Thanh Niên Công Giáo

Thanh Niên Công Giáo Là trang cộng đồng đưa tin về xã hội, tôn giáo trên nền tảng Sự Thật và Trách nhiệm.

Teresa Calcutta, bạn của những người bị bỏ rơiTrước khi cả thế giới biết đến danh xưng Mẹ Teresa thành Calcutta, bà là A...
21/11/2025

Teresa Calcutta, bạn của những người bị bỏ rơi

Trước khi cả thế giới biết đến danh xưng Mẹ Teresa thành Calcutta, bà là Agnes Gonxha Bojaxhiu, sinh năm 1910 tại Skopje, nay thuộc Bắc Macedonia. Trong một gia đình Công giáo khiêm nhường, mẹ của Agnes luôn dạy con rằng “con không thể ngủ yên nếu có ai đó ngoài kia đang đau khổ.” Những lời ấy khắc sâu trong trái tim cô gái nhỏ, trở thành ngọn lửa âm ỉ soi đường cho cả cuộc đời sau này.

Mười tám tuổi, Agnes rời quê hương, lên đường sang Ireland gia nhập dòng Sisters of Loreto, mang theo một đức tin trong trẻo và khao khát phục vụ nhân loại. Chẳng bao lâu, cô được gửi đến Calcutta, Ấn Độ, để giảng dạy tại một trường nữ sinh. Giữa thành phố đông đúc và nghèo khó, Agnes cảm thấy có điều gì đó thôi thúc trong tâm hồn: tiếng gọi của những con người bị bỏ rơi, những người hấp hối trên vỉa hè, những ánh mắt khát khao được chạm đến bằng lòng thương xót. Một ngày năm 1948, khi bước qua con phố đầy bụi đỏ, cô nhìn thấy một người phụ nữ sắp chết bên vệ đường. Giây phút ấy, Agnes hiểu rằng Chúa đang gọi mình – không phải để dạy chữ, mà để dạy yêu thương.

Cô rời bỏ áo dòng Loreto, khoác lên mình chiếc sari trắng viền xanh giản dị mà sau này trở thành biểu tượng của lòng nhân ái. Bà bắt đầu một hành trình mới, không tài sản, không danh phận, chỉ có đôi tay và tấm lòng. Bà rửa vết thương cho người bệnh, ôm lấy những đứa trẻ mồ côi, chôn cất những người đã khuất trong phẩm giá. Từng hành động nhỏ bé ấy dần lan tỏa, chạm đến trái tim của hàng ngàn người. Từ ngôi nhà nhỏ đầu tiên ở khu Motijhil, bà sáng lập Dòng Thừa Sai Bác Ái (Missionaries of Charity), nơi các nữ tu nguyện hiến dâng cuộc đời để phục vụ “những người nghèo nhất trong số những người nghèo.”

Thời gian trôi đi, Mẹ Teresa trở thành biểu tượng của tình thương. Bà không nói nhiều, nhưng ánh mắt và đôi tay luôn kể những câu chuyện của lòng nhân. Năm 1979, bà được trao Giải Nobel Hòa Bình – giải thưởng mà bà từ chối tiệc chiêu đãi và dùng toàn bộ số tiền để nuôi người nghèo ở Ấn Độ. Khi nhận giải, bà chỉ nói: “Phần thưởng thật sự là được phục vụ những người không ai muốn chạm tới.”

Mẹ Teresa chưa từng tìm kiếm danh vọng. Bà đi khắp thế giới, từ các khu ổ chuột ở Calcutta đến trại phong ở Ethiopia, từ bệnh viện ở New York đến mái ấm ở Beirut, nơi nào có khổ đau, nơi đó có bóng dáng của bà. Người ta thường thấy bà với tràng hạt Mân Côi trong tay, cầu nguyện giữa tiếng khóc, tin rằng tình yêu có thể cứu rỗi cả thế giới nếu bắt đầu từ những việc nhỏ nhất.

Ngày 5 tháng 9 năm 1997, Mẹ Teresa qua đời tại Calcutta, thành phố đã chứng kiến trọn vẹn hành trình của bà – từ một cô giáo trẻ đến người mẹ của hàng triệu linh hồn. Hàng trăm nghìn người đổ ra đường tiễn đưa. Hai thập kỷ sau, năm 2016, Giáo hoàng Francis đã tuyên phong bà là Thánh Teresa của Calcutta, để nhân loại luôn nhớ rằng lòng tốt không bao giờ lỗi thời.

Trong ánh sáng dịu của hoàng hôn Ấn Độ, người ta vẫn kể về Mẹ Teresa như kể về một ngọn nến nhỏ đã thắp lên giữa bóng tối, dạy con người rằng sự vĩ đại nằm trong những điều nhỏ được làm bằng tình yêu lớn.

