùng để điều trị các bệnh nội khoa. Thầy Tăng thường dùng cho các bệnh lý dễ tái phát như viêm đường hô hấp ở trẻ nhi, bệnh nhân hen suyễn và viêm phế quản mạn tính sau giai đoạn cấp, ho dai dẳng ở người thể chất hư nhược bị ngoại cảm, tiêu chảy mạn tính…
Trong điều trị ung thư, thầy Tăng đặc biệt rất thích dùng phương thang này. Phù chính ức nham thang cũng là được xây dựng dựa trên cơ sở của bài Ngọc bình phong tán, thành phần của bài thuốc gồm: Sâm tươi phơi khô 5g (sắc riêng), Sinh hoàng kỳ 30g, Nga truật 15g, Sinh bạch truật 20g, Vân phục linh 30g, Sinh ý dĩ 30g, Hoàng tinh chế 20g, Kê huyết đằng 15g, Thất diệp nhất chi hoa 15g, Bán chi liên 30g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g. Thang thuốc này có thể dùng cho bệnh nhân ung thư đã trải qua phẫu thuật, xạ trị và hoá trị hoặc cho bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn, sức khoẻ yếu không thể tiếp nhận xạ trị hay hoá trị; hoặc cho bệnh nhân ung thư di căn. Hiệu quả điều trị của bài thuốc này rất đáng chú ý. Nó có thể cải thiện khả năng miễn dịch của bệnh nhân, kéo dài tuổi thọ và cải thiện chất lượng sống. Đồng thời nó có thể hỗ trợ giảm khả năng tái phát và làm chậm quá trình di căn, bài thuốc thông qua biện chứng mà gia giảm, nó có thể làm giảm tỳ lệ mắc các tác dụng phụ độc hại do xạ trị và hoá trị gây ra.
(còn tiếp)
Nguồn: 国医大师用玉屏风散的三点经验. (2023, 12 04). Wexin.
Người dịch: Bs Hồng Hưng - Nhân Hoà Y Đạo

NGỌC BÌNH PHONG TÁN (Thế y đắc hiệu phương) Chủ trị: Biểu hư tự hãn Triệu chứng chính: Tự hãn, ố phong, diện sách hạo bạ...
30/05/2024

NGỌC BÌNH PHONG TÁN
(Thế y đắc hiệu phương)
Chủ trị: Biểu hư tự hãn
Triệu chứng chính: Tự hãn, ố phong, diện sách hạo bạch, thiệt đạm, mạch hư (Tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, mạch hư)
Nguyên nhân gây bệnh: Vệ khí hư nhược, bất năng cố biểu (Vệ khí suy yếu, không cố biểu được)
Công dụng: Ích khí, cố biểu, chỉ hãn
Dược vị: Hoàng kỳ, Phòng phong, Bạch truật
Tác dụng: Ích khí kiện tỳ, cố biểu, chỉ hãn. Trị chứng biểu hư, vệ khí không vững chắc, dễ bị cảm, sợ gió, ra mồ hôi, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch Phù, Hư, Nhuyễn
Giải thích: Hoàng kỳ dùng liều cao để ích khí, cố biểu, là chủ dược; Bạch truật kiện tỳ; Phòng phong khu phong. Phòng phong phối với Hoàng kỳ, dẫn Hoàng kỳ ra ngoài biểu để chế ngự phong tà; Hoàng kỳ có Phòng phong thì tránh được lưu ngoại tà; Phòng phong có Hoàng kỳ sẽ tránh được trạng thái phát biểu thái quá. Bài này thuộc về phép "trong bổ có tán, trong tán có bổ".
Nguồn: Phương tễ học - Hoàng Duy Tân

✨KINH NGHIỆM DÙNG HẮC QUY TỲ HOÀN ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ CỦA GIÁO SƯ TĂNG KHÁNH MINH✨     Bệnh nhân họ Trương, nữ, 42 tuổi, là...
23/05/2024

