21/04/2026
THỜI ĐẠI LÝ TRẦN
Màn đêm buông xuống bên ngoài ô cửa sổ nhỏ của căn phòng ký túc. Ánh-một sinh viên năm nhất khoa sư phạm lịch sử của Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội đang cặm cụi đọc những trang sách để tìm hiểu về thời đại Lý-Trần cho bài thuyết trình tuần tới của cô. Cặp mắt đằng sau chiếc kính đã thấm mệt nhưng vẫn cố lướt qua từng con chữ nhỏ. Tuy nhiên, cặp mắt đó dần không thể chịu nổi và nhắm nghiền lại, đưa Ánh vào giấc ngủ. Trên màn hình chiếc máy tính nhỏ của cô vẫn còn những dòng chữ ngay ngắn mà Ánh đã phải mất cả buổi chiều để soạn được ra.
Triều đại của 2 nhà Lý và Trần là một mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc ta, đây là một thời đại vô cùng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều lĩnh vực như tôn giáo, văn hóa, quân sự,...
________________________________________
I. Văn hóa thời Lý-Trần
1. Văn Học
Văn học thời Lý đánh dấu sự mở đầu cho nhiều truyền thống tốt đẹp với những bản sắc và đặc trưng riêng biệt của văn học dân tộc. Điểm nổi bật trong giai đoạn này ý thức tự hào về quê hương đất nước, ý chí quật cường khẳng định chủ quyền dân tộc đã giành được, quyết tâm dựng xây đất nước ngày càng vững mạnh. Một trong những đặc sắc văn học được khá ít nhà nghiên cứu nhắc tới đó là tính chất kì ảo, siêu nhiên tuy giản dị trong văn học Trung đại giai đoạn này, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của văn học dân tộc vào các giai đoạn sau này. Đây là thời kì mà cho thấy sự mật thiết giữa văn học viết và văn học dân gian, văn học thế tục và văn học tôn giáo. Gắn với truyền thuyết có tính chất kì ảo của văn học dân gian, lại xuất phát từ những yêu cầu chính trị cấp bách. Hầu như những sự kiện chính trị quan trọng thời đó ngày nay đều có thể nhận thấy dấu vết qua những mẩu truyện huyền thoại và những bài thơ “thần” kiểu này. Tuy nhiên nổi bật nhất vẫn là thông qua văn học Phật Giáo. Nổi bật có thể kể đến các vị thiền sư đương thời như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, có thể ngờ rằng chính họ là tác giả của không ít bài thơ “thần”, thơ “sấm”, hoặc ít ra họ cũng góp phần quan trọng trong việc truyền bá những bài thơ có tính chất kì ảo này. Xuất phát từ ý đồ tính cực, những tác phẩm kì ảo thời Lý, những tác phẩm này góp phần đấu tranh cho lợi ích của Tổ Quốc, kêu gọi con người hành động, góp sức vào công cuộc xây dựng nền văn hiến dân tộc, đồng thời khẳng định tính độc đáo cho một khởi đầu của các truyền thống tốt đẹp của văn học Trung Đại.
Bên cạnh đó, nền văn học của thời đại này còn thể hiện tinh thần thượng võ và ý chí bảo vệ Tổ Quốc của dân tộc ta. Ở trên nói về tính chất kì ảo và về việc thúc đẩy con người vào công cuộc xây dựng đất nước, thì tính chất thượng võ trong văn học thời đó cũng vô cùng đặc sắc không kém khi nói về tình yêu nước, tinh thần dân tộc, thượng võ được thể hiện trong văn học viết. Đơn cử hai bản hùng ca bất hủ của hai thời đại nhà Lý - Trần, đó là Tác phẩm Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên và Nam Quốc Sơn Hà được Lý Thường Kiệt đọc vang để khích lệ quân sĩ Đại Việt chống Tống lần II năm 1077. Nhìn nhận lịch sử một chút, đây là thời kì mà ta giành được những chiến thắng lớn mang tính lịch sử là Kháng chiến chống quân Tống năm 1077 và ba lần toàn thắng Mông - Nguyên năm 1288. Hai cuộc chiến cho thấy một tinh thần thượng võ và yêu đất nước, tình đoàn kết dân tộc. Trong giai đoạn này, văn học còn là phương tiện khích lệ và cổ vũ tinh thần dân tộc, thể hiện qua VĂN HỌC với những tác phẩm đặc sắc đã nêu, SỬ HỌC với những câu chuyện lịch sử về các chiến thắng lớn, và TRIẾT HỌC với những bài học sâu sắc về lòng yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần anh dũng. Ta vẫn gọi chung đây là thời kì VĂN - SỬ - TRIẾT bất phân, nghĩa là trong thời kì này, ta không thể phân biệt được trong một tác phẩm văn học, yếu tố nào là văn học, yếu tố nào là sử học và yếu tố nào là triết học cả.