24/10/2025

DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN CUỘC GẶP GỠ TOÀN CẦU CỦA CÁC PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG

Phòng Phaolô VI
Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2025

Anh chị em thân mến,

Đây là lần đầu tiên tôi có niềm vui được gặp gỡ anh chị em, tiếp nối hành trình mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khởi xướng, người mà trong những năm qua đã thường xuyên đối thoại với thực tại của anh chị em, làm nổi bật tầm quan trọng mang tính tiên tri của anh chị em trong bối cảnh một thế giới đang bị ảnh hưởng bởi nhiều vấn đề khác nhau.

Một trong những lý do tôi chọn tên “Lêô XIV” là vì Thông điệp Rerum Novarum, do Đức Lêô XIII viết trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Tựa đề Rerum Novarum có nghĩa là “những điều mới mẻ”. Chắc chắn thế giới có nhiều “điều mới”, nhưng khi chúng ta nói như vậy, thường là từ “cái nhìn từ trung tâm” và ám chỉ đến những thứ như trí tuệ nhân tạo hay robot. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn cùng anh chị em nhìn vào “những điều mới” từ vùng ngoại vi.

Nhìn “những điều mới” từ vùng ngoại vi

Hơn mười năm trước, tại Vatican này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói với anh chị em rằng anh chị em đến để giương cao một ngọn cờ. Trên đó viết gì? “Đất đai, nhà ở và việc làm”. “Tierra, techo, trabajo”, như Guadalupe vừa nhắc đến. Đó là một “điều mới” đối với Giáo hội, và đó là một điều tốt đẹp! Đáp lại lời kêu gọi của Đức Phanxicô, hôm nay tôi nói: đất đai, nhà ở và việc làm là những quyền thiêng liêng, xứng đáng để đấu tranh, và tôi muốn anh chị em nghe tôi nói: “Tôi đồng hành!”, “Tôi ở bên anh chị em!”

Yêu cầu đất đai, nhà ở và việc làm cho những người bị loại trừ có phải là một “điều mới”? Nhìn từ các trung tâm quyền lực thế giới thì chắc chắn là không; những ai có sự ổn định tài chính và một ngôi nhà tiện nghi có thể xem những yêu cầu này là lỗi thời. Những thứ thực sự “mới” dường như là xe tự lái, đồ vật hay trang phục thời thượng, điện thoại di động cao cấp, tiền mã hóa và những thứ tương tự.

Nhưng từ vùng ngoại vi, mọi thứ lại hiện ra khác biệt; biểu ngữ mà anh chị em giương cao vẫn mang tính thời sự đến mức xứng đáng có một chương riêng trong tư tưởng xã hội Kitô giáo về những người bị loại trừ trong thế giới hôm nay.

Đây là góc nhìn mà tôi muốn truyền tải: những điều mới mẻ được nhìn từ vùng ngoại vi, và sự dấn thân của anh chị em không chỉ dừng lại ở phản kháng, mà còn tìm kiếm giải pháp. Các vùng ngoại vi thường kêu gọi công lý, và tiếng kêu của anh chị em không phải là “tiếng kêu tuyệt vọng”, mà là “tiếng kêu của khát vọng”: đó là tiếng kêu để tìm ra giải pháp trong một xã hội bị chi phối bởi những hệ thống bất công. Và anh chị em không làm điều đó bằng vi mạch hay công nghệ sinh học, mà từ cấp độ căn bản nhất, với vẻ đẹp của thủ công. Và đó chính là thi ca: anh chị em là những “thi sĩ xã hội”. [2]

Hôm nay, anh chị em lại một lần nữa giương cao biểu ngữ đất đai, nhà ở và việc làm, cùng nhau bước đi từ một trung tâm xã hội – Spin Time – đến Vatican. Cuộc hành trình đồng hành này là minh chứng cho sức sống của các phong trào quần chúng như những người kiến tạo tình liên đới trong sự đa dạng. Giáo hội phải đồng hành cùng anh chị em: một Giáo hội nghèo vì người nghèo, một Giáo hội biết vươn ra, một Giáo hội dám chấp nhận rủi ro, một Giáo hội can đảm, tiên tri và đầy niềm vui!

Điều tôi cho là quan trọng nhất, đó là sự phục vụ của anh chị em được thúc đẩy bởi tình yêu. Tôi biết có những thực tại và trải nghiệm tương tự ở các quốc gia khác – những không gian cộng đồng thực sự, đầy tràn đức tin, hy vọng và nhất là tình yêu, vốn là nhân đức cao cả nhất (x. 1Cr 13,13). Thật vậy, khi người ta thành lập các hợp tác xã và nhóm lao động để nuôi người đói, che chở người vô gia cư, cứu giúp người gặp nạn, chăm sóc trẻ em, tạo việc làm, tiếp cận đất đai và xây dựng nhà ở – chúng ta phải nhớ rằng đó không phải là hành động mang tính ý thức hệ, mà là đang sống Tin Mừng một cách đích thực.

