ThienNhien.Net

ThienNhien.Net 🌿 ThienNhien.Net – Kết nối Con người với Thiên nhiên 🌿 Cập nhật tin tức, góc nhìn chuyên sâu về môi trường, đa dạng sinh học & phát triển bền vững.
(1)

Cùng chung tay bảo vệ thiên nhiên, bởi mỗi hành động nhỏ hôm nay có thể tạo ra thay đổi lớn mai sau! 💚

Không chỉ có ong!Một con dơi đang lơ lửng trước bông hoa nở lúc nửa đêm. Một con chim hút mật chui chiếc mỏ cong sâu vào...
18/05/2026

Không chỉ có ong!

Một con dơi đang lơ lửng trước bông hoa nở lúc nửa đêm. Một con chim hút mật chui chiếc mỏ cong sâu vào cụm hoa đỏ rực. Một con ruồi phủ đầy phấn vàng trên lưng sau khi bò qua một bông hoa có mùi như thịt thối.

Đó đều là những loài thụ phấn.

Trong tự nhiên, công việc “mai mối” cho cây cối không chỉ thuộc về ong hay bướm. Rất nhiều loài động vật khác cũng đang âm thầm vận chuyển phấn hoa mỗi ngày: dơi, chim, ruồi, bọ cánh cứng, bướm đêm, kiến, thằn lằn, thậm chí cả vài loài thú nhỏ.

Chúng giúp cây cối tạo quả, tạo hạt và duy trì nòi giống.

Khi một con ong hay một con chim ghé vào hoa để tìm mật, phấn hoa sẽ bám lên cơ thể chúng. Chuyến ghé thăm tiếp theo có thể đưa số phấn đó sang một bông hoa khác. Những khu rừng, đồng cỏ, đầm lầy hay vườn cây ăn trái mà con người nhìn thấy hôm nay phần nào được duy trì nhờ hàng tỷ chuyến bay nhỏ bé như thế.

Các nhà khoa học cho rằng thụ phấn bằng động vật đã góp phần tạo nên sự bùng nổ đa dạng của thực vật có hoa trên Trái Đất. Nhiều mối quan hệ giữa hoa và loài thụ phấn còn tiến hóa cùng nhau suốt hàng triệu năm. Có loài hoa chỉ nở vào ban đêm để chờ dơi. Có loài hoa mang mùi giống xác thối để hấp dẫn ruồi. Có những bông hoa sâu hun hút chỉ những loài có chiếc vòi rất dài mới chạm được tới mật.

Thiên nhiên chưa bao giờ vận hành theo cách đơn giản.

Điều thú vị là không phải loài thụ phấn nào cũng được con người yêu thích. Ong và bướm thường xuất hiện trên tranh ảnh hay sách thiếu nhi. Nhưng ruồi, bọ cánh cứng hay dơi lại hay bị ghét bỏ. Dù vậy, trong nhiều hệ sinh thái, chúng vẫn là những shipper cực kỳ quan trọng. Một số cây trồng và cây rừng thậm chí phụ thuộc vào những loài tưởng như ít được chú ý này.

Ở Việt Nam, thế giới thụ phấn cũng phong phú không kém. Những cánh rừng nhiệt đới, vùng núi đá vôi, rừng ngập mặn hay các khu vườn truyền thống đều là nơi diễn ra vô số mối quan hệ âm thầm giữa hoa và động vật. Chúng ta có hàng nghìn loài ong bản địa, rất nhiều loài bướm, ruồi hoa, chim hút mật và dơi ăn quả đang hoạt động mỗi ngày mà phần lớn con người hiếm khi để ý.

Nhưng thế giới ấy đang chịu nhiều áp lực.

Thuốc trừ sâu, mất sinh cảnh, nông nghiệp đơn điệu, ánh sáng đô thị và biến đổi khí hậu đang khiến nhiều loài thụ phấn suy giảm ở nhiều nơi trên thế giới. Và khi những sinh vật mang phấn biến mất, câu chuyện không chỉ dừng ở vài bông hoa ít nở hơn. Nó có thể kéo theo sự suy giảm của cả một mạng lưới sinh thái rộng lớn phía sau.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta nhìn những con vật nhỏ bé vo ve quanh hoa bằng một ánh mắt khác.

Bởi đôi khi, những sinh vật giữ cho thế giới xanh tiếp tục vận hành lại là những kẻ bé nhỏ nhất.

Làng Du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (xã Bắc Sơn, Lạng Sơn) là một trong những ngôi làng đẹp nhất Việt Nam, nổi bật với nhữn...
17/05/2026

Làng Du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn (xã Bắc Sơn, Lạng Sơn) là một trong những ngôi làng đẹp nhất Việt Nam, nổi bật với những nếp nhà sàn truyền thống của người Tày nằm nép mình bên ruộng lúa, núi đá vôi và các dòng suối nhỏ tạo nên một khung cảnh yên bình đặc trưng của miền núi Đông Bắc.

Quỳnh Sơnđặc biệt không chỉ ở cảnh quan mà còn là cách cộng đồng người Tày vẫn gìn giữ được nhịp sống văn hóa truyền thống trong đời sống hằng ngày. Từ kiến trúc nhà sàn, tiếng hát then, đàn tính, ẩm thực địa phương cho đến nghề thủ công và các lễ hội dân gian, tất cả tạo nên một không gian văn hóa còn đậm tính bản địa. Trong những năm gần đây, Quỳnh Sơn cũng trở thành một trong những mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu ở miền Bắc, nơi du khách có thể trải nghiệm thiên nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương theo cách gần gũi và chậm rãi hơn.