✨KINH NGHIỆM DÙNG HẮC QUY TỲ HOÀN ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ CỦA GIÁO SƯ TĂNG KHÁNH MINH✨
Bệnh nhân họ Trương, nữ, 42 tuổi, là công nhân viên chức, đến khám ngày 1/4/2013.
Lý do khám: mất ngủ hơn 2 tháng
Bệnh sử: Hai tháng nay mất ngủ, thời gian ngủ được khá ngắn, một đêm ngủ được khoảng 4 tiếng, tỉnh dậy sớm, sau khi tỉnh khó ngủ lại, vì thế mà toàn thân mệt mỏi, sắc mặt vàng, tinh thần khó chịu dễ cáu gắt, ăn uống không ngon miệng, thường hoa mắt chóng mặt, kinh nguyệt bình thường, nhưng khá nhiều máu cục, căng ngực trước kinh, không đau bụng; tiền sử bị lupus ban đỏ hệ thống, đang uống thuốc Tây y để kiểm soát hormon. Chất lưỡi nhợt tím hơi non, mạch huyền tế nhược.
Biện chứng: khí huyết lưỡng hư kèm ứ
Pháp điều trị: Ích khí dưỡng huyết, khứ ứ hành trệ trợ giúp giấc ngủ.
Phương thuốc: Hắc quy tỳ hoàn gia giảm: Chích hoàng kỳ 15, đảng sâm 10, đương quy 19, xuyên khung 10, bạch thược 10, thục địa 15, phục thần 30, toan táo nhân sao 30, đan sâm 20, hà thủ ô chế 10, kê huyết đằng 15, bồ hoàng 10, cam thảo 5, mạch nha 30, mộc hương 3. Kê 7 thang
Tái khám 3/5/2013: Kết quả thật thần kỳ, mất ngủ đã không còn, từ đó về sau chưa từng bị tái phát lại, sắc mặt hồng nhuận, ngủ ngon sâu giấc, ăn ngon miệng và nhiều hơn, bệnh lupus ban đỏ hệ thống cũng ổn định, lượng thuốc Tây kiểm soát Hormon cũng giảm 1 nửa.
Phân tích bệnh án:
(1) Bệnh nhân mất ngủ 2 tháng, mệt mỏi, sắc mặt vàng, chán ăn, đầu choáng mắt hoa, có thể thấy là khí huyết lưỡng hư, lại thêm tính tình cáu gắt, trước kỳ kinh ngực căng, kinh nguyệt có máu cục, không thể nghi ngờ là do khí trệ huyết ứ, lại kết hợp với chất lưỡi nhạt tím hơi non, rêu trắng mỏng, mạch huyền tế nhược. Có thể chẩn đoán thất miên thể khí huyết lưỡng hư kèm ứ và trệ.
(2) Bệnh nhân nữ, 42 tuổi, theo “Tố Vấn- Thượng cổ thiên chân luận” nói: “Nữ tử thất tuế, thận khí thịnh, xỉ canh phát trưởng; nhị thất nhi thiên quý chí, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thì hạ, cố hữu tử…. lục thất tam dương mạch suy vu thượng, diện giai tiêu, phát thủy bạch; thất thất nhậm mạch hư, thái xung mạch suy thiếu, thiên quý kiệt, địa đạo bất thông, cố hình hoại nhi vô tử dã.” (tạm dịch: Nữ tử 7 tuổi, thận khí thịnh, thay răng phát triển; 14 tuổi thiên quý đến, mạch nhâm thông, mạch thái xung thịnh; có kinh nguyệt; có thể mang thai… 42 tuổi mạch tam dương suy, mặt đều sạm, tóc bắt đầu bạc; 49 tuổi mạch nhâm hư, mạch thái xung khuyết thiếu, thiên quý kiệt, địa đạo không thông, do đó không thể có con được nữa). Mạch tam dương tức là thái dương, dương minh, thiếu dương. “Tố vân- Sinh khí thông thiên luân” nói: “Dương khí giả, tinh tắc dưỡng thần”. Cho nên phụ nữ trong giai đoạn tuổi trẻ rất dễ bị dương hư không thể hoá tinh vi để dưỡng thần, dẫn đến khi có chút thay đổi nhỏ thì liền bị mất ngủ, thậm chí tinh thần bị rối loạn. “Tố vấn- Cử thông luận”: “Bách bệnh sinh vu khí dã, nộ tắc khí thượng,... tư tắc khí kết,... tư tắc tâm hữu sở tồn, thần hữu sở quy, chính khí lưu nhi bất hành, cố khí kết hĩ”. (Tạm dịch: bách bệnh sinh do khí. Nộ thì khí đi lên, lo nghĩ thì khí kết, … Lo nghĩ thì tâm có chỗ để tồn tại, thần có nơi quay về, chính khí lưu mà không hành, cho nên khí kết là vậy.” Khi lo nghĩ thái quá, sẽ ảnh hưởng đến chức năng sinh lý bình thường của cơ thể, quan trọng nhất là ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của tỳ khí, dễ gây khí trệ hoặc khí kết, tỳ chủ vận hoá, chức năng thăng thanh mất bình thường, đều sẽ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như không thèm ăn, bụng chướng đầy, hoa mắt chóng mặt, dẫn đến thất miên. Cái này là do lo nghĩ nhiều thương đến tỳ. Quy tỳ hoàn vốn có khả năng ích khí kiện tỳ, dưỡng huyết an thần. Dùng cho chứng tâm tỳ lưỡng hư, tâm quý khí đoản, mất ngủ hay mơ, hoa mắt chóng mặt, tay chân vô lực, ăn không ngon, khi huyết hư rõ rệt , kèm theo thận tinh hư tổn, nếu sắc mặt vàng, tâm quý, mơ nhiều, đau thắt lưng, ù tai hoa mắt là tinh hư, thì dùng Hắc quy tỳ hoàn.
Trong phương dùng chích kỳ, đẳng sâm, cam thảo kiện tỳ ích khí, tỳ khí mạnh thì có nguồn để hoá sinh; đương quy, xuyên khung, thục địa thêm bạch thược tạo thành Tứ vật thang có công dụng bổ huyết; phục thần, toan táo nhân dưỡng huyết, bổ tâm, an thần, tâm khí mạnh thì thần tự yên; mộc hương lý khí tỉnh tỳ, khiến các thuốc bổ mà không trệ; mạch nha hành khí khai vị; kê huyết đằng, bồ hoàng hoạt huyết hoá ứ; hà thủ ô chế điền bổ thận âm; các vị thuốc hợp lại cùng nhau bổ tỳ ích thận, dưỡng tâm an thần, cho nên giáo sư Tăng sử dụng Hắc quy tỳ thang, hầu như các vị thuốc trong đó đều hỗ trợ lẫn nhau, giống như ấn đúng vào công tắc, khiến cho khí kết ở bệnh nhân được thông suốt, ngắt đi sự tuần hoàn ác tính giữa khí kết và mất ngủ, cho nên bệnh tình chuyển biến tốt lên rất nhanh, “hiệu quả thần kỳ”.
Nguồn: 深圳 曾庆明传承工作室 2016
------Bs Hiền Hương dịch------