Bởi vì ở trung tâm của Tin Mừng chính là giới luật yêu thương, và Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng nơi khuôn mặt và vết thương của người nghèo, chính khuôn mặt của Ngài đang ẩn hiện (x. Mt 25,34-40). Thật đẹp biết bao khi thấy các phong trào quần chúng, trước cả nhu cầu công lý, lại được thúc đẩy bởi khát vọng yêu thương – chống lại mọi chủ nghĩa cá nhân và định kiến.

Là một Giám mục tại Peru, tôi cảm thấy hạnh phúc khi được trải nghiệm một Giáo hội luôn đồng hành với con người trong nỗi đau, niềm vui, những cuộc đấu tranh và hy vọng của họ. Đây là liều thuốc giải cho một sự thờ ơ mang tính cơ cấu đang ngày càng lan rộng – một sự thờ ơ không xem trọng bi kịch của những dân tộc bị tước đoạt, bị cướp bóc, bị khai thác và bị đẩy vào cảnh nghèo đói. Nhiều khi chúng ta cảm thấy bất lực trước thực trạng ấy, tuy nhiên, đối với điều mà tôi gọi là “toàn cầu hóa sự bất lực”, chúng ta cần bắt đầu đối kháng bằng một “nền văn hóa của hòa giải và dấn thân”. Các phong trào quần chúng đang lấp đầy khoảng trống do sự thiếu vắng tình yêu gây ra bằng phép lạ lớn lao của tình liên đới – được xây dựng trên sự chăm sóc tha nhân và tinh thần hòa giải.

Như tôi đã nói, những cuộc thảo luận thông thường về “những điều mới” – với tiềm năng và nguy cơ của chúng – thường bỏ qua những gì đang xảy ra ở vùng ngoại vi. Từ trung tâm, người ta ít nhận thức được các vấn đề đang đè nặng lên những người bị loại trừ, và khi những vấn đề ấy được đề cập trong các cuộc thảo luận chính trị hay kinh tế, người ta có cảm giác rằng đó chỉ là “một vấn đề được thêm vào như một nghĩa vụ hoặc một cách gián tiếp, nếu không muốn nói là bị xem như một thiệt hại phụ. Thực tế là, cuối cùng, chúng thường bị xếp cuối cùng trong danh sách các ưu tiên”. Trái lại, người nghèo lại là trung tâm của Tin Mừng. Vì thế, các cộng đồng bị gạt ra bên lề cần được lôi cuốn vào một cam kết tập thể và liên đới nhằm đảo ngược xu hướng phi nhân hóa do bất công xã hội gây ra, và thúc đẩy một sự phát triển nhân bản toàn diện.

Thật vậy, “chừng nào các vấn đề của người nghèo chưa được giải quyết một cách triệt để – bằng cách từ chối sự tự trị tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính, đồng thời đối diện với các nguyên nhân cơ cấu của bất bình đẳng – thì sẽ không thể tìm ra giải pháp cho các vấn đề của thế giới, hay đúng hơn, cho bất kỳ vấn đề nào. Bất bình đẳng là cội rễ của mọi tai họa xã hội”. [5]

Những bất công cũ trong thế giới mới

Sự dấn thân của anh chị em lại càng trở nên cần thiết hơn trong một thế giới mà – như chúng ta biết – ngày càng toàn cầu hóa. Như Đức Bênêđictô XVI đã khẳng định: “Các tiến trình toàn cầu hóa, nếu được hiểu và định hướng đúng đắn, sẽ mở ra những khả năng chưa từng có để phân phối lại của cải trên quy mô toàn cầu; nhưng nếu bị định hướng sai lạc, chúng có thể dẫn đến sự gia tăng nghèo đói và bất bình đẳng, thậm chí có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng toàn cầu”. [6]

Điều này có nghĩa là các động lực của tiến bộ luôn cần được quản lý thông qua một nền đạo đức của trách nhiệm, vượt qua nguy cơ tôn thờ lợi nhuận và luôn đặt con người cùng sự phát triển toàn diện của họ vào trung tâm. “Con người” chính là trọng tâm trong cái nhìn của thánh Augustinô về một nền đạo đức của trách nhiệm. Ngài dạy chúng ta rằng trách nhiệm – đặc biệt đối với người nghèo và những ai có nhu cầu vật chất – phát sinh từ việc chúng ta là con người với nhau, và do đó, từ việc nhận ra “nhân tính chung” của chúng ta. [7]

Vì tất cả chúng ta đều chia sẻ cùng một nhân tính, nên cần phải đảm bảo rằng những “điều mới mẻ” được quản lý một cách thích hợp. Vấn đề này không nên chỉ nằm trong tay của các tầng lớp tinh hoa chính trị, khoa học hay học thuật, mà phải là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Sự sáng tạo mà Thiên Chúa đã ban cho con người – vốn đã tạo ra những tiến bộ lớn lao trong nhiều lĩnh vực – vẫn chưa thể đối diện một cách hiệu quả với thách thức của nghèo đói, và vì thế, vẫn chưa thể đảo ngược tình trạng bị loại trừ nghiêm trọng của hàng triệu người đang sống bên lề xã hội. Đây chính là điểm trọng tâm trong cuộc thảo luận về những “điều mới”.