Trả lại không gian sống cho đất ngập nước Việt NamNếu phải chọn một điều để nhớ sau loạt bài này, điều đó có lẽ đó là: đ...
16/05/2026

Trả lại không gian sống cho đất ngập nước Việt Nam

Nếu phải chọn một điều để nhớ sau loạt bài này, điều đó có lẽ đó là: đất ngập nước không phải phần đất thừa, đất hoang. Đó là không gian sống. Không gian của nước, bùn, phù sa, cây cỏ, chim, cá, cua, ốc, côn trùng, vi sinh vật và cả những cộng đồng người sống nhờ vào nhịp lên xuống của nước.

Ở Việt Nam, đất ngập nước có mặt trong rất nhiều cảnh quan quen thuộc. Đó là rừng ngập mặn ven biển, bãi triều cửa sông, đầm phá miền Trung, hồ tự nhiên, vùng than bùn, trảng cỏ ngập nước theo mùa, ao hồ trong đô thị, ruộng lúa, kênh rạch và các vùng trũng ven sông. Có nơi đã được biết đến như Xuân Thủy, Tràm Chim, U Minh Thượng, Láng Sen, Mũi Cà Mau hay Vân Long. Nhưng cũng có rất nhiều vùng nhỏ hơn, không có danh hiệu nào, không nằm trên bản đồ du lịch, vẫn đang âm thầm giữ nước, nuôi cá, đón chim, lọc bớt ô nhiễm và giảm bớt rủi ro cho con người.

Điều đáng tiếc là đất ngập nước thường chỉ được chú ý đến khi người ta muốn chuyển đổi nó. Một bãi bùn được nhìn như mặt bằng tương lai. Một vùng trũng được nhìn như khu đất có thể san lấp. Một đầm lầy được nhìn như nơi cần thoát nước. Một khoảnh rừng ngập mặn được nhìn như diện tích có thể đổi sang ao nuôi, đường ven biển hoặc khu dịch vụ. Cách nhìn ấy có thể tạo ra lợi ích trước mắt, nhưng cũng lấy đi những chức năng sinh thái mà tự nhiên đã xây dựng trong hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm.

Phục hồi đất ngập nước vì thế không chỉ là sửa một hệ sinh thái đã hỏng. Đó còn là sửa một cách nghĩ. Thay vì hỏi vùng này có thể lấp để làm gì, cần hỏi nó đang làm gì cho con người và tự nhiên. Thay vì chỉ tính giá trị đất sau chuyển đổi, cần tính cả chi phí mất đi khả năng giữ nước, lọc nước, giảm ngập, chắn sóng, giữ bờ, lưu trữ carbon, nuôi nguồn lợi thủy sản và bảo vệ đa dạng sinh học. Thay vì coi nước là thứ phải đẩy đi thật nhanh, cần học lại cách sống với nước một cách thông minh hơn.

Với Việt Nam, phục hồi đất ngập nước nên bắt đầu từ những việc rất thực tế. Giữ lại các vùng trũng tự nhiên trong quy hoạch đô thị và nông thôn. Không san lấp ao hồ, bãi bồi, đầm lầy và hành lang sông suối một cách dễ dãi. Phục hồi rừng ngập mặn ở những nơi còn đủ điều kiện thủy văn, bùn cát và không gian cho cây tự nhiên phát triển. Trả lại nhịp ngập theo mùa cho một số vùng đất ngập nước nội địa. Giảm ô nhiễm từ nông nghiệp, chăn nuôi, nước thải sinh hoạt và rác nhựa trước khi kỳ vọng hệ sinh thái có thể tự làm sạch.

Phục hồi cũng cần đi cùng sinh kế. Không thể bảo vệ một vùng đất ngập nước lâu dài nếu người dân sống quanh đó bị đặt ra ngoài câu chuyện. Người đánh cá, người nuôi trồng, người làm du lịch sinh thái, người trồng lúa, người sống ven rừng ngập mặn hay ven đầm phá đều có hiểu biết riêng về nước, mùa, loài và những thay đổi của cảnh quan. Khi họ được tham gia, được lắng nghe và được hưởng lợi công bằng, đất ngập nước có thêm một lớp bảo vệ bền vững hơn nhiều so với biển cấm và khẩu hiệu.

Cũng cần thừa nhận rằng không phải vùng đất ngập nước nào cũng có thể trở lại như xưa. Có nơi đã bị đô thị hóa, đê bao, xói lở, sụt lún, ô nhiễm hoặc biến đổi khí hậu làm thay đổi sâu sắc. Nhưng điều đó không có nghĩa là buông xuôi. Phục hồi đôi khi chỉ bắt đầu bằng việc mở lại một dòng nước, giữ lại một vùng trũng, giảm một nguồn thải, trồng lại đúng loài cây bản địa, tháo bỏ một rào cản không cần thiết, hoặc đơn giản là dừng san lấp phần còn lại.

Đất ngập nước không cần chúng ta cứu bằng những lời hứa lớn. Nó cần được trả lại không gian để sống. Cần đường đi cho nước, bùn có chỗ lắng, cây có nơi bén rễ, chim có chỗ dừng chân, cá có nơi sinh sản, và con người có đủ khiêm tốn để không biến mọi vùng trũng thành mặt bằng xây dựng.

