History for everyone - HE CSP

History for everyone - HE CSP Câu lạc bộ Lịch sử - Văn hóa đầu tiên và duy nhất tại trường THPT Chuyên Sư Phạm
(1)

Với mục đích tạo lập một môi trường tri thức lành mạnh dành cho các bạn trẻ đam mê Lịch sử và Văn hóa, ngày 11/03/2016, dưới sự dẫn dắt và đồng hành của cô Nguyễn Thị Thu Hà - Giáo viên bộ môn Lịch sử - Founder của CLB, HE đã chính thức ra đời, thực hiện sứ mệnh của mình. Cho đến thời điểm hiện tại, trải qua một hành trình dài, HE vẫn luôn không ngừng cố gắng mang đến những chương trình, chuyên mục, đem Lịch sử và Văn hóa tới gần hơn với cộng đồng đại chúng, đặc biệt là các bạn trẻ Việt Nam.

HÀNH TRÌNH ĐI ĐẾN MÙA XUÂN THỐNG NHẤTCó những ngày trong lịch sử không chỉ là dấu mốc của thời gian, mà còn là điểm hội ...
30/04/2026

HÀNH TRÌNH ĐI ĐẾN MÙA XUÂN THỐNG NHẤT

Có những ngày trong lịch sử không chỉ là dấu mốc của thời gian, mà còn là điểm hội tụ của ý chí, khát vọng và cả những mất mát không thể đong đếm. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một ngày như thế. Đó không chỉ là chiến thắng mở ra một trang sử mới, mà là kết tinh của cả một hành trình dài mà dân tộc Việt Nam đã đi qua bằng máu, nước mắt và niềm tin không bao giờ tắt.

Hành trình ấy không bắt đầu từ năm tháng chiến tranh chống Mỹ, mà đã âm ỉ từ khi đất nước còn chìm trong ách đô hộ. Từ những phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành lại độc lập, rồi tiếp nối bằng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhưng hòa bình vẫn chưa trọn vẹn, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền, để rồi một cuộc trường chinh mới lại bắt đầu.

Trong suốt hơn hai mươi năm sau đó, dân tộc Việt Nam đã bước vào một cuộc chiến đấu không cân sức nhưng chưa bao giờ thiếu niềm tin. Những đoàn quân ra trận mang theo lời thề “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu), những người mẹ tiễn con mà lòng đau đáu, những thanh niên tuổi đôi mươi gửi lại sau lưng cả tuổi xuân. Tất cả cùng hướng về một mục tiêu duy nhất: thống nhất đất nước.

Những địa danh như Trường Sơn, Quảng Trị, Tây Nguyên… đã trở thành biểu tượng của ý chí kiên cường. Và rồi, mùa xuân năm 1975, lịch sử đã sang trang. Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra như một bản hùng ca cuối cùng, mở ra cánh cửa của tự do. Trưa ngày 30/4, lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, khép lại những năm tháng chia cắt, mở ra kỉ nguyên độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Giây phút ấy, có lẽ không một câu chữ nào có thể diễn tả trọn vẹn. Đó là khoảnh khắc mà cả dân tộc vỡ òa - niềm vui của đoàn tụ, của sum họp, của những giấc mơ đau đáu trong lòng bao thế hệ.

Như Chế Lan Viên từng viết:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”

Tình yêu ấy đã trở thành động lực để cả một dân tộc đi qua chiến tranh, để những con người bình dị làm nên những điều phi thường.

Ngày hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, hành trình thống nhất không còn là câu chuyện của quá khứ, mà trở thành nền tảng cho hiện tại và tương lai. Thế hệ trẻ không còn cầm súng, nhưng mang trên vai trách nhiệm khác: xây dựng, phát triển và gìn giữ những giá trị mà cha ông đã đánh đổi bằng cả cuộc đời.

30/4 vì thế không chỉ là ngày kỉ niệm, mà còn là lời nhắc nhở. Nhắc rằng độc lập - tự do chưa bao giờ là điều hiển nhiên. Nhắc rằng mỗi bước tiến của đất nước hôm nay đều được xây dựng từ những hi sinh của cha ông. Và hơn hết, nhắc rằng hành trình của dân tộc vẫn đang tiếp diễn - hành trình của phát triển, hội nhập và khẳng định vị thế Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Hành trình đi đến mùa xuân thống nhất đã khép lại bằng một chiến thắng. Và hành trình giữ gìn và phát triển mùa xuân ấy vẫn đang tiếp tục, trong từng con người Việt Nam hôm nay.
---------------------------------
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Facebook: History for everyone - HE CSP
Email: [email protected]
Hotline:
0378508668 - Lê Nguyễn Thục Hân (Chủ tịch)
0968657620 - Trịnh Minh Phương (Trưởng ban Truyền thông)

RỐI BÓNG WAYANG KULIT_________________________________________________________I. NGUỒN GỐC1. Khái niệm, ý nghĩa tên gọiT...
23/04/2026