Khi vị tiền nhiệm của tôi – Đức Lêô XIII – viết thông điệp Rerum Novarum vào cuối thế kỷ XIX, ngài không tập trung vào công nghệ công nghiệp hay các nguồn năng lượng mới, mà vào hoàn cảnh của người lao động. Chính tại đây, sức mạnh Tin Mừng của thông điệp ấy được thể hiện: trọng tâm chính là hoàn cảnh của người nghèo và những người bị áp bức thời đó. Và lần đầu tiên, với sự rõ ràng tuyệt đối, một vị Giáo hoàng đã tuyên bố rằng những cuộc đấu tranh hằng ngày vì sự sống còn và công bằng xã hội là điều có tầm quan trọng nền tảng đối với Giáo hội. Đức Lêô XIII đã lên án sự khuất phục của đa số trước quyền lực “của một số ít; đến mức một nhóm nhỏ những người rất giàu có đã có thể áp đặt lên đám đông người lao động nghèo một gánh nặng chẳng khác gì chế độ nô lệ”. [8] Đó chính là sự bất bình đẳng nghiêm trọng của thời đại ấy.

Trong Thông điệp của Đức Lêô XIII, chúng ta không thấy các từ như “thất nghiệp” hay “bị loại trừ”, bởi vì vào thời điểm đó, các vấn đề chủ yếu xoay quanh việc cải thiện điều kiện làm việc, chống lại sự bóc lột, và nhu cầu cấp thiết về một sự hài hòa xã hội mới cùng một cân bằng chính trị mới – những mục tiêu mà dần dần đã đạt được nhờ vào nhiều đạo luật lao động và các thiết chế an sinh xã hội. Ngày nay, sự loại trừ lại trở thành gương mặt mới của bất công xã hội. Khoảng cách giữa một “thiểu số nhỏ” – tức 1% dân số – và đại đa số còn lại đã mở rộng một cách đáng báo động.

Sự loại trừ này là một “điều mới” mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã lên án như là “nền văn hóa loại bỏ”, và ngài đã mạnh mẽ tuyên bố: “Những người bị loại trừ không phải là những người bị bóc lột, mà là những người bị gạt ra ngoài, là ‘phế phẩm’”. [9]

Khi nói về sự loại trừ, chúng ta cũng đối mặt với một nghịch lý. Việc thiếu đất đai, lương thực, nhà ở và công việc tử tế lại tồn tại song song với khả năng tiếp cận các công nghệ mới đang lan rộng khắp nơi qua các thị trường toàn cầu hóa. Điện thoại di động, mạng xã hội và thậm chí trí tuệ nhân tạo đều nằm trong tầm tay của hàng triệu người, kể cả người nghèo. Tuy nhiên, trong khi ngày càng nhiều người có thể truy cập Internet, thì những nhu cầu căn bản vẫn chưa được đáp ứng. Chúng ta cần đảm bảo rằng, khi các nhu cầu tinh vi hơn được thỏa mãn, thì những nhu cầu thiết yếu không bị bỏ quên.

Chính sự tùy tiện mang tính hệ thống này đã khiến con người bị tước đoạt những gì cần thiết và bị nhấn chìm trong những thứ phụ trợ. Tóm lại, việc quản lý sai lầm đã tạo ra và làm gia tăng bất bình đẳng dưới danh nghĩa tiến bộ. Và khi phẩm giá con người không được đặt làm trung tâm, thì hệ thống ấy cũng thất bại trong việc thực thi công lý.

Tác động của những “điều mới” đối với người bị loại trừ

Hôm nay tôi sẽ không trình bày một cách đầy đủ về những “điều mới” do các trung tâm phát triển công nghệ tạo ra, nhưng chúng ta đều biết rằng chúng có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực chính của đời sống xã hội: y tế, giáo dục, việc làm, giao thông, đô thị hóa, truyền thông, an ninh, quốc phòng, v.v. Nhiều tác động trong số đó mang tính hai mặt: tích cực đối với một số quốc gia và tầng lớp xã hội, nhưng lại gây ra những “thiệt hại phụ” cho những nhóm khác. Một lần nữa, đây là hậu quả của việc quản lý tiến bộ công nghệ một cách sai lầm.

Khủng hoảng khí hậu có lẽ là ví dụ rõ ràng nhất. Chúng ta thấy điều đó qua mỗi hiện tượng thời tiết cực đoan – lũ lụt, hạn hán, sóng thần, động đất – ai là người chịu thiệt hại nhiều nhất? Luôn là những người nghèo. Họ mất đi chút tài sản ít ỏi khi nước cuốn trôi nhà cửa, và thường buộc phải rời bỏ nơi ở mà không có lựa chọn thích hợp để bắt đầu lại cuộc sống. Điều tương tự cũng xảy ra khi, chẳng hạn, nông dân, người làm nông và các cộng đồng bản địa mất đất đai, bản sắc văn hóa và mô hình sản xuất địa phương bền vững do sa mạc hóa lãnh thổ của họ.