Nếu biết nhìn đúng, đất ngập nước không phải là vùng đất chậm phát triển. Đó là phần cảnh quan giúp chúng ta phát triển an toàn hơn. Trong một tương lai nhiều mưa cực đoan hơn, hạn hán gay gắt hơn, xâm nhập mặn sâu hơn, bờ biển mong manh hơn và đa dạng sinh học suy giảm nhanh hơn, những vùng đất từng bị coi là lầy lội, ẩm thấp và kém giá trị có thể chính là một phần quan trọng của câu trả lời.

Phục hồi đất ngập nước không phải là quay lưng với phát triển. Đó là chọn một kiểu phát triển biết để lại chỗ cho nước, cho sự sống và cho chính con người.

Ảnh: Hồ Đồng Mô (Hà Nội). Nguồn: Báo Thanh Niên.

Phục hồi không chỉ là trồng cây xuống bùnVới phục hồi rừng ngập mặn, hình ảnh quen thuộc là những hàng cây non được cắm ...
15/05/2026

Phục hồi không chỉ là trồng cây xuống bùn

Với phục hồi rừng ngập mặn, hình ảnh quen thuộc là những hàng cây non được cắm xuống bãi bùn. Với hồ, đầm, vùng trũng nội địa, người ta có thể nghĩ đến việc thả thêm cá, trồng thêm sen, súng, lau sậy hoặc dựng vài bảng tuyên truyền. Những việc đó có thể cần thiết trong một số trường hợp, nhưng nếu chỉ dừng ở trồng cây hoặc làm đẹp cảnh quan, phục hồi đất ngập nước rất dễ trở thành một hoạt động có hình thức đẹp nhưng hiệu quả sinh thái thấp.

Đất ngập nước sống nhờ nước. Vì vậy, muốn phục hồi đất ngập nước, trước hết phải hiểu nước đến từ đâu, đi qua đâu, ngập vào mùa nào, cạn vào mùa nào, bị chặn ở đâu, bị ô nhiễm từ nguồn nào và có còn kết nối với sông, biển, kênh rạch, nước ngầm hay vùng ngập xung quanh hay không. Một vùng đầm lầy bị cắt đứt dòng nước, một bãi triều không còn nhận đủ phù sa, một rừng ngập mặn bị sóng đánh trực diện hoặc một trảng cỏ ngập nước bị giữ nước sai mùa sẽ rất khó phục hồi nếu chỉ đem cây xuống trồng.

Phục hồi đúng cách thường bắt đầu từ việc khôi phục điều kiện tự nhiên để hệ sinh thái có thể tự lành. Với rừng ngập mặn, điều đó có thể là mở lại dòng triều, giảm xói lở, phục hồi bãi bồi, chọn đúng cao trình ngập, đúng loài cây bản địa và đúng mùa trồng. Ở nhiều nơi, nếu điều kiện thủy văn và nền bùn còn phù hợp, rừng ngập mặn có thể tái sinh tự nhiên tốt hơn so với trồng dày một loài cây trên diện rộng. Trồng cây chỉ nên là một phần của phục hồi sinh thái, không phải câu trả lời mặc định cho mọi vùng đất ngập nước.

Với đất ngập nước nội địa, phục hồi cũng phức tạp không kém. Có nơi cần tháo bỏ hoặc điều chỉnh đê, cống, mương thoát nước để trả lại nhịp ngập theo mùa. Có nơi phải giảm nguồn ô nhiễm từ nông nghiệp, nước thải sinh hoạt hoặc chăn nuôi trước khi nghĩ đến phục hồi sinh cảnh. Có nơi cần kiểm soát loài ngoại lai xâm hại, khôi phục thực vật bản địa, tạo lại vùng nước nông cho chim, cá, lưỡng cư và côn trùng. Nếu chỉ nhìn thấy mặt nước, ta dễ quên rằng hệ sinh thái này còn có đất, bùn, hạt giống, vi sinh vật, dòng chảy và cả lịch sử sử dụng đất của cộng đồng.

Một bài học quan trọng là phục hồi đất ngập nước phải gắn với người sống quanh vùng đất ngập nước. Nhiều cộng đồng ven biển, ven sông, quanh đầm phá hoặc vùng trũng sống dựa vào đánh bắt, nuôi trồng, thu hái, chăn thả, canh tác và du lịch sinh thái. Nếu một dự án phục hồi chỉ đặt mục tiêu sinh thái mà không tính đến sinh kế, quyền tiếp cận tài nguyên và sự tham gia của cộng đồng, kết quả rất dễ thiếu bền vững. Ngược lại, khi người dân được tham gia từ khâu lựa chọn địa điểm, xác định vấn đề, theo dõi thay đổi và hưởng lợi hợp lý, đất ngập nước có cơ hội được bảo vệ lâu dài hơn.

Phục hồi cũng cần thời gian. Một vùng đất ngập nước bị suy thoái trong nhiều năm không thể trở lại trạng thái khỏe mạnh chỉ sau một mùa trồng cây hoặc một chiến dịch ra quân. Cây có thể sống, nhưng chim cá chưa chắc đã trở lại. Mặt nước có thể đẹp hơn, nhưng chất lượng nước chưa chắc đã cải thiện. Diện tích phục hồi có thể tăng trên báo cáo, nhưng chức năng sinh thái có thể còn rất yếu. Vì vậy, theo dõi dài hạn là một phần không thể thiếu, bao gồm theo dõi mực nước, độ mặn, chất lượng nước, thảm thực vật, loài bản địa, loài ngoại lai, sinh kế và mức độ tham gia của cộng đồng.