QUY TỲ THANG (Tế sinh phương)      Chủ trị: Tâm Tỳ khí huyết lưỡng hư, Tỳ bất thống huyết.      Chứng trạng chính: Tâm q...
21/05/2024

QUY TỲ THANG
(Tế sinh phương)

Chủ trị: Tâm Tỳ khí huyết lưỡng hư, Tỳ bất thống huyết.
Chứng trạng chính: Tâm quý, thất miên, thận quyện, thực thiểu, tiện huyết hoặc băng lậu, thiệt đạm, mạch tế nhược (tim đập mạnh, hồi hộp, mất ngủ, người mệt mỏi, ăn uống kém, tiêu ra máu hoặc rong huyết, lưỡi nhạt, mạch tế nhược).
1, Tâm Tỳ khí huyết lưỡng hư chứng: Tâm quý chính xung, hay quên, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, ăn ít, sắc mặt vàng úa, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt.
2, Tỳ bất thống huyết chứng: Đại tiện ra máu, xuất huyết dưới da, kinh nguyệt trước kì, lượng kinh nhiều, màu nhạt hoặc rọng kinh không dứt, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Nguyên nhân gây bệnh:
1, Tỳ khí hư nhược mà ảnh hưởng công năng vận hoá. Tâm huyết bấc túc mà không dưỡng được thần
2. Tỳ khí hư nhược không thống nhiếp được huyết
Thành phần: Nhân sâm, Long nhãn, Hoàng kỳ sao, Bạch truật, Đương quy, Phục linh, Toan táo nhân sao, Viễn chí, Mộc hương, Chích cam thảo.
Tác dụng: Kiện tỳ ích khí, bổ huyết dưỡng tâm.
Nguồn: Phương tễ học - Hoàng Duy Tân

🌟Chia sẻ bệnh án: RỤNG TÓC DO RỐI LOẠN CẢM XÚC🌟Hôm nay xin chia sẻ một ca bệnh rụng tóc khá đặc biệt, mình điều trị khá ...
17/05/2024