Một khía cạnh khác của những “điều mới” ảnh hưởng đặc biệt đến người bị gạt ra bên lề liên quan đến những lo âu và hy vọng của người nghèo trước các mô hình sống đang được quảng bá liên tục ngày nay. Ví dụ: làm sao một người trẻ nghèo có thể sống với hy vọng và không lo lắng khi mạng xã hội liên tục tôn vinh lối sống tiêu dùng phóng túng và thành công kinh tế hoàn toàn ngoài tầm với?

Và thêm nữa, một vấn đề không nhỏ là sự lan rộng của tình trạng nghiện cờ bạc kỹ thuật số. Các nền tảng được thiết kế để tạo ra sự lệ thuộc cưỡng chế và hình thành những thói quen gây nghiện.

Tôi cũng không muốn im lặng trước “điều mới” đến từ ngành công nghiệp dược phẩm, vốn dĩ ở một số khía cạnh là một bước tiến lớn, nhưng không phải không có những điểm mơ hồ. Trong nền văn hóa hiện nay – với sự hỗ trợ không nhỏ từ các chiến dịch quảng cáo – người ta cổ vũ một kiểu tôn thờ sức khỏe thể chất, gần như là sùng bái thân thể, và trong cách nhìn đó, mầu nhiệm của đau khổ bị giản lược một cách nghèo nàn. Điều này có thể dẫn đến sự lệ thuộc vào việc sử dụng thuốc giảm đau, mà việc bán ra những loại thuốc ấy tất nhiên lại làm tăng lợi nhuận cho chính các công ty sản xuất. Hệ quả là tình trạng nghiện thuốc giảm đau nhóm opioid, đang tàn phá đặc biệt tại Hoa Kỳ; hãy nghĩ đến fentanyl – loại ma túy chết người – hiện là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trong số người nghèo tại quốc gia đó. Sự lan rộng của các loại ma túy tổng hợp mới, ngày càng nguy hiểm hơn, không chỉ là tội ác của những kẻ buôn bán ma túy, mà còn là một thực trạng liên quan đến việc sản xuất thuốc và lợi nhuận của ngành này – vốn thiếu vắng một nền đạo đức toàn cầu.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sự phát triển của các công nghệ thông tin và viễn thông mới phụ thuộc vào các loại khoáng sản thường nằm dưới lòng đất của các quốc gia nghèo. Chẳng hạn, nếu không có coltan từ Cộng hòa Dân chủ Congo, thì nhiều thiết bị công nghệ mà chúng ta sử dụng ngày nay sẽ không thể tồn tại. Tuy nhiên, việc khai thác loại khoáng sản này lại gắn liền với bạo lực của các nhóm vũ trang, lao động trẻ em và việc cưỡng ép người dân phải rời bỏ nơi ở. Lithium là một ví dụ khác: cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc và các tập đoàn lớn để khai thác lithium đang là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với chủ quyền và sự ổn định của các quốc gia nghèo, đến mức một số doanh nhân và chính trị gia còn tự hào khoe rằng họ thúc đẩy các cuộc đảo chính và những hình thức gây bất ổn chính trị khác – chỉ để giành quyền kiểm soát “vàng trắng” của lithium.

Và cuối cùng, tôi muốn đề cập đến vấn đề an ninh. Các quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ biên giới của mình, nhưng điều đó cần được cân bằng với bổn phận luân lý là phải cung cấp nơi trú ẩn. Khi những người di cư dễ bị tổn thương bị lạm dụng, chúng ta không chứng kiến việc thực thi hợp pháp chủ quyền quốc gia, mà đúng hơn là những tội ác nghiêm trọng do nhà nước gây ra hoặc dung túng. Ngày càng có nhiều biện pháp vô nhân đạo – thậm chí được ca ngợi về mặt chính trị – được áp dụng để đối xử với những người “không mong muốn” như thể họ là rác thải chứ không phải là con người. Trong khi đó, Kitô giáo lại nói về Thiên Chúa là Tình Yêu, Đấng làm cho tất cả chúng ta trở thành anh chị em và mời gọi chúng ta sống như anh chị em với nhau.

Đồng thời, tôi cảm thấy được khích lệ khi thấy các phong trào quần chúng, các tổ chức xã hội dân sự và Giáo hội đang đối mặt với những hình thức phi nhân hóa mới này, không ngừng làm chứng rằng những ai đang gặp khó khăn chính là người thân cận của chúng ta, là anh chị em của chúng ta. Điều đó khiến anh chị em trở thành những nhà vô địch của nhân loại, những chứng nhân của công lý, những thi sĩ của tình liên đới.

Cuộc đấu tranh chính đáng của các phong trào quần chúng

Trong thông điệp Rerum Novarum, Đức Lêô XIII đã nhận xét rằng: “Các công đoàn lao động cổ xưa đã bị bãi bỏ trong thế kỷ trước, và không có tổ chức bảo vệ nào khác thay thế chúng”. [10] Người nghèo trở nên dễ bị tổn thương hơn và ít được bảo vệ hơn. Ngày nay, một điều tương tự đang xảy ra, bởi vì các công đoàn kiểu mẫu của thế kỷ XX hiện chỉ đại diện cho một tỷ lệ ngày càng nhỏ trong lực lượng lao động, và các hệ thống an sinh xã hội đang lâm vào khủng hoảng ở nhiều quốc gia. Vì vậy, cả công đoàn, các hiệp hội chủ lao động, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều dường như không đủ khả năng để đối phó với những vấn đề này. Nhưng như thánh Augustinô đã nhắc nhở chúng ta: “Một quốc gia không có công lý thì không phải là một quốc gia”. [11] Công lý đòi hỏi các thể chế của mỗi quốc gia phải phục vụ mọi tầng lớp xã hội và tất cả cư dân, hài hòa các nhu cầu và lợi ích khác nhau.
Một lần nữa, chúng ta đang đối mặt với một khoảng trống đạo đức, nơi cái ác dễ dàng xâm nhập. Tôi nhớ đến một dụ ngôn – dụ ngôn về thần ô uế bị xua đuổi, nhưng khi quay trở lại, nó thấy ngôi nhà cũ đã được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, và rồi nó tổ chức một cuộc tấn công còn tồi tệ hơn nữa (x. Mt 12,43-45). Trong khoảng trống được sắp xếp gọn gàng ấy, thần dữ được tự do hành động. Các thể chế xã hội trong quá khứ không hoàn hảo, nhưng khi phần lớn trong số đó bị loại bỏ và những gì còn lại chỉ được tô điểm bằng các đạo luật thiếu hiệu lực và các hiệp ước không được thực thi, thì hệ thống ấy lại khiến con người trở nên dễ bị tổn thương hơn trước.

Vì thế, các phong trào quần chúng – cùng với những người thiện chí, các Kitô hữu, các tín hữu và các chính phủ – được khẩn thiết mời gọi lấp đầy khoảng trống ấy, khởi động những tiến trình công lý và liên đới lan tỏa khắp xã hội. Bởi như tôi đã từng nói: “Ảo tưởng làm chúng ta sao lãng, chuẩn bị thì dẫn đường. Ảo tưởng tìm kiếm kết quả, chuẩn bị thì tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ”. [12]

Trong Tông huấn Dilexi te, tôi đã muốn nhắc lại rằng “nhiều phong trào quần chúng, gồm những người giáo dân và được dẫn dắt bởi các nhà lãnh đạo bình dân, […] thường bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ, thậm chí bị bách hại”. [13] Tuy nhiên, những cuộc đấu tranh của anh chị em dưới ngọn cờ đất đai, nhà ở và việc làm vì một thế giới tốt đẹp hơn xứng đáng được khích lệ. Và cũng như Giáo hội từng đồng hành với quá trình hình thành các công đoàn trong quá khứ, ngày nay chúng ta cần đồng hành với các phong trào quần chúng. Điều đó có nghĩa là đồng hành với nhân loại, cùng nhau bước đi trong sự tôn trọng phẩm giá con người và khát vọng chung về công lý, tình yêu và hòa bình.

Giáo hội ủng hộ những cuộc đấu tranh chính đáng của anh chị em vì đất đai, nhà ở và việc làm. Giống như vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phanxicô, tôi tin rằng những con đường công chính bắt đầu từ bên dưới và từ vùng ngoại vi tiến về trung tâm. Những sáng kiến phong phú và sáng tạo của anh chị em có thể trở thành các chính sách công mới và các quyền xã hội mới. Cuộc tìm kiếm của anh chị em là chính đáng và cần thiết. Ai biết được, những hạt giống tình yêu mà anh chị em đang gieo – nhỏ bé như hạt cải (x. Mt 13,31-32; Mc 4,30-32; Lc 13,18-19) – có thể lớn lên thành một thế giới nhân bản hơn cho tất cả mọi người và giúp chúng ta quản lý tốt hơn những “điều mới”.

Giáo hội và tôi muốn ở gần anh chị em trên hành trình này. Chúng ta tiếp tục dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa Toàn Năng. Cùng với anh chị em, trong lời cầu nguyện, chúng ta khẩn xin Cha giàu lòng thương xót gìn giữ anh chị em và đổ đầy tình yêu vô tận của Ngài trên anh chị em. Xin Ngài, trong lòng nhân hậu vô biên, ban cho anh chị em lòng can đảm để sống lời ngôn sứ Tin Mừng, sự kiên trì trong cuộc đấu tranh, niềm hy vọng trong tim và sự sáng tạo mang tính thi ca. Tôi phó thác anh chị em cho sự hướng dẫn mẫu tử của Đức Maria Rất Thánh. Và từ tận đáy lòng, tôi ban phép lành cho anh chị em.