Cũng cần chấp nhận rằng không phải nơi nào cũng có thể phục hồi về trạng thái như trước đây. Có những vùng đã bị thay đổi quá sâu bởi hạ tầng, đô thị hóa, đê bao, khai thác nước ngầm, sụt lún, xói lở hoặc biến đổi khí hậu. Trong những trường hợp đó, phục hồi không có nghĩa là quay ngược thời gian, mà là tìm trạng thái sinh thái tốt hơn, an toàn hơn và có ích hơn cho cả tự nhiên lẫn con người. Mục tiêu có thể là phục hồi một phần chức năng giữ nước, tạo vùng đệm ven biển, tăng sinh cảnh cho chim nước, giảm ô nhiễm hoặc tạo lại không gian cho dòng chảy.

Phục hồi đất ngập nước không phải là đưa cây xuống bùn rồi chờ tự nhiên cảm ơn. Đó là một quá trình hiểu nước, hiểu đất, hiểu loài bản địa, hiểu cộng đồng và hiểu cả những sai lầm đã làm hệ sinh thái suy thoái. Khi phục hồi đúng cách, đất ngập nước không chỉ xanh trở lại. Nó có thể thở lại, ngập lại, lọc nước lại, nuôi cá chim trở lại và tiếp tục làm phần việc âm thầm mà nó đã từng làm rất tốt cho con người.

Ảnh: Báo Khánh Hòa.

Kho carbon và nơi trú ẩn của sự sốngĐất ngập nước không chỉ giữ nước và lọc nước. Ở nhiều nơi, đó còn là một kho lưu trữ...
14/05/2026

Kho carbon và nơi trú ẩn của sự sống

Đất ngập nước không chỉ giữ nước và lọc nước. Ở nhiều nơi, đó còn là một kho lưu trữ carbon và một nơi trú ẩn quan trọng của sự sống. Một đầm lầy, rừng ngập mặn, vùng than bùn, bãi bồi cửa sông hay trảng cỏ ngập nước theo mùa có thể nhìn rất bình lặng từ bên ngoài, nhưng bên dưới lớp nước, bùn, rễ cây và xác thực vật phân hủy chậm là cả một hệ thống sinh học phức tạp đang vận hành.

Trên thế giới, đất ngập nước được xem là một trong những hệ sinh thái quan trọng nhất đối với đa dạng sinh học. Theo Công ước Đa dạng sinh học, khoảng 40% các loài thực vật và động vật trên thế giới sống hoặc sinh sản trong các vùng đất ngập nước. Các vùng đất ngập nước nước ngọt đặc biệt quan trọng đối với lưỡng cư, cá và nhiều nhóm động vật có xương sống. Nhiều nơi tưởng như chỉ có nước đọng, lau sậy và bùn lầy lại có thể là nhà trẻ của cá, trạm dừng chân của chim di cư, nơi trú ẩn của côn trùng, lưỡng cư, bò sát và vô số loài nhỏ bé khác.

Ở Việt Nam, giá trị ấy không hề trừu tượng. Xuân Thủy là điểm dừng chân quan trọng của chim di cư ở vùng cửa sông ven biển miền Bắc. Tràm Chim là một trong những hệ sinh thái đất ngập nước tiêu biểu của Đồng Tháp Mười, từng nổi tiếng với sếu đầu đỏ, các loài chim nước, trảng cỏ ngập nước, rừng tràm và nhiều loài cá phụ thuộc vào mùa lũ. U Minh Thượng, Láng Sen, Mũi Cà Mau, Bàu Sấu, Ba Bể, Côn Đảo và Vân Long cũng cho thấy đất ngập nước ở Việt Nam không có một hình dạng duy nhất. Có nơi là rừng ngập mặn ven biển, có nơi là hồ nước ngọt, có nơi là vùng than bùn, có nơi là đầm lầy nội địa hoặc vùng ngập nước trong cảnh quan núi đá vôi.

Giá trị carbon của đất ngập nước cũng rất đáng chú ý. Than bùn tích tụ carbon trong điều kiện ngập nước, ít oxy, nơi xác thực vật phân hủy chậm qua thời gian dài. Rừng ngập mặn, đầm lầy mặn và thảm cỏ biển thường được nhắc đến như các hệ sinh thái carbon xanh vì chúng có khả năng tích lũy carbon trong sinh khối và đặc biệt là trong đất, bùn. Một nghiên cứu gần đây ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy các kiểu đất ngập nước như rừng ngập mặn, rừng tràm trên đất sét, rừng tràm trên đất than bùn và trảng cỏ ngập nước đều có khả năng lưu trữ carbon trong đất, trong đó rừng tràm trên đất than bùn có trữ lượng carbon hữu cơ trong đất cao nhất trong các kiểu được khảo sát.

Nhưng cần nói điều này một cách cẩn trọng. Không phải cứ phục hồi đất ngập nước là lập tức có lợi cho khí hậu trong vài năm đầu. Khi một vùng đất ngập nước bị tháo khô, than bùn và chất hữu cơ tiếp xúc với oxy sẽ phân hủy nhanh hơn và phát thải carbon dioxide. Khi được làm ướt trở lại, lượng phát thải carbon dioxide có thể giảm, nhưng khí methane có thể tăng trong một số điều kiện. Vì vậy, phục hồi đất ngập nước không nên được quảng bá như một phép màu khí hậu đơn giản. Đây là một giải pháp dài hạn, đòi hỏi hiểu đúng loại hệ sinh thái, chế độ nước, đất, thảm thực vật và quá trình phát thải khí nhà kính.