🌟Chia sẻ bệnh án: RỤNG TÓC DO RỐI LOẠN CẢM XÚC🌟
Hôm nay xin chia sẻ một ca bệnh rụng tóc khá đặc biệt, mình điều trị khá lâu rồi, hiệu quả đủ để chứng minh sức mạnh của Đông y trong điều tiết thể chất và tinh thần.
Bệnh nhân nữ, 25 tuổi, gọi điện khám với lý do rụng tóc từng mảng. Cô gái giọng nhỏ nhẹ, có chút hụt hơi khi nói, vừa chào hỏi vài câu thì đã khóc nấc lên: “Chị ơi, giúp em với em hoảng loạn quá!” Và bắt nguồn từ lý do rụng tóc, tôi đã có một buổi điều trị kết hợp với rối loạn cảm xúc.
Thì ra bạn ấy cách đây 5 tháng do một vài lý do nên chia tay bạn trai, sau khi chia tay luôn cảm thấy khó chịu, bụng ngực căng đét, đau tức, ăn uống kém, đầu đau liên tục nhất là vùng quanh đầu và hai bên thái dương. Bạn đã thử dùng thuốc giảm đau nhưng không đỡ, cơn đau đầu mỗi khi suy nghĩ hoặc căng thẳng dày vò khiến bạn ấy chán ghét mọi thứ xung quanh, thậm chí còn cãi nhau với bố mẹ, bạn bè. Sau khi chia tay khoảng 3 tháng thì bạn ấy xuất hiện triệu chứng rụng tóc, số lượng tóc rụng rất nhiều (khoảng 100 sợi/ ngày) khiến bạn ấy hoảng loạn. Ban đầu vùng rụng tóc là 1 đốm bằng đầu ngón tay, rồi to dần thành từng mảng.
Bạn ấy qua bệnh viện da liễu khám và dùng thuốc, cả dạng uống, dạng xịt, kết hợp thực phẩm chức năng nhưng không đỡ. Tiếp đó, bạn ấy nghe quảng cáo các loại thuốc như Hà thủ ô, mè đen nên mua về dùng cũng không khả quan. Sau khi nghe người thân giới thiệu, bạn ấy đã gọi điện tìm đến phòng khám.
Bệnh nhân sắc mặt nhợt nhạt, môi nhạt, tinh thần kém, giọng nói nhỏ, mệt mỏi, thở dài liên tục. Đau tức ngực bụng, đau đầu. Trên đầu có 3 mảng tóc trống, da đầu không b**g vảy, không ngứa, diện tích khá lớn, vết to nhất bằng hai ngón tay. Tóc khô, xơ, dễ gãy rụng. Ăn uống kém, ăn vào hay đầy bụng, đi ngoài phân nát nhưng khó đi, đi không có lực, cảm giác đi không hết. Đến kỳ kinh lượng máu ít, thường chậm kinh 7-10 ngày, máu tươi, hay bị đau lưng, tức ngực trước khi đến kỳ. Đêm khó vào giấc ngủ, nhưng khi ngủ thì mê mệt, hay giật mình tỉnh giấc, mơ ác mộng như rụng răng, rụng hết tóc hoặc bị truy đuổi…, sáng dậy mệt mỏi, không muốn dậy. Bệnh nhân thường xuyên tự nhốt mình trong phòng, không muốn giao tiếp với những người xung quanh, luôn muốn khóc, cảm thấy đau khổ khi nghĩ đến người cũ. Lưỡi nhiều hằn răng, màu hơi nhạt, rêu trắng dày, đầu lưỡi đỏ.
Cơ chế bệnh đã rõ: Thông thường Can khí chủ sơ tiết, cô gái sau khi thất tình, nhiều cảm xúc không được giải phóng khiến can khí uất kết, khí trệ không thông khiến cho cơ thể xuất hiện các chứng đau tức. Can khí vượng áp chế Tỳ, Tỳ khí hư, vận hóa kém dẫn đến mất cảm giác muốn ăn, rối loạn tiêu hóa. Tỳ khí yếu còn khiến cho chức năng sản sinh khí huyết kém, khí huyết không đủ nên sắc mặt nhợt nhạt. Tóc được tính là phần dư của huyết, khí huyết không đủ thì nang tóc không được nuôi dưỡng, tóc khô xơ, dễ rụng. Khí huyết yếu nên kinh nguyệt chậm, lượng ít. Khí huyết yếu còn ảnh hưởng đến Tâm, Tâm huyết kém nên khó ngủ, ngủ nông dễ tỉnh. Can khí uất kết lâu ngày hóa hỏa bốc lên nhiễu Tâm, khiến tinh thần dễ hoảng loạn, khó kiểm soát cảm xúc, gặp ác mộng…
Do đó phương án điều trị tập trung vào Sơ can, kiện Tỳ, dưỡng huyết.
🌟 Đơn thuốc được kê như sau: Bạch thược 12g, Đương quy 12g, Phục linh 15g, Bạch truật 15g, Bạc hà 8g, Sài hồ 12, Chích thảo 10g, Thục địa 20g, Hoàng kỳ 10, Hồng cảnh thiên 10, Ý dĩ sao 10, Đại táo 10, Hương phụ 8, Sinh khương 8.
Sau khi sử dụng 10 ngày thuốc, người bệnh cảm thấy triệu chứng đau đầu, căng tức, thở dài mệt mỏi giảm hẳn, đã có cảm giác muốn ăn cơm, có tinh thần hơn, bắt đầu cởi mở nói chuyện với mọi người; đã có cảm giác buồn ngủ, không mơ ác mộng nhiều nữa, tỉnh dậy đỡ mệt hơn, đặc biệt lượng tóc rụng ngày một ít đi.
21 đơn tiếp theo nguyên phương gia thêm 15g chế Hà thủ ô, dùng kèm với Sinh tóc bổ huyết hoàn, sau 2 tuần hỏi bệnh, vùng da đầu rụng tóc đã xuất hiện chân tóc mới, có các sợi tóc nhỏ mọc lên lấm tấm. Cô gái ngủ ngon, sâu giấc, lấy lại được niềm tin, vui vẻ hoạt bát hơn. Tiếp đó 3 tháng sau tóc đã không còn rụng nữa, tình trạng rối loạn cảm xúc hết hẳn, thể chất đã phục hồi, người bệnh cảm thấy tìm được cách sống mới tích cực và chăm chỉ tập luyện thể thao.
Bệnh án này là một ca điển hình về vấn đề rụng tóc do rối loạn cảm xúc, hiệu quả cũng rất rõ rệt. Mọi triệu chứng có vẻ nặng và phức tạp nhưng cơ chế bệnh vô cùng đơn giản. Có thể thấy rõ được hiệu quả điều tiết thể chất lẫn tinh thần của thuốc Đông y rất rõ rệt, chỉ cần người thầy thuốc biện chứng đúng, nhắm chuẩn, phối hợp thuốc phù hợp với tình trạng khí huyết, tạng phủ của người bệnh là có thể giải quyết vấn đề nhanh gọn.

Chúc cả nhà đầu tháng vui vẻ!❤️
—NCS Tiến sĩ Bs Thương Yêu —

TÓC THƯA, YẾU, DỄ GÃY RỤNG: ĐỪNG XEM THƯỜNG CÁC VẤN ĐỀ CỦA TÓC     Các cụ có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người”. M...
15/05/2024