RỐI BÓNG WAYANG KULIT
_________________________________________________________
I. NGUỒN GỐC
1. Khái niệm, ý nghĩa tên gọi
Thuật ngữ “Wayang Kulit” bắt nguồn từ tiếng Java, trong đó “Wayang” mang nghĩa là “bóng”, còn “Kulit” có nghĩa là “da”. Cách gọi này phản ánh trực tiếp đặc trưng vật chất và hình thức biểu diễn của loại hình nghệ thuật này, khi các con rối được chế tác từ da động vật (thường là da trâu) và trình diễn dưới dạng bóng chiếu trên màn vải. Trong bối cảnh hiện đại, “wayang” không chỉ dùng để chỉ con rối mà còn có thể biểu thị toàn bộ loại hình sân khấu rối bóng truyền thống.
2. Lịch sử
Wayang Kulit có nguồn gốc lâu đời tại đảo Java (Indonesia), với sự hình thành được cho là từ trước thế kỷ 10. Trong quá trình phát triển, loại hình này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa và tôn giáo Ấn Độ, đặc biệt là Ấn Độ giáo, thể hiện qua việc sử dụng các sử thi như Ramayana và Mahabharata làm nội dung chính. Khi Hồi giáo lan rộng tại khu vực, nghệ thuật này đã thích nghi bằng cách nhấn mạnh vào hình thức bóng thay vì mô tả trực tiếp hình tượng con người hoặc thần linh, nhằm phù hợp với các quy định tôn giáo. Trải qua nhiều thế kỷ, Wayang Kulit không chỉ đóng vai trò giải trí mà còn mang chức năng nghi lễ và truyền tải các giá trị đạo đức, triết lý trong xã hội.
_________________________________________________________
II. QUÁ TRÌNH CHẾ TÁC
Quy trình chế tác con rối Wayang Kulit là một quá trình thủ công tinh xảo, bắt đầu bằng việc sử dụng da động vật (thường là da trâu) đã được xử lý để trở nên bền và dẻo. Tấm da sau đó được cắt và chạm khắc tỉ mỉ bằng các dụng cụ chuyên dụng để tạo ra hình dáng nhân vật cùng những hoa văn phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao. Sau khi hoàn thiện phần tạo hình, các nghệ nhân tiến hành tô màu và trang trí, và họ thường sử dụng các sắc màu truyền thống. Cuối cùng, các thanh điều khiển bằng sừng hoặc gỗ được gắn vào con rối nhằm phục vụ cho việc điều khiển trong quá trình biểu diễn, tạo nên sự linh hoạt trong kể chuyện.
_________________________________________________________
III. NGHỆT THUẬT BIỂU DIỄN WAYANG KULIT
Wayang Kulit không chỉ đơn thuần là một loại hình múa rối mà còn là sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật trình diễn, yếu tố tâm linh và âm nhạc truyền thống. Trung tâm của buổi diễn là Dalang - người nghệ nhân đa tài đảm nhận vai trò dẫn chuyện, đạo diễn và lồng tiếng cho các nhân vật. Họ phải thuộc lòng những bản trường ca dài, có khả năng biến đổi giọng nói linh hoạt để thể hiện hàng chục nhân vật khác nhau. Ngồi phía sau tấm màn trắng gọi là kelir, dùng tay điều khiển những con rối bằng que gỗ và dùng chân phát tín hiệu cho dàn nhạc Gamelan. Các con rối Wayang được chế tác thủ công từ da trâu hoặc da bò, chạm khắc tinh xảo, tô màu sắc nét, mỗi con đều tượng trưng cho nhân vật thiện hoặc ác. Đồng hành với màn trình diễn là dàn nhạc Gamelan gồm khoảng 20 đến 40 nhạc công chơi các nhạc cụ truyền thống như chiêng, trống và đàn kim loại, tạo nên nhịp điệu, tăng cao kịch tính và dẫn dắt cảm xúc người xem. Không gian biểu diễn thường sử dụng đèn dầu blencong hoặc đèn điện đặt phía sau Dalang để chiếu bóng các con rối lên màn trắng. Sự đan xen giữa ánh sáng và bóng tối đã tạo nên vẻ huyền ảo đặc trưng, đồng thời ẩn dụ cho tâm hồn con người và cuộc đấu tranh muôn thuở giữa cái thiện và cái ác.
_________________________________________________________
IV. Ý NGHĨA CỦA LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
Wayang Kulit mang trong mình những giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc, được xem là loại hình nghệ thuật hướng thiện, nơi cái thiện luôn chiến thắng cái ác, qua đó góp phần giáo dục đạo đức và lối sống tốt đẹp cho cộng đồng. Đây còn là biểu tượng văn hóa và tâm linh tiêu biểu của Indonesia, hội tụ những tinh hoa truyền thống, phản ánh thế giới quan, thần thoại và triết lý sống của người dân bản địa. Sức hấp dẫn của Wayang Kulit còn nằm ở sự kết hợp hoàn chỉnh giữa nhiều yếu tố nghệ thuật khác nhau: Dalang là người kể chuyện và điều khiển rối, giữ vai trò linh hồn của buổi diễn; âm nhạc Gamelan tạo nên bầu không khí linh thiêng, trang trọng và đầy kịch tính; còn hình ảnh bóng mờ ảo, lung linh trên màn