Bảo vệ những vùng đất ngập nước tự nhiên còn khỏe mạnh thường hiệu quả hơn, rẻ hơn và an toàn hơn rất nhiều so với để chúng suy thoái rồi mới tìm cách phục hồi. Một vùng than bùn bị cháy, một khu rừng ngập mặn bị chuyển thành ao nuôi, một bãi bồi bị bê tông hóa hay một đầm lầy bị cắt đứt dòng nước không chỉ mất nơi sống của nhiều loài. Chúng còn có thể mất luôn khả năng lưu trữ carbon, điều tiết nước và duy trì sinh kế tự nhiên cho cộng đồng.

Nhìn từ góc độ này, phục hồi đất ngập nước không chỉ là phục hồi cảnh quan. Đó là phục hồi các quan hệ sinh thái đã bị đứt gãy. Khi nước trở lại đúng nhịp, khi cây bản địa có cơ hội phục hồi, khi cá có nơi sinh sản, chim có nơi kiếm ăn, đất bùn có thể tích lũy chất hữu cơ và cộng đồng có sinh kế phù hợp hơn, đất ngập nước mới thật sự sống lại. Và khi một vùng đất ngập nước sống lại, thứ được phục hồi không chỉ là màu xanh trên bản đồ, mà là cả một hệ thống nâng đỡ sự sống.

Ảnh: Khu bảo tồn đất ngập nước Tiền Hải. Nguồn: Báo Lao Động.

Chiếc máy lọc nước không dùng điệnCó những hệ sinh thái làm việc rất chăm chỉ nhưng ít khi được nhìn nhận như một phần c...
13/05/2026

Chiếc máy lọc nước không dùng điện

Có những hệ sinh thái làm việc rất chăm chỉ nhưng ít khi được nhìn nhận như một phần của hạ tầng sống. Đất ngập nước là một ví dụ như vậy. Một vùng trũng ven sông, một đầm lầy, một bãi triều, một rừng ngập mặn hay một hồ nước nông không chỉ là nơi có nước đọng. Đó là một hệ thống tự nhiên có khả năng giữ nước, làm chậm dòng chảy, giữ lại phù sa, hấp thụ một phần chất dinh dưỡng dư thừa và tạo điều kiện cho cây cỏ, vi sinh vật, đất bùn cùng tham gia vào quá trình lọc nước.

Khi mưa lớn, nước không đổ đi ngay nếu cảnh quan còn có đủ vùng trũng, bãi ngập, hồ ao, rừng ven sông và đất ngập nước theo mùa. Những nơi này hoạt động như miếng bọt biển của tự nhiên. Chúng giữ lại một phần nước, làm giảm tốc độ dòng chảy, giúp nước thấm dần xuống đất hoặc thoát đi chậm hơn. Nhờ vậy, đất ngập nước có thể góp phần giảm đỉnh lũ, giảm ngập cục bộ và duy trì độ ẩm trong cảnh quan vào những thời điểm khô hạn hơn.

Đất ngập nước cũng là một chiếc máy lọc nước không dùng điện. Khi dòng nước đi qua vùng lau sậy, rừng ngập mặn, đầm lầy hoặc bãi bồi, các hạt bùn cát có thể lắng lại. Một phần chất dinh dưỡng như nitơ, phốt pho được thực vật và vi sinh vật hấp thụ hoặc chuyển hóa. Một số chất ô nhiễm bị giữ lại trong đất, bùn và thảm thực vật. Quá trình này không biến đất ngập nước thành nhà máy xử lý nước thải thay cho con người, nhưng nó giúp giảm tải ô nhiễm và duy trì chất lượng nước ở mức tốt hơn nếu hệ sinh thái còn đủ khỏe.

Ở vùng ven biển, rừng ngập mặn cho thấy rất rõ vai trò của đất ngập nước như một lớp đệm sinh thái. Hệ rễ chằng chịt của cây ngập mặn giữ bùn, giảm xói lở, làm chậm năng lượng của sóng và tạo nơi cư trú cho nhiều loài thủy sinh. Với cộng đồng ven biển, rừng ngập mặn không chỉ là cây. Đó là nơi sinh sản và kiếm ăn của cá, tôm, cua; là vùng đệm trước bão, triều cường và nước biển dâng; là không gian giúp sinh kế thủy sản có nền tảng lâu dài hơn.

Ở nội địa, những vùng đất ngập nước theo mùa như Tràm Chim lại nhắc chúng ta rằng nước không phải lúc nào cũng cần bị thoát đi càng nhanh càng tốt. Với hệ sinh thái đất ngập nước, nhịp ngập và cạn theo mùa là một phần của sự sống. Nếu giữ nước sai thời điểm, tháo nước quá mức, chặn dòng chảy hoặc làm mất mùa ngập tự nhiên, cây cỏ, chim nước, cá và các loài sống phụ thuộc vào chu kỳ nước đều bị ảnh hưởng. Vì vậy, quản lý đất ngập nước thực chất là quản lý nhịp điệu của nước trong cảnh quan.

Điều đáng tiếc là nhiều chức năng ấy chỉ được nhận ra khi chúng đã mất. Khi ao hồ bị lấp, vùng trũng bị san phẳng, rừng ngập mặn bị thu hẹp, sông suối bị bê tông hóa và bãi bồi không còn chỗ thở, nước sẽ tìm đường khác để đi. Nó có thể đi nhanh hơn, đục hơn, bẩn hơn và gây thiệt hại lớn hơn. Khi đó, con người thường phải bỏ nhiều tiền hơn để xây cống, kè, hồ điều hòa, trạm bơm, nhà máy xử lý nước và các công trình chống ngập.