TÓC THƯA, YẾU, DỄ GÃY RỤNG: ĐỪNG XEM THƯỜNG CÁC VẤN ĐỀ CỦA TÓC
Các cụ có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Mái tóc là một phần giúp tôn lên vẻ đẹp về ngoại hình của mỗi người, mái tóc còn là một phần giúp bảo vệ và che chắn cho da đầu khỏi những tác nhân thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm.... Tuy nhiên có một điều không phải ai cũng biết, đó là mái tóc còn là hiện thân phản ánh tình trạng sức khoẻ của bạn có tốt hay không.
Theo đông y, tóc là phần dư của huyết. Câu này có thể hiểu một cách đơn giản, là khi lượng máu dịch trong cơ thể đầy đủ, lưu thông tốt, phân bố khắp các cơ quan nội tạng thì sẽ cung cấp một phần dinh dưỡng trong nó đi nuôi dưỡng và hình thành nên tóc. Vậy nên, nếu tóc không được nuôi dưỡng đầy đủ sẽ gây ra các biểu hiện tóc hư tổn ở các mức độ khác nhau.
Các nguyên nhân hay gặp nhất bao gồm:
Huyết hư: bản thân lượng máu dịch không đủ để cung cấp và đưa lên nuôi dưỡng tóc thì tóc sẽ bị khô, xơ, dễ gãy rụng, sợi mảnh hơn, tốc độ mọc chậm hơn so với rụng đi, bạc trắng...
Huyết nhiệt: đây là tình trạng mà mọi người hay gọi là “nóng trong” , do công năng tạng phủ bất thường, sinh ra một lượng nhiệt quá tải đối với cơ thể, không thoát ra được. Lượng nhiệt này hun đốt bên trong, làm hao hụt nguồn dinh dưỡng mà không thể cung cấp nuôi dưỡng cho tóc dẫn đến tóc bị khô, mỏng, dễ rụng
Thấp nhiệt: cũng là tình trạng huyết nhiệt tuy nhiên loại nhiệt này lại kết hợp với các sản phẩm dư thừa trong cơ thể gây ra nhiều tình trạng ứ đọng. Loại này ngoài tóc rụng còn hay xuất hiện tình trạng như da nhiều dầu, tóc dễ bị bết lại, sờ da đầu có cảm giác mềm, lỏng lẻo thậm chí là bùng nhùng.
Can thận bất túc: Can thận là nơi lưu trữ năng lượng vật chất quý báu nhất cơ thể. Không chỉ là tóc mà toàn bộ não bộ, hệ thần kinh trung ương.Trong trường hợp này để nói đến những người tóc từ nhỏ đã đã yếu, hoặc người già tóc bạc, tóc rụng.
Điều trị tóc không đơn thuần là nhằm đạt được tính thẩm mỹ, mà quan trọng nhất là chữa trị những rối loạn của cơ thể, ngăn ngừa bệnh tật phát sinh ngay từ giai đoạn đầu.
BÀI THUỐC GIA TRUYỀN SINH TÓC BỔ HUYẾT HOÀN
Thành phần: Bài thuốc được phối hợp các vị thuốc có nguồn gốc hoàn toàn tự nhiên như: Hà thủ ô, Đương quy, Thục Địa, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Bá tử nhân… đều là các vị thuốc quý có công dụng bổ khí dưỡng huyết, bổ can thận. giúp cho tóc chắc khỏe, mềm mại bóng mượt, tăng cường chức năng gân xương.
Chủ trị: điều trị người tóc bạc sớm, tóc thưa, tóc rụng, tóc xơ, tóc khô, tóc dễ gãy
Quy cách đóng hộp và cách dùng: hộp 21 viên, 1 viên khối lượng 6g
Liều lượng và cách dùng: dùng 3 viên 1 ngày, chia 3 lần sau ăn 30 - 60 phút, uống với nước ấm.

Kinh nghiệm dùng Độc hoạt tạng ký sinh trong điều trị đau lưng     Bệnh sử: Bệnh nhân họ Hoàng  48 tuổi. Cách đây hơn 1 ...
04/05/2024

