Ta Tự Hào Đi Lên - Việt Nam

Ta Tự Hào Đi Lên - Việt Nam Ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước và những việc làm tử tế.
(6)

05/08/2026

Cái giá của hòa bình hôm nay!

KHI ĐẤT HOANG BUỘC PHẢI TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG, KHÔNG CÒN LÀ CANH BẠC LÃI CHẮC3,2 triệu tỷ đồng, tương đương gần một phần t...
05/08/2026

KHI ĐẤT HOANG BUỘC PHẢI TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG, KHÔNG CÒN LÀ CANH BẠC LÃI CHẮC

3,2 triệu tỷ đồng, tương đương gần một phần tư GDP cả nước, đang bị “chôn” trong hàng nghìn dự án quây tôn, đắp chiếu. Cùng lúc đó, làn sóng phân lô bán nền tự phát tiếp tục băm nhỏ đất nông nghiệp ở nhiều vùng nông thôn, trung du và Tây Nguyên; còn tại các đô thị, hàng loạt khu nhà ở cao cấp xây xong vẫn vắng người, với khoảng 90% bất động sản bỏ hoang thuộc phân khúc này. Trái ngược hoàn toàn, nguồn cung nhà ở bình dân mới chỉ đáp ứng chưa đến 20% nhu cầu thực. Đất đai bị găm giữ, người nông dân mất sinh kế phải ly hương, còn người có nhu cầu ở thực lại không đủ khả năng mua một mảnh đất ngay trên chính quê hương mình.

Đằng sau nghịch lý ấy là một phép tính kinh tế mà giới đầu cơ luôn là bên thắng cuộc. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện chỉ ở mức 0,03-0,15%, gần như không tạo ra bất kỳ áp lực tài chính đáng kể nào. Trong khi đó, giá đất nhiều năm qua tăng nhanh hơn rất nhiều so với chi phí phải bỏ ra để giữ đất. Khi một mảnh đất có thể tăng giá vài chục phần trăm mỗi năm nhưng thuế gần như bằng không, bỏ hoang để chờ tăng giá luôn có lợi hơn đưa đất vào sản xuất hay khai thác. Đó là lý do nhiều khu đất có thể bị “ngâm” cả chục năm mà chủ sở hữu vẫn ung dung.

Nghị quyết 21-NQ/TW nhắm thẳng vào chính phép tính đó. Trong 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết yêu cầu nghiên cứu chính sách thuế theo lộ trình nhằm hạn chế đất bỏ hoang, đầu cơ và găm giữ - những hành vi đang đẩy giá đất, giá nhà vượt xa khả năng chi trả của người dân. Nguyên tắc được đặt ra rất rõ: phải khiến việc giữ đất không sử dụng trở nên tốn kém hơn lợi ích mà đầu cơ mang lại; đồng thời nghiên cứu điều tiết địa tô chênh lệch đối với phần giá trị gia tăng từ bất động sản và áp thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang.

Đó cũng là sự đảo chiều của bài toán kinh tế trên thị trường đất đai. Khi thuế lũy tiến được áp dụng, khi phần giá trị tăng thêm do quy hoạch và đầu tư hạ tầng công cộng tạo ra được điều tiết trở lại, khoảng cách giữa chi phí giữ đất và lợi nhuận chờ tăng giá sẽ dần thu hẹp. Giữ đất không sử dụng sẽ không còn là một khoản đầu tư gần như chắc thắng, mà trở thành gánh nặng tài chính kéo dài.

Và khi phép tính lợi ích thay đổi, chủ đất chỉ còn ba lựa chọn: đưa đất vào sản xuất, cho thuê hoặc bán ra. Dù theo hướng nào, đất đai cũng được đưa trở lại vòng tuần hoàn của nền kinh tế. Khi nguồn cung thực được khơi thông, giá đất và giá nhà sẽ hạ nhiệt không phải bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng chính quy luật cung - cầu được trả về đúng vị trí của nó.

31/07/2026
LỊCH SỬ CÓ THỂ HƯ CẤU NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHẢN BỘI CHÂN LÝ CỦA THỜI ĐẠI Điều làm nên giá trị của một cuốn tiểu thuyết lịch ...
30/07/2026

LỊCH SỬ CÓ THỂ HƯ CẤU NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHẢN BỘI CHÂN LÝ CỦA THỜI ĐẠI

Điều làm nên giá trị của một cuốn tiểu thuyết lịch sử chưa bao giờ là số lượng chi tiết hư cấu. Giá trị của nó nằm ở chỗ, sau khi gấp cuốn sách lại, người đọc hiểu thêm điều gì về một con người, một thời đại và một dân tộc.

Đó cũng là lý do Tam quốc diễn nghĩa vẫn sống hàng trăm năm, Sông Côn mùa lũ vẫn được nhắc đến như một trong những tiểu thuyết lịch sử xuất sắc của Việt Nam, còn Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải giúp nhiều thế hệ hình dung rõ hơn về khí phách thời Đông A. Những tác phẩm ấy đều hư cấu rất nhiều. Nhưng cái mà chúng giữ được là “chân lý lịch sử” của thời đại. Người đọc có thể quên một đoạn đối thoại, quên một mối tình, nhưng không quên tinh thần của cả một triều đại.