Không nên lãng mạn hóa đất ngập nước như một giải pháp thần kỳ. Một vùng đất ngập nước đã bị ô nhiễm nặng, bị cắt đứt khỏi mạng lưới thủy văn hoặc bị xâm lấn bởi loài ngoại lai không thể tự phục hồi. Nhưng nếu được bảo vệ và phục hồi đúng cách, đất ngập nước có thể trở thành một phần quan trọng của giải pháp dựa vào thiên nhiên cho quản lý nước, giảm rủi ro thiên tai, cải thiện chất lượng môi trường và hỗ trợ sinh kế.

Đất ngập nước không phải vùng đất chờ được lấp đi. Đó là một phần của hệ thống nước, hệ thống sống và hệ thống an toàn của con người. Khi giữ lại một vùng trũng, một hồ nhỏ, một bãi triều hay một khoảnh rừng ngập mặn, chúng ta không chỉ giữ lại cảnh quan. Chúng ta giữ lại một phần khả năng tự điều tiết của tự nhiên.

Ảnh: Hồ Lăk (tỉnh Đăk Lăk cũ). Nguồn: Lalago.

Khi vùng trũng bị lấp điMột vùng đất ngập nước thường biến mất rất lặng lẽ. Ban đầu có thể chỉ là một đoạn bờ bị san thê...
12/05/2026

Khi vùng trũng bị lấp đi

Một vùng đất ngập nước thường biến mất rất lặng lẽ. Ban đầu có thể chỉ là một đoạn bờ bị san thêm vài mét, một ao nhỏ được lấp để mở rộng mặt bằng, một vùng trũng được đào kênh thoát nước, một bãi triều được khoanh lại thành ao nuôi, hoặc một khoảng rừng ngập mặn bị chặt dần để lấy chỗ cho hoạt động kinh tế. Sau vài năm, người ta quen với cảnh quan mới đến mức quên rằng nơi đó từng có nước, bùn, lau sậy, cá nhỏ, cua, ốc, chim và những mùa ngập xuống lên theo nhịp tự nhiên.

Đất ngập nước bị mất không phải vì nó không có giá trị. Nó bị mất nhiều khi vì giá trị của nó không được tính đúng. Một khu đất sau khi san lấp có thể nhìn thấy ngay giá trị thương mại. Một ao nuôi, khu dân cư, nhà máy, con đường hay vùng canh tác mới đều có thể đưa vào sổ sách, tính sản lượng, tính doanh thu, tính tiền thuê đất. Còn giá trị giữ nước, lọc nước, giảm ngập, nuôi thủy sản tự nhiên, giữ bờ, làm nơi sinh sản của chim cá và duy trì ký ức sinh thái của cộng đồng thì thường không hiện lên rõ trong bảng tính đầu tư.

Trên phạm vi toàn cầu, các nghiên cứu cho thấy nông nghiệp là một trong những nguyên nhân trực tiếp lớn nhất làm chuyển đổi đất ngập nước. Khi dân số tăng, nhu cầu lương thực, hạ tầng và tăng trưởng kinh tế tăng theo, những vùng đất có nước theo mùa thường bị xem là phần có thể khai thác thêm. Đầm lầy được tháo nước để thành đất canh tác. Vùng bãi triều được khoanh lại để nuôi trồng thủy sản. Hồ ao nhỏ bị lấp để mở rộng đô thị. Các con sông bị chỉnh trị, đê bao và kênh mương làm thay đổi dòng chảy, khiến những vùng ngập theo mùa dần mất nhịp sống tự nhiên.

Ở Việt Nam, câu chuyện này có thể nhìn thấy ở nhiều cảnh quan khác nhau. Đồng bằng sông Cửu Long từng có những vùng đất ngập nước rộng lớn, với mùa nước nổi, trảng cỏ ngập nước, rừng tràm, vùng than bùn, kênh rạch và sinh kế dựa vào thủy sản tự nhiên. Nhưng trong hơn hai thế kỷ, quá trình khai khẩn, đào kênh, mở rộng nông nghiệp, đê bao, định cư, phát triển hạ tầng và nuôi trồng thủy sản đã làm thay đổi sâu sắc hệ sinh thái đất ngập nước của vùng này. Nhiều nơi không còn được vận hành như một vùng ngập nước, mà bị ép vào chức năng sản xuất ngắn hạn.

Ở ven biển, rừng ngập mặn cũng chịu sức ép tương tự. Khi nhìn từ góc độ kinh tế trước mắt, một bãi bồi có rừng sú, vẹt, mắm, đước dễ bị coi là phần đất có thể chuyển sang ao nuôi, khu du lịch, resort, sân golf, cảng, đường ven biển hoặc mặt bằng xây dựng. Nhưng khi rừng ngập mặn mất đi, bờ biển cũng mất một lớp đệm tự nhiên trước sóng, gió, xói lở và nước biển dâng. Người dân ven biển có thể được một khoản lợi trước mắt, nhưng lại mất dần nguồn lợi thủy sản, nơi cư trú của nhiều loài và hàng rào sinh thái bảo vệ chính cộng đồng mình.