Kinh nghiệm dùng Độc hoạt tạng ký sinh trong điều trị đau lưng
Bệnh sử: Bệnh nhân họ Hoàng 48 tuổi. Cách đây hơn 1 năm, bệnh nhân xuất hiện cơn đau không rõ rệt dưới vùng thắt lưng, đồng thời lan xuống chi dưới, vùng lưng đau mỏi yếu, rất dễ mệt mỏi, trời lạnh đau tăng, chườm ấm đỡ đau, đã từng điều trị châm cứu tại cơ sở gần nhà có đỡ nhưng tái phát nhiều lần, trước khi khởi bệnh, bệnh nhân ăn uống bình thường, ngủ bình thường, đại tiểu tiện bình thường, lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm huyền.
Biện chứng luận trị:
Chẩn đoán y học cổ truyền: Chứng tý
Chẩn đoán chứng hậu: Can thận âm hư, khí huyết bất túc
Trị pháp: Bổ can thận, hoạt huyết chỉ thống.
Phương thuốc: Độc hoạt tang ký sinh gia giảm. Độc hoạt 10g, tang ký sinh 10g, phòng kỷ 10g, tần cửu 19g, đương quy 5g, đỗ trọng 10g, sinh địa hoàng 15g, ba kích thiên 10g, hoàng bá 15g, ngưu tất 10g, toàn yết 3g, uy linh tiên 10g, hải phong đằng 20g, hoàng kỳ 30g, bạch thược 10g. 7 thang sắc uống trong 7 ngày.
Tái khám lần 1: Bệnh nhân nói vừng lưng đau đã nhẹ đi, khi ngủ dễ xuất hiện chuột rút chi dưới bên P, các triệu chứng khác giống như trên. Gia mộc qua15g, khương hoàng 5g, quế chi 5g, 7 thang sắc uống.
Tái khám lần 2: Cơn đau vùng thắt lưng tiếp tục giảm nhẹ hơn, ít khi bị đau mỏi, tinh thần tốt lên, không xuất hiện chuột rút, các tình trạng khác vẫn ổn định, lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng, mạch hơi trầm. Tiếp tục duy trì đơn cũ trong 14 ngày.
Tái khám lần 3: Lưng đã hoàn toàn khỏi đau, thi thoảng trời lạnh thì có chút không dễ chịu, sau ăn đầy bụng, ngón chân P có hơi sưng, các tình trạng không phát hiện bất thường, điều chỉnh dùng thuốc bỏ toàn yết 3g, uy linh tiên 10g, hải phong đằng 20g, gia ý dĩ nhân 30g, đẳng sâm 10g, thương truật 10g, hương phụ 10g, dùng thuốc một tuần.
Sau đó bệnh nhân tới khám thì các triệu chứng đều đã khỏi, không phát hiện bất thường, tiến hành ngưng thuốc dặn bệnh nhân tiếp tục quan sát.
Phân tích
Bệnh nhân lý do chính là đau lưng, chứng này bệnh danh là chứng tý. Y học cổ truyền có câu: “Bất thông tắc thống, bất vinh tắc thống”. Ngoài ra Y học cổ truyền còn cho rằng chính hư chính là gốc bệnh của đau lưng. Phủ của lưng là thận, có quan hệ mật thiết với thận, cho nên lâm sàng có các chứng đau lưng, mỏi lưng, lưng yếu đều thuộc về chứng can thận âm hư, khí huyết bất túc, chủ phương là Độc hoạt ký tang ký sinh. Phương này chủ yếu dùng cho điều trị tạng phủ hư tổn, khí huyết bất túc, lại nhiễm phải phong hàn tà, gây ra chứng tý đau mỏi lâu ngày không khỏi, có tác dụng bổ chính khí, mạnh lưng gối, điều trị đau mỏi. Bệnh nhân này sau khi cảm phải hàn tà thì đau tăng, suy xét bệnh nhân có dương khí bất túc. Bệnh nhân mắc bệnh hơn 1 năm là một thời gian dài, bệnh lâu ngày rất dễ có đàm ứ, cho nên khi điều trị dựa trên cơ sở Độc hoạt tang ký sinh gia thêm toàn yết, thuốc nhóm dây leo như hải phong đằng, và hoàng kỳ để bổ khí. Trong quá trình tái khám, căn cứ vào tình trạng chuột rút ở bệnh nhân mà gia thêm mộc qua, khương hoàng có tác dụng thư cân hoạt lạc. Dựa vào tình trạng tỳ vị bất hòa, ngón chân sưng, gia thêm các thuốc kiện tỳ trừ thấp như đẳng sâm, ý dĩ nhân.
Nguồn: Y án biên tập - Bệnh viện nhân dân thành phố Dương Giang.
__Bs Vương Toàn dịch__

ĐỘC HOẠT TANG KÍ SINH (Thiên kim phương) Chủ trị: Tý chứng nhật cửu, Can Thận lưỡng hư, khí huyết bất túc. Triệu chứng c...
02/05/2024

ĐỘC HOẠT TANG KÍ SINH
(Thiên kim phương)
Chủ trị: Tý chứng nhật cửu, Can Thận lưỡng hư, khí huyết bất túc.
Triệu chứng chính: Yêu tất lãnh thống, chi tiết khuất thân bất lợi, tâm quý, khí đoản, mạch tế nhược (lưng gối lạnh đau, tay chân các khớp khó co duỗi, hồi hộp, hơi thở nông, mạch tế nhược).
Nguyên nhân gây bệnh: Phong hàn thấp tý phạm vào cân cốt, ảnh hưởng tới can thận, hao tổn khí huyết.
Công dụng: Trừ phong thấp, giảm đau, ích can thận, bổ khí huyết.
Dược vị: Độc hoạt, Tần giao, Quế tâm, Phòng phong, Tế tân, Tang kí sinh, Thục địa hoàng, Bạch thược, Đỗ trọng, Phục linh, Ngưu tất, Đương quy, Đảng sâm, Xuyên khung, Chích thảo.
Giải thích: Độc hoạt, Tang kí sinh khu phong trừ thấp, dưỡng huyết hoà vinh, hoạt lạc thông tý là chủ dược; Ngưu tất, Đỗ trọng, Thục địa bổ ích Can Thận, cường cân tráng cốt; Xuyên khung, Đương quy, Thược dược bổ huyết, hoạt huyết; Đảng sâm, Phục kinh, Cam thảo ích khí kiện tỳ, đều có tác dụng trợ lực, trừ phong thấp; Quế tâm ôn can kinh; Tần giao, Phòng phong phát tán phong hàn thấp. Các vị thuốc hợp lại thành một bài thuốc vừa trị tiêu bản, vừa phù chính khu tà, là một phương thường dùng đối với chứng hàn thấp tý.
Nguồn: Phương tễ học - Hoàng Duy Tân

🍀Tư duy sử dụng Đan chi tiêu dao tán điều trị Huyễn vựng🍀     Bệnh nhân nữ,  họ Lưu 70 tuổi vào viện vì lý do đau đầu, c...
25/04/2024