Cảm ơn, cảm ơn tất cả anh chị em! Hãy tiếp tục bước đi với niềm vui và hy vọng! Cảm ơn. Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.

Cuối bài diễn văn ĐTC đọc Kinh Lạy Cha bằng tiếng Tây Ban Nha. Ban phép lành.​

[1] “ Tierra, techo, trabajo”, le tre “T” in spagnolo.
[2] Francesco, Videomessaggio, 16 ottobre 2021.
[3] Videomessaggio in occasione della presentazione a Lampedusa della candidatura del progetto “Gesti dell’accoglienza” alla lista del Patrimonio culturale immateriale dell’UNESCO, 12 settembre 2025.
[4] Francesco, Lett. enc. Laudato si’, 49.
[5] Id., Esort. ap. Evangelii gaudium, 202.
[6] Benedetto XVI, Lett. enc. Caritas in veritate, 42.
[7] Cfr Agostino, Discorso 259, 3.
[8] Leone XIII, Lett. enc. Rerum novarum, 3.
[9] Francesco, Esort. ap. Evangelii gaudium, 53.
[10] Leone XIII, Lett. enc. Rerum novarum, 3.
[11] Agostino, De civitate Dei, XIX, 21, 1.
[12] Leone XIV, Udienza generale, 6 agosto 2025.
[13] Leone XIV, Esort. ap. Dilexi te, 80.

JB Nguyễn Hữu Vinh: Kỷ nguyên mới nên bắt đầu từ đâu?Mấy hôm nay, nhận được tin Lê Đình Lượng và Cấn Thị Thêu đang bị ng...
09/08/2025

JB Nguyễn Hữu Vinh: Kỷ nguyên mới nên bắt đầu từ đâu?

Mấy hôm nay, nhận được tin Lê Đình Lượng và Cấn Thị Thêu đang bị nguy kịch trong nhà tù. Một nỗi buồn man mác xâm chiếm tâm hồn mình.

Cấn Thị Thêu, một người đàn bà đã ba lần vào tù cộng sản. Nguyên nhân chỉ là vì quyết giữ đất giữ làng và bảo vệ cộng đồng tại Dương Nội trước nạn cướp bóc công khai "Có đảng, có đoàn, có con dấu..." trên khắp Việt Nam.

Một người đàn bà trong một gia đình mà hầu hết đã là tù nhân, ngoài ông chồng đã qua tù đày, giờ đang ở ngoài để lo cho cả nhà ba mẹ con hiện đang bị bắt đi giam giữ trong ba nhà tù trên ba miền đất nước - đó có lẽ là chính sách nhân đạo hiếm thấy trên đất nước này. Chỉ riêng hàng tháng "Chạy sô" khắp ba miền đất nước để thăm nuôi tù nhân, cũng đã là một việc quá sức tưởng tượng của một nông dân, chứ chưa nói đến còn lo làm ăn sinh sống.

Vậy nhưng hiện nay, vẫn không thể yên lòng khi người thân của mình đang nguy kịch trong lao tù Cộng sản.

Lê Đình Lượng - bản án 20 năm: Man rợ và thú tính

Lê Đình Lượng, hiện nay là một Tù nhân lương tâm với mức án 20 năm tù giam. Đó là một bản án hết sức nặng nề và vô nhân đạo với một người hiền lành, chất phác, không làm hại ai và thường suy nghĩ, hành động vì việc chung, vì đất nước đang bị hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc.

Với tôi, Lê Đình Lượng là một người quen biết từ rất lâu. Điều cảm nhận được từ anh, đó là sự chân thành, nhiệt tình và gan dạ khi dấn thân cho những công việc mà lẽ ra, trong xã hội mọi người đều phải làm, phải lên tiếng nếu có lương tâm con người và là một công dân tốt.

Việc nhà cầm quyền Việt Nam tống giam một con người như vậy vào tù với bản án 20 năm tù giam, là hành động trả thù đê hèn với những tiếng nói không hòa giọng với tiếng nói độc tài và dối trá.

Đặc biệt, những ngày gần đây, nghe tin từ gia đình thì Lê Đình Lượng đang bị ngược đãi, bị hành hạ trong nhà tù để nhằm trả thù một cách khắc nghiệt con người liêm chính này. Đó là hành vi hèn hạ, không quang minh chính đại và hết sức "trẻ con" khi hành hạ người không thể chống đỡ, không phải là hành vi của một chế độ đàng hoàng.

Trước khi bước vào Kỷ nguyên mới, nhà cầm quyền Việt Nam cần nhìn nhận lại không chỉ hành động, mà còn là đường lối để động viên mọi cá nhân, mọi con người có khả năng trong đất nước ra sức cống hiến cho đất nước, cho Tổ Quốc chứ không phải chỉ khư khư ôm giữ chiếc ghế cai trị của mình để tiêu diệt những tiếng nói đối lập.

Đã không ít lần, các quan chức Cộng sản lãnh đạo, từ Nông Đức Mạnh đến Võ Văn Thưởng, ở những chức vụ cao nhất đã nói rằng: "Tôn trọng những ý kiến khác biệt". Vậy đó là những điều nói thật hay sự lừa bịp?

Thiết nghĩ Tô Lâm với quyền lực trong tay, ít nhất là nên tỏ ra có thiện chí xây dựng đất nước, phụng sự Tổ Quốc bằng hành động xử sự tử tế với những người đang là Tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.

Một đảng "Chính nghĩa, vững mạnh, là trí tuệ nhân loại, là đạo đức văn minh, là đầy tớ nhân dân"... thì sợ gì ba thứ nói trái tai hoặc mấy người không tấc sắt trong tay ấy mà phải giam giữ, hành hạ họ?

Kỷ nguyên mới nên bắt đầu từ đâu? Bởi AdminTD - 09/08/2025 JB Nguyễn Hữu Vinh 8-8-2025 Mấy hôm nay, nhận được tin Lê Đình Lượng và Cấn Thị Thêu đang bị nguy kịch trong nhà tù. Một nỗi buồn man mác xâm chiếm tâm hồn mình. Cấn Th...

09/08/2025

Nóng từ giáo xứ Xuân Mỹ
Thông báo khẩn về việc cắt điện tại giáo xứ Xuân Mỹ
Kính gửi các vị Bí thư, xóm trưởng và toàn thể bà con giáo dân giáo xứ Xuân Mỹ,
Sáng mai, Điện lực sẽ về thu tiền điện tại xóm 3. Tôi đề nghị Bí thư, xóm trưởng 2 xóm và toàn thể bà con giáo dân giáo xứ Xuân Mỹ có mặt tại nhà văn hóa xóm 3 để cùng chất vấn về việc tự ý cắt điện xóm giáo trong ba ngày từ thứ Sáu đến Chủ nhật vừa qua.
Việc cắt điện diễn ra đúng vào dịp tuần chầu lượt và lễ kỷ niệm 100 năm thành lập giáo xứ Xuân Mỹ. Chúng tôi yêu cầu bà con đi đông đủ để thể hiện sự đồng lòng. Nếu không, chúng ta sẽ xem xét các biện pháp phản đối khác, bao gồm cả việc biểu tình.
Những bức xúc cần làm rõ:
• Thiệt hại nghiêm trọng và sự vô cảm: Việc cắt điện không báo trước vào những giờ cao điểm trong 3 ngày đại lễ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến bộ mặt của xã Thần Lĩnh. Hàng ngàn bà con lương giáo từ khắp nơi, trong và ngoài nước, đổ về dự lễ đã phải chịu đựng cái nóng kinh khủng.
• Điện lực cắt điện có mục đích?: Khi người dân gọi điện hỏi lý do, Điện lực trả lời là do nhà thờ sử dụng điện nhiều. Tuy nhiên, nhà thờ vẫn sử dụng điện như mọi ngày. Đêm diễn nguyện chúng tôi đã sử dụng máy phát 300 KVA. Việc cắt điện chỉ xảy ra với xóm có người công giáo, mặc dù xóm đó chỉ cách một con đường với khu vực khác, đã gây ra nghi ngờ về sự kỳ thị. Phải chăng đây là sự hiềm thù về ý thức hệ và tôn giáo? Đặc biệt, ngay sau lễ thì việc mất điện không còn xảy ra nữa.
• Sự vô trách nhiệm của các bên liên quan:
o Điện lực Nghi Lộc: Đã có những lời giải thích không thỏa đáng, như "đường át nhảy", dù việc mất điện kéo dài 3 ngày. Họ còn biện hộ rằng người dân sử dụng điện mà không báo trước, một lý do hết sức vô lý.
o Chính quyền địa phương: Chúng tôi đã gọi điện cho Chủ tịch xã Thần Lĩnh, nhưng câu trả lời "việc cắt điện đó không liên quan đến Xã" đã thể hiện sự dửng dưng và vô trách nhiệm của người đứng đầu khi người dân đang bức xúc.
Việc cắt điện gây ra nhiều hệ lụy: trẻ con khóc, người già quằn quại trong bệnh tật, thực phẩm trong tủ lạnh bị hỏng, và nhiều thiệt hại khác. Ở các nước văn minh, khi mất điện không báo trước, công ty điện lực phải bồi thường thiệt hại cho người dân.
Chúng tôi lấy làm tiếc khi khu công nghiệp WHA gần đó luôn có điện sáng, trong khi người dân phải chịu đựng cảnh nóng nực. Chúng tôi yêu cầu Điện lực Nghi Lộc phải giải trình sự việc và gửi lời xin lỗi bằng văn bản tới toàn thể bà con. Đồng thời, chúng tôi yêu cầu khắc phục và chấm dứt ngay những hành xử nhỏ nhen, thiếu trách nhiệm nói trên.

Address

Ha Hoi
Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thanh Niên Công Giáo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share