Đó mới là thước đo khó nhất của tiểu thuyết lịch sử.

Vì thế, tranh luận quanh cuốn Đức Thánh Trần không nên bắt đầu bằng câu hỏi “nhà văn có quyền hư cấu hay không?”. Câu trả lời rất đơn giản: có.

Nhưng quyền hư cấu không phải là câu trả lời cho mọi tranh luận.

Điều đáng bàn là: sau hàng trăm trang sách, hình tượng nào còn lại trong tâm trí người đọc?

Là vị Quốc công Tiết chế đã ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông? Là tác giả Hịch tướng sĩ? Là biểu tượng của tinh thần Đông A? Hay là những câu chuyện phòng the, những mối quan hệ tình ái và những chi tiết đời tư được hư cấu (thực chất là bịa đặt) với mật độ đủ lớn để lấn át tất cả những gì lịch sử đã ghi nhận?

Đó mới là vấn đề.

Trong lý luận văn học có một khái niệm rất đáng suy nghĩ: hiệu ứng chân thực nghệ thuật.

Độc giả phổ thông không phải ai cũng đọc Đại Việt sử ký toàn thư. Càng ít người đọc các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhà Trần. Phần lớn họ tiếp cận lịch sử thông qua phim ảnh và tiểu thuyết. Vì thế, một hình tượng văn học đôi khi tác động mạnh hơn rất nhiều một cuốn sách sử.

Nếu một tác phẩm liên tục dẫn người đọc vào những cảnh dục tính, những quan hệ riêng tư và những chi tiết không có trong sử liệu, thì dù tác giả không hề viết rằng “triều Trần là như vậy”, người đọc vẫn rất dễ hình thành một ấn tượng như vậy. Tôi không rõ ông Trần Thanh Cảnh có cố tình làm méo mó nhận thức của độc giả về lịch sử vương triều Trần hay không, nhưng đó không còn là câu chuyện của từng chi tiết đúng hay sai, mà là hiệu ứng nhận thức mà toàn bộ tác phẩm tạo ra.

Chính vì thế, ranh giới của tiểu thuyết lịch sử không nằm ở việc có hư cấu hay không, mà nằm ở chỗ hư cấu ấy có làm thay đổi bản chất lịch sử hay không.

Lịch sử luôn có những khoảng trống. Nhà văn được quyền lấp đầy những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng. Nhưng khoảng trống của sử liệu không phải là giấy trắng để người viết muốn vẽ gì, bịa đặt gì cũng được. Càng viết về những nhân vật có vị trí đặc biệt trong ký ức dân tộc, trách nhiệm của người cầm bút càng lớn.

Trần Hưng Đạo không chỉ là một danh nhân lịch sử. Ông còn là Đức Thánh Trần trong đời sống tín ngưỡng của người Việt. Hình tượng ấy tồn tại không chỉ trong sử sách mà còn trong đền miếu, trong lễ hội và trong niềm tin của nhiều thế hệ. Vì vậy, bất kỳ sự diễn giải nào về ông cũng sẽ vượt ra ngoài phạm vi của một tác phẩm văn chương đơn thuần.

Đó là lý do cuốn Đức Thánh Trần nhận nhiều ý kiến trái chiều, thậm chí là phản đối quyết liệt. Tranh luận ấy không chỉ phản ánh sự khác biệt trong quan niệm về văn học, mà còn phản ánh cách xã hội nhìn nhận ranh giới giữa sáng tạo nghệ thuật và trách nhiệm đối với ký ức lịch sử.

Có một quan điểm của nhà nghiên cứu văn học Dmitry Likhachev mà tôi cho rằng rất đáng suy ngẫm: tiểu thuyết lịch sử có thể hư cấu từng chi tiết, nhưng không được phản bội chân lý lịch sử của thời đại.

Tôi nghĩ, đó là tiêu chuẩn công bằng nhất.

Không ai bắt nhà văn phải chép lại chính sử. Nhưng cũng không ai có thể yêu cầu công chúng phải chấp nhận mọi hư cấu chỉ vì tác phẩm được gắn nhãn “tiểu thuyết”.

Một cuốn sách về nhà Trần, sau khi khép lại, nếu điều còn đọng trong lòng người đọc là Hội nghị Diên Hồng, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng, tinh thần Đông A và khí phách của một dân tộc, thì đó là thành công của văn chương.

Còn nếu điều người ta nhớ nhiều nhất lại là những cảnh giường chiếu và đời tư được hư cấu, thì có lẽ cuộc tranh luận không còn nằm ở quyền sáng tạo nữa, mà nằm ở một câu hỏi lớn hơn: Cuốn sách ấy đã góp phần làm sáng rõ lịch sử, hay làm mờ đi hình tượng của những người đã làm nên lịch sử?

Đó là câu hỏi mà trước hết người cầm bút nên tự trả lời, trước khi yêu cầu độc giả trả lời thay mình.


Nguồn:

Address

Đường Hùng Vương
Hanoi

Telephone

+84839458886

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Ta Tự Hào Đi Lên - Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share