🍀Tư duy sử dụng Đan chi tiêu dao tán điều trị Huyễn vựng🍀
Bệnh nhân nữ, họ Lưu 70 tuổi vào viện vì lý do đau đầu, chóng mặt. 2 tháng trở lại đây, tâm trạng cực độ bi thương, 10 ngày trước từng mắc cảm mạo, đau đầu, hầu họng khô đau, mũi nghẹt chảy nước mũi vàng, kéo dài đến nay thì xuất hiện tình trạng đau đầu chóng mặt, đã nghỉ ngơi, uống thuốc điều dưỡng tại nhà nhưng không khỏi, được người nhà đưa tới khám.
Hiện tại bệnh nhân còn đau đầu hoa mắt, chóng mặt, hàn nhiệt vãng lai, 2 sườn đau tức, tâm phiền mất ngủ, ăn không ngon, không muốn ăn, đại tiện bế kết, tiểu tiện vàng đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch huyền sác.
Chẩn đoán y học cổ truyền: Huyễn vựng thể can uất hóa hỏa.
Pháp điều trị : Sơ can lý khí, khai uất, tán kết
Đơn thuốc: Đan chi tiêu dao tán gia giảm: Sài hồ 12g, đương quy 12g, bạch thược 15g, bạch truật 15g, bạc hà 9g, đan bì 9g, chi tử 9g, uất kim 12g, nguyên hồ 15g, xuyên luyện tử 10g, cam thảo 6g. Kê 5 thang sắc uống.
Tái khám lần 1: Tình trạng đau đầu, chóng mặt đều đã giảm nhẹ, dư chứng khác đều giảm, 2 bên sườn vẫn còn đau, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch huyền sác.
Đơn thuốc: Đơn trước thêm toàn phúc hoa 12g , Toàn yết 15g, ngô cô 2 con, bỏ xuyên luyện tử, gia thêm kê nội kim 30g. Tiếp tục kê uống 5 thang.
Tái khám lần 2: Hai sườn giảm đau, ăn uống tốt hơn, bụng dễ chịu.
Đơn thuốc đổi sang tiểu sài hồ thang gia giảm: Sài hổ 9g, đẳng sâm 15, bán hạ 9g, bạch thược 15g, uất kim 12g, cam thảo 3g, sinh khương 3 lát, đại táo 5 quả. Kê uống 10 thang, kết thúc các triệu chứng đều đã khỏi, hơn năm vẫn chưa tái phát.
🍀Phân tích: Ca này bệnh nhân mắc huyễn vựng cho can uất hóa hỏa gây nên.
Bệnh nhân tình chí ưu thương, can khí uất kết, khí uất hóa hỏa, cảm nhiễm phong nhiệt tà, dương thăng phong động, thượng nhiễu đầu mặt mà gây nên huyễn vựng. Bởi vì thiếu dương uất kèm theo tà khí, trục khí cơ bất lợi, bệnh phát ở ngoài, mà thấy triệu chứng hàn nhiệt vãng lai; phát lên trên mà gây đau đầu, chóng mặt, đêm nằm không yên; phát ở trung, 2 sườn đau, không muốn ăn uống; phát ở dưới mà đại tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ.
Điều trị thì cần điều tiết tâm lý, phối ngũ thuốc để sơ can giải uất, kèm thanh uất nhiệt, cho nên dùng Đan chi tiêu dao tán để sơ can tiết nhiệt, gia uất kim hành khí giải uất, nguyên hồ, xuyên luyện tử lý khí hoạt huyết, chỉ thống, hiệu quả rất tốt. Lần tái khám thứ nhất trọng tuyên thông mạch lạc, ngô công, toàn yết lực thông lạc chỉ thống vô cùng mạnh, có thương vị nên bỏ xuyên luyện tử, gia kê nội kim để bảo hộ tỳ vị. Lần tái khám thứ 2 lấy Tiểu sài hồ thang hòa giải trục khí cơ, bệnh tự ắt được an.
Nguồn: Tư duy sử dụng Đan chi tiêu dao tán của giáo sư Trần Triều Tuấn,Tạp chí nội khoa hiện đại trung hoa, Hội y học truyền thống tỉnh quảng Đông.
__Bs Vương Toàn dịch __

ĐAN CHI TIÊU DAO HOÀN      (Nội khoa trích yếu)      Tên gọi khác: Gia vị tiêu dao tán, Bát vị tiêu dao tán.      Thành ...
23/04/2024

ĐAN CHI TIÊU DAO HOÀN
(Nội khoa trích yếu)
Tên gọi khác: Gia vị tiêu dao tán, Bát vị tiêu dao tán.
Thành phần: Tiêu dao tán (Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh, Chích Thảo, Gừng, Bạc hà) gia thêm Đan bì, Chi tử.
Tác dụng: Sơ can kiện tỳ, dưỡng huyết, thanh nhiệt. Trị các chứng Can Tỳ huyết hư có nhiệt, phiền táo, dễ tức giận, phát sốt hoặc sốt theo cơn, sốt về chiều hoặc tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, hoặc đầu đau, mắt nhắm, hoặc hồi hộp trông yên, hoặc má đỏ, miệng khô, hoặc kinh nguyệt không đều, hông sườn đau, vùng bụng đau, hoặc bụng dưới nặng trệ, tiểu tiện buốt đau, lưỡi đỏ, rêu lưỡi hơi nhạt, mạch huyền hơi sác.
Giải thích: Trong bài, dùng "Tiêu dao tán" để sơ lý can khí, thêm Đan bì, Chi tử để thanh tiết Can hoả.
Ứng dụng lâm sàng: Chủ yếu trị Can uất hoá nhiệt.
Nguồn: sách Phương tễ học _ Hoàng Duy Tân