________________________________________
2. Pháp luật
Thời kì này cũng cho thấy một bộ máy chính trị và hệ thống luật pháp quốc gia dần được hoàn thiện. Hình thư và Quốc Triều Hình Luật nhà Trần là nền tảng cho những bộ luật cải cách và hoàn chỉnh hơn về sau như Bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê. Hình Thư ra đời và được ban hành rộng rãi vào thời Lý Thái Tông. Thái Tông Hoàng đế chủ trương sửa đổi các bậc hình phạt, cách tra hỏi tội, thuế và đề cao sự khoan hồng trong hệ thống luật pháp. Được xem là bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được đánh giá là cột mốc quan trọng trong lịch sử luật pháp nước ta. So với thời Lý, bộ Quốc Triều Hình Luật thời Trần ra đời dựa trên nền tảng của Hình Thư, đồng thời bổ sung và sửa đổi các điều luật. Dưới thời Trần, có 2 bộ luật được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông. Năm 1230, Nhà vua xem xét lại những luật lệ của các triều vua trước, sửa đổi hình luật, lễ nghi, soạn thành “Quốc triều thông chế” hay “Quốc Triều Hình Luật” gồm 20 quyển. Như vậy có thể nói rằng, Quốc Triều Hình Luật là phiên bản hoàn thiện hơn từ những nền tảng vững chắc của Hình Thư, nhưng cả hai bộ đều bị thất truyền cuối thế kỉ XVII nên không thể biết về từng điều khoản của hai bộ luật đó. Dù chịu ảnh hưởng của luật pháp phong kiến Trung Hoa, nhưng hai bộ luật này được coi là sự Việt hóa mạnh mẽ, phù hợp với phong tục tập quán và thực tiễn Đại Việt. Đặc biệt, do ảnh hưởng của Phật giáo, cả hai bộ luật đều chứa đựng nhiều yếu tố nhân văn, khoan dung bên cạnh sự nghiêm minh. Được coi là những thành tựu lập pháp đầu tiên của Đại Việt, là tiêu biểu cho sự kết hợp giữa "Pháp trị" và "Đức trị" mang đậm màu sắc Phật giáo.
________________________________________
II. Tư tưởng tôn giáo
1. Phật giáo Trần Nhân Tông
Ánh tỉnh dậy giữa một đồng cỏ mênh mông, cô đứng dậy và nhìn ngó xung quanh, có lẽ cô sinh viên đã “xuyên không” về quá khứ. Bỗng ai đó khẽ chạm tay vào vai cô khiến Ánh giật mình quay lại. Đằng sau cô chính là một người đàn ông trung niên, mặc trang phục trông giống như quan lại thời phong kiến, ông nói:
- Đừng sợ, tôi chính là sứ giả thời gian, có vẻ cô đang gặp khó khăn trong việc tìm hiểu về thời đại nhà Lý và nhà Trần. Tôi sẽ giúp cô, để cho dễ nói chuyện cô có thể gọi tôi là Hoàng cũng được.
Khung cảnh liền thay đổi và xuất hiện trước một ngôi chùa nhỏ vắng vẻ. Hoàng giới thiệu:
- Phật giáo là một tín ngưỡng, đã không ngừng đóng góp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước với sự ra đời của nhiều anh hùng lỗi lạc, những vị thiền sư tài ba. Phật giáo đã dần dần trở thành tư tưởng chủ đạo của nền văn hóa dân tộc từ thời Đinh-Lê nhưng đặc biệt dưới thời nhà Lý - Trần, được coi là thời vàng son khi vị vua mở nghiệp thời nhà Lý xuất thân từ Thiền gia, và thời Trần xuất hiện Phật giáo Trần Nhân Tông. Tôi sẽ nói thêm về vị vua này.
________________________________________
2. Tam giáo Đồng Nguyên
- Cái này có lẽ tôi biết!