Điều đáng lo ngại là sự chuyển đổi này thường diễn ra từng mảnh nhỏ. Một vùng trũng bị lấp không tạo cảm giác khẩn cấp. Một ao hồ nhỏ bị thu hẹp có vẻ không đáng kể. Một khoảnh rừng ngập mặn bị chặt đi có thể được xem là cái giá chấp nhận được cho phát triển. Nhưng nhiều thay đổi nhỏ cộng lại sẽ làm một hệ sinh thái bị cắt vụn. Đến khi ngập nặng hơn, nước ô nhiễm hơn, bờ biển xói lở nhanh hơn, cá tôm ít hơn, chim không còn về nữa, chúng ta mới nhận ra phần bị mất không chỉ là đất và nước.

Vì vậy, câu hỏi không nên chỉ là vùng đất ngập nước ấy có thể chuyển sang mục đích gì. Câu hỏi quan trọng hơn là nếu chuyển đổi, chúng ta sẽ mất những chức năng sinh thái nào, ai phải trả chi phí, và chi phí đó kéo dài bao lâu. Một quyết định san lấp có thể hoàn thành trong vài tháng. Nhưng để phục hồi lại thủy văn, nền bùn, thảm thực vật, quần thể chim cá và sinh kế dựa vào hệ sinh thái, có khi cần nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ.

Bảo vệ đất ngập nước không có nghĩa là phủ nhận mọi nhu cầu phát triển. Nhưng phát triển không thể tiếp tục dựa trên giả định rằng vùng trũng, bãi bùn, đầm lầy hay rừng ngập mặn là phần đất rẻ, dễ thay thế và ít giá trị. Đôi khi, thứ tưởng là khoảng trống trong bản đồ quy hoạch lại chính là phần giúp cảnh quan tự điều tiết, giúp cộng đồng chống chịu tốt hơn và giúp tự nhiên tiếp tục làm phần việc mà con người khó có thể xây dựng lại bằng bê tông.

Ảnh: Phá Tam Giang - Cầu Hai. Nguồn: Báo Dân Việt.

Đừng gọi đất ngập nước là đất hoangCó những vùng đất chỉ vì mùa này ướt, mùa kia khô, chỉ vì không thuận để xây nhà, làm...
11/05/2026

Đừng gọi đất ngập nước là đất hoang

Có những vùng đất chỉ vì mùa này ướt, mùa kia khô, chỉ vì không thuận để xây nhà, làm đường, mở khu công nghiệp hay canh tác quanh năm, nên bị gọi rất nhanh là đất hoang. Một bãi bùn cửa sông, một đầm lầy, một vùng trũng ven ruộng, một khoảng rừng ngập mặn hay một hồ nước nông trong lòng đô thị rất dễ bị nhìn như phần đất còn chờ được lấp đi. Trong tư duy quy hoạch cũ, nước và bùn thường bị xem là thứ cản trở phát triển.

Nhưng chữ hoang nhiều khi nói về cách chúng ta nhìn, hơn là nói về giá trị thật của nơi đó. Đất ngập nước không phải là phần đất thừa nằm giữa đất liền và mặt nước. Đó là một hệ sinh thái chuyển tiếp, nơi nước, đất, phù sa, cây cỏ, chim, cá, tôm, cua, côn trùng và vi sinh vật cùng tạo nên một mạng sống phức tạp. Nơi tưởng như lầy lội ấy có thể là chỗ giữ nước mùa mưa, nhả nước mùa khô, lọc bớt chất ô nhiễm, nuôi nguồn cá tôm, chắn sóng, giữ bờ và cung cấp sinh kế cho cộng đồng ven sông, ven biển.

Ở Việt Nam, đất ngập nước không phải là khái niệm xa lạ chỉ có trong sách bảo tồn. Theo cơ quan quản lý đa dạng sinh học, Việt Nam có khoảng 11,85 triệu ha đất ngập nước, chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên của cả nước. Đó có thể là rừng ngập mặn, bãi triều, cửa sông, đầm phá ven biển, hồ, sông, suối, trảng cỏ ngập nước theo mùa, vùng than bùn, ruộng lúa, ao hồ và nhiều kiểu sinh cảnh khác. Nói cách khác, đất ngập nước không ở đâu xa. Nó nằm ngay trong những cảnh quan quen thuộc của đồng bằng, miền núi, ven biển và cả vùng đô thị.

Xuân Thủy, Tràm Chim, U Minh Thượng, Láng Sen, Vân Long hay Mũi Cà Mau chỉ là những cái tên đã được biết đến nhiều hơn nhờ danh hiệu Ramsar hoặc khu bảo tồn. Nhưng ngoài các vùng nổi tiếng đó, còn rất nhiều vùng trũng nhỏ, bãi bồi, ao hồ, đầm lầy, lạch nước và rừng ngập mặn chưa được gọi tên đúng với giá trị của chúng. Khi một vùng như vậy bị lấp đi, thứ mất không chỉ là vài hecta mặt nước hay bãi bùn. Chúng ta có thể mất cả nơi sinh sản của cá, nơi kiếm ăn của chim, vùng đệm giảm ngập, lớp lọc tự nhiên của dòng nước và một phần ký ức sinh thái của cộng đồng địa phương.

Vấn đề bắt đầu từ cách gọi. Khi gọi là đất hoang, người ta dễ nghĩ đến khai hoang. Khi gọi là vùng trũng vô dụng, người ta dễ nghĩ đến san lấp. Khi gọi là mặt nước chưa khai thác, người ta dễ nghĩ đến chuyển đổi. Nhưng khi gọi đúng là đất ngập nước, chúng ta bắt đầu nhìn thấy một hệ sinh thái đang lặng lẽ làm việc cho con người và tự nhiên.

Phục hồi đất ngập nước, vì thế, không chỉ là chuyện trồng lại vài cây ở nơi có bùn. Trước hết, đó là việc phục hồi một cách nhìn. Những nơi từng bị coi là lầy lội, ẩm thấp, khó dùng và kém giá trị có thể chính là phần cảnh quan giúp chúng ta sống an toàn hơn trước ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm và suy giảm đa dạng sinh học.

Tuần này, ThienNhienNet sẽ cùng bạn đọc nhìn lại đất ngập nước từ một góc khác. Không phải đất hoang. Không phải phần dư của phát triển. Mà là những không gian sống cần được hiểu đúng, bảo vệ đúng và phục hồi đúng.

Ảnh: Rừng ngập nước Trà Sư (An Giang). Nguồn: Du lịch Miền Tây.

Quả xoài nặng hơn cả em bé sơ sinh!Quả xoài nặng nhất từng được ghi nhận trên thế giới có khối lượng tới 4,25 kg, tức nặ...
10/05/2026

Quả xoài nặng hơn cả em bé sơ sinh!

Quả xoài nặng nhất từng được ghi nhận trên thế giới có khối lượng tới 4,25 kg, tức nặng hơn nhiều em bé mới sinh. Quả xoài đặc biệt này được hai nông dân Germán Orlando Novoa Barrera và Reina Maria Marroquín trồng tại Guyatá (Colombia) sau đó được Tổ chức Kỷ lục Guinness xác nhận vào tháng 7/2020.

Kỷ lục này đã phá vỡ cột mốc cũ tồn tại hơn 10 năm của một quả xoài tại Philippines nặng 3,43 kg. Để dễ hình dung, một quả xoài thông thường chỉ nặng khoảng 150–200 gram. Nghĩa là “siêu xoài” Colombia nặng tương đương hơn 20 quả xoài bình thường cộng lại.

Xoài vốn là một trong những loài cây ăn quả nhiệt đới quen thuộc nhất với người Việt Nam. Nhưng đôi khi thiên nhiên vẫn khiến con người ngạc nhiên bằng những cá thể khổng lồ vượt xa mọi tưởng tượng. Và biết đâu đâu đó trong những khu vườn nhiệt đới của châu Á, vẫn còn những kỷ lục chưa được khám phá.

Ảnh: Tổ chức Kỷ lục Guinness.

Nuôi đất thay vì khai thác kiệt quệNhiều cách làm trong nông nghiệp hiện nay vẫn đi theo hướng lấy càng nhiều càng tốt t...
09/05/2026

Nuôi đất thay vì khai thác kiệt quệ

Nhiều cách làm trong nông nghiệp hiện nay vẫn đi theo hướng lấy càng nhiều càng tốt trong từng vụ. Đất được xem như nguồn cung dinh dưỡng có thể bù đắp bằng phân bón và đầu vào khác. Cách tiếp cận này tạo ra sản lượng trong ngắn hạn, nhưng theo thời gian, đất mất dần khả năng tự duy trì. Khi đó, mỗi vụ sản xuất lại cần nhiều chi phí hơn để giữ mức năng suất cũ.

Một hướng đi khác bắt đầu từ việc nhìn đất như một hệ thống cần được nuôi dưỡng. Điều này không có nghĩa là bỏ sản xuất, mà là thay đổi cách can thi tác động lên đất. Giảm xáo trộn, giữ lại lớp che phủ, đa dạng cây trồng và tận dụng các quá trình sinh học tự nhiên là những nguyên tắc cơ bản. Khi những yếu tố này được duy trì đồng thời, đất có điều kiện phục hồi từng bước.

Các nghiên cứu dài hạn cho thấy những hệ thống canh tác dựa vào nguyên lý sinh thái có thể cải thiện hàm lượng chất hữu cơ, tăng khả năng giữ nước và giảm xói mòn. Khi đất giữ được cấu trúc tốt, cây trồng ít bị ảnh hưởng bởi hạn và mưa lớn. Đồng thời, nhu cầu về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cũng giảm theo, giúp hệ thống sản xuất ổn định hơn về kinh tế.

Tại Việt Nam, một số mô hình nông lâm kết hợp và canh tác có che phủ đã cho thấy kết quả tích cực. Ở các vùng đồi núi, việc kết hợp cây lâu năm với cây cải tạo đất và giữ lại tàn dư thực vật giúp hạn chế rửa trôi đất trong mùa mưa. Ở Tây Nguyên, những vườn cà phê có cây che bóng và lớp phủ hữu cơ thường duy trì năng suất tốt hơn trong điều kiện khô hạn kéo dài. Những mô hình này không phụ thuộc hoàn toàn vào đầu vào bên ngoài mà dựa nhiều hơn vào khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái.

Thay đổi cách tiếp cận không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nó đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn và đôi khi là chấp nhận giảm lợi ích trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn, đây là cách giúp giảm rủi ro và duy trì khả năng sản xuất của đất. Khi đất khỏe lên, hệ thống canh tác trở nên bền vững hơn mà không cần gia tăng áp lực lên tài nguyên.

Nuôi đất không phải là một kỹ thuật riêng lẻ mà là một lựa chọn. Lựa chọn này quyết định cách chúng ta sản xuất, cách chúng ta sử dụng tài nguyên và cả khả năng duy trì sinh kế trong tương lai.

Address

NV31, Khu đô Thị Trung Văn, Phường Đại Mỗ
Hanoi
12011

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Website

https://thiennguyen.app/donate-target/1739880600799567872

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when ThienNhien.Net posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to ThienNhien.Net:

Share