💥KINH NGHIỆM DÙNG BỔ TRUNG ÍCH KHÍ THANG ĐIỀU TRỊ ĐAU DẠ DÀY💥     Bệnh nhân họ Vương, nam, 43 tuổi, nghề nghiệp nông dân...
19/04/2024

💥KINH NGHIỆM DÙNG BỔ TRUNG ÍCH KHÍ THANG ĐIỀU TRỊ ĐAU DẠ DÀY💥
Bệnh nhân họ Vương, nam, 43 tuổi, nghề nghiệp nông dân. Khám bệnh lần đầu vào ngày 22/5/2010. Bệnh nhân bị đau dạ dày tái đi tái lại đã hơn 2 năm nay. Kết quả nội soi dạ dày cho thấy: viêm mạn tính niêm mạc dạ dày mức độ trung bình có loét, viêm tá tràng; HP(-).
Khám: vùng thượng vị đầy trướng và đau âm ỉ, người mệt mỏi vô lực. Rêu lưỡi mỏng, có điểm ứ huyết, rìa lưỡi có vết hằn răng, mạch quan trái huyền tế, mạch quan phải hoãn vô lực. Đây là do Tỳ Vị hư nhược, trung khí không đủ.
Hướng điều trị: kiện Tỳ ích khí, thăng dương chỉ thống.
Phương thuốc: Bổ trung ích khí thang gia giảm: đảng sâm 30g, chích hoàng kỳ 25g, sao bạch truật 12g, sao bạch thược 12g, sài hồ 5g, chích cam thảo 5g, trần bì 6g, quế chi 6g, thăng ma 6g, đương quy 10g, đại táo 15g, đan sâm 20g. Tổng 7 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc lấy nước uống.
Sau 7 thang, bệnh nhân thấy vùng thượng vị đã giảm đau, nhưng vẫn còn trướng, đại tiện 2-3 ngày 1 lần. Rêu lưỡi mỏng, có điểm ứ huyết, mạch quan trái huyền tế, mạch quan phải hoãn. Phương trên gia thêm tô ngạnh 10g, ý dĩ nhân 15g, quảng mộc hương 8g. Uống liên tục 14 thang thì khỏi.
Phân tích: Thầy Liên cho rằng Tỳ Vị là gốc của hậu thiên, là nguồn để hoá sinh khí huyết, trên lâm sàng cần linh hoạt biến hóa trong việc vận dụng Bổ trung ích khí thang. Bệnh nhân trên Trung tiêu Tỳ hư, Trung khí không đủ, vì thế mà mạch quan phải hoãn vô lực; Tỳ hư thì mộc dễ dàng thừa thổ (can thừa tỳ), cho nên vùng thượng vị đầy trướng đau âm ỉ, mạch quan trái huyền tế. Phương thuốc dùng Bổ trung ích khí gia giảm. Trong đơn có hoàng kỳ, đảng sâm bổ trung ích khí; sao bạch truật, chích cam thảo, đại táo kiện tỳ ích khí; phối hợp với sâm, kỳ để ích khí bổ trung; tá là trần bì lý khí hoà trung; đương quy, đan sâm dưỡng huyết hoạt huyết; dùng lượng nhỏ thăng ma, sài hồ, trợ giúp sâm, kỳ thăng đề dương khí hạ hãm ở dưới; dùng lượng nhỏ quế chi có thể giúp bạch thược sơ can mộc, cố dinh âm.
Khi tái khám, gia thêm ý dĩ nhân, tô ngạnh, mộc hương để kiện Tỳ lý khí hoà trung. Các loại thuốc phối hợp với nhau, khiến Tỳ được kiện vận, Trung khí đầy đủ, khí hạ hãm được thăng lên, thì mọi triệu chứng tự nhiên biến mất.
Chú thích: Bổ trung ích khí thang có tác dụng điều bổ tỳ vị, thăng dương ích khí.
+ Trên lâm sàng bài thuốc có thể dùng để chữa cơ thể vốn hư nhược dễ bị cảm mạo, mệt mỏi ra mồ hôi.
+ Những trường hợp khí hư hạ hãm gây nên các chứng sa nội tạng như sa tử cung, sa thận, sa dạ dày, thoát vị bẹn hoặc sụp mi; dùng bài thuốc gia thêm Chỉ xác hoặc Chỉ thực có kết quả tốt.
+ Trường hợp bệnh đường ruột mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, cơ thể hư nhược có thể dùng bài này có hiệu quả tốt.
+ Trường hợp do khí huyết hư nhược gây nên sốt kéo dài cũng có thể dùng bài thuốc này có kết quả, gọi là phép chữa" Cam ôn trừ đại nhiệt".
Nguồn: Kinh nghiệm vận dụng Bổ trung ích khí thang của thầy Liên Kiến Vĩ - Tạp chí Y học cổ truyền Chiết Giang Trung Quốc
—Bác sĩ Hiền Hương dịch—

Address

Hanoi
0084

Opening Hours

Monday 08:30 - 17:00
Tuesday 08:30 - 17:00
Wednesday 08:30 - 17:00
Thursday 08:30 - 17:00
Friday 08:30 - 17:00
Saturday 08:30 - 17:00

Telephone

+84886526262

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhân Hoà Y Viên - 仁和医园 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Nhân Hoà Y Viên - 仁和医园:

Share