Ánh nhanh nhảu đáp, lấy quyển sổ nhỏ từ trong túi quần ra và đọc:
- Hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên“ là sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa Nho-Đạo- Phật giáo và hiện tượng này xuất hiện và tồn tại xuyên suốt trong đời sống văn hóa - xã hội dưới thời Trần. Bấy giờ, dù các nhà tư tưởng dưới thời Trần coi Phật giáo là trục tâm nhưng vẫn luôn vẫn dụng những yếu tố khả dụng trong Phật giáo, Đạo giáo để tạo nên hiện tượng Tam giáo đồng nguyên. Tam giáo đồng nguyên vốn đã xuất hiện và phát triển từ lâu ở Trung Quốc và quan niệm ấy cũng không phải đến đời Trần mới được truyền vào nước ta nhưng không triều đại nào, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ấy lại phát triển và được vận dụng sinh động, toàn diện trong thực tiễn đời sống như thời Trần. Đây không phải là bản sao “Tam giáo đồng nguyên” của Trung Quốc mà thực sự là sản phẩm bản địa dựa trên hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội đặc thù của Đại Việt lúc này.
- Mỗi tư tưởng tôn giáo từ Nho giáo, Đạo giáo hay Phật giáo thì tất cả đều được khởi phát từ nhu cầu tâm linh không thể thiếu vắng của con người và hướng đến cái đích cuối cùng là góp phần giải phóng con người, mang lại an lạc cho nhân dân và ổn định cho xã hội, hướng con người tới cái Thiện. Bên cạnh đó, quan điểm chính trị cởi mở của nhà nước thời Trần cũng là một trong những điều kiện quan trọng cho sự dung hợp và phát triển đồng thời cả ba tôn giáo Nho – Phật – Đạo. Lúc bấy giờ, do bản lĩnh và sự mẫn cảm trước yêu cầu của lịch sử, các vị vua thời Trần đã không chủ trương kì thị tôn giáo mà đưa các hệ thống giáo lý vốn khác nhau xích lại gần nhau nhằm cố kết lòng dân, ổn định tâm lý xã hội.
________________________________________
3. Giáo dục
Thêm một lần nữa, không gian xung quanh lại biến đổi một lần nữa. Ánh cảm thấy vô cùng thân thuộc khi nhìn thấy một nơi mà cô đã đến 1 ngày trước kì thi tốt nghiệp THPT Quốc Gia mình vừa trải qua năm ngoái, đó chính là Văn Miếu Quốc Tử Giám. Hoàng lặng lẽ đứng nhìn thầy đồ đang giảng bài cho các sĩ tử như đang hoài niệm về một điều gì đó, ông quay đầu về hướng Ánh đang đứng và nói.
- Đầu thời Lý, bên cạnh Phật giáo được chú trọng thì Nho giáo cũng trở nên phổ biến đối với nền giáo dục Việt Nam khi vị hoàng đế Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng và hun đúc tài năng tại ngôi chùa Lục Tổ nhờ trí tuệ và phẩm hạnh của Thiền sư Vạn Hạnh. Thời Lý-Trần, Nho giáo được phát triển từ trên xuống. 1070 Văn Miếu được thành lập là nơi dành riêng cho dạy học Hoàng Thái Tử, sau 5 năm, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi “Nho học tam trường” được tổ chức để chọn ra “Minh kinh bác học”, đây là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám phía sau Văn Miếu, đây là trường dành cho con em hoàng tộc với nền tảng giáo dục chính thức dựa trên Nho giáo.
________________________________________
III. Kiến trúc
Không gian trước mắt Ánh lại tiếp tục thay đổi, cô được nhìn thấy những ngôi chùa cổ kính có những bức tượng được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Hoàng tiếp tục nói:
- Thời đại Lý-Trần được xem là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, gắn chặt với chính trị, văn hóa và đời sống xã hội. Đây là giai đoạn hàng ngàn công trình ngôi đền, chùa được xây dựng và ảnh hưởng sâu sắc của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Ấn Độ. Kiến trúc đền chùa giai đoạn này chú trọng vào mỹ quan tinh tế, trang nghiêm, đem lại cho mọi người cảm giác thiêng liêng, cao cả. Chùa thời Lý được chia làm 3 hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam. Chùa Một Cột hay chùa Diên Hựu cũng được xây dựng trong thời kì này với quy mô rất hoành tráng, tuy nhiên bản ngày nay được dân chúng nhìn thấy chỉ là bản phục dựng lại, do công trình ban đầu đã bị thực dân Pháp phá hủy trong thời kì thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Đọc đến đây, trên nét mặt Hoàng có chút buồn nhưng ông vẫn cố gắng giới thiệu cho cô sinh viên về kiến trúc cổ như một người thầy tận tụy.
- Một trong những thành tựu của văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần là Bốn công trình nghệ thuật kiến trúc thuộc An Nam tứ đại khí lần lượt là: Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) được xây dựng từ năm 1057, đời vua Lý Thánh Tông. Tháp Báo Thiên (Hoàn Kiếm, Hà Nội) cũng được xây vào đời vua Lý Thánh Tông. Chuông Quy Điền (Ba Đình, Hà Nội) được đúc vào đời vua Lý Nhân Tông, cuối cùng là Vạc Phổ Minh (Thiên Trường, Ninh Bình) được đúc vào năm 1262, đời vua Trần Thái Tông. Có thể thấy, Nghệ thuật kiến trúc hòa quyện với văn hóa dân gian tạo nên một sự cân đối, hài hòa và bay bổng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc ta khi đó. chúng ta có thể hình dung ra nghệ thuật kiến trúc Phật giáo thời Lý, một loại công trình nổi bật trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.
Hai người dừng lại trước một quả chuông lớn. Hoàng chỉ vào nó:
- Đây là Chuông Quy Điền lúc nãy tôi có nói. Đúc chuông cũng là một thành tựu tiêu biểu đại diện cho kỹ thuật, sức lao động và sự sáng tạo của thời đại Lý-Trần. Chuông quy điền là quả chuông mất tới 12000 cân đồng thời đó (7,3 tấn đồng bây giờ) được đúc tại chùa Một Cột ngày nay vào thời vua Lý Nhân Tông. Do quả chuông quá nặng nên vua đành phải ra lệnh để nó ở ruộng rùa (tiếng hán là Quy Điền) dẫn tới cái tên Chuông Quy Điền. Tuy vậy sau này nó đã bị giặc Minh nấu chảy để sản xuất vũ khí cho chúng. Có lẽ tôi không còn nhiều thời gian nữa…
Hoàng bỗng thấy hình ảnh bản thân mình đang tan biến dần, ông chỉ kịp đưa cho Ánh một mảnh giấy nhỏ rồi biến mất. Mở mảnh giấy ra, cô chỉ thấy vài dòng chữ ngắn gọn.
________________________________________
IV. Nghệ thuật
1. Múa rối nước
Thời đại Lý-Trần cũng là cái nôi của nhiều loại nghệ thuật dân gian, trong đó có những màn múa rối nước có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt. Theo sử sách, múa rối nước xuất phát từ khoảng năm 1010 vào đời nhà Lý. Hình thức nghệ thuật này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và phát triển rất mạnh mẽ.
2. Nghệ thuật điêu khắc
Không chỉ nằm ở câu hát và những động tác uyển chuyển, nghệ thuật thời lý trần còn nằm ở cả những tác phẩm điêu khắc gắn liền với những công trình tôn giáo và cung đình. Ngày nay, người ta đã khai quật được các tác phẩm điêu khắc tại hoàng thành thăng long, không chỉ vậy, nhiều ngôi chùa cũng được xây dựng và còn ảnh hưởng văn hóa đến ngày nay như chùa Phật Tích, chùa Một Cột,...
________________________________________
V. Kết bài
Ánh tỉnh dậy trên bàn học, đồng hồ điểm 6 giờ sáng. Cô thở phào:
- Hóa ra tất cả chỉ là một giấc mơ!
Cô sinh viên trẻ thấy toàn bộ dự án của mình đều đã được hoàn thiện trên chiếc máy tính, chỉ để trống phần kết bài. Ánh liền viết thêm vào:
Dù đã rất lâu trôi qua nhưng nước Đại Việt ở thời đại Lý-Trần đã để lại rất nhiều di sản không chỉ về văn hóa mà còn là cả tinh thần dân tộc, niềm tự hào đã trở thành động lực cố gắng của các thế hệ mai sau
(Toàn bộ nhân vật, tên nhân vật và câu truyện đều là giả tưởng và nhằm mục đích dẫn dắt cho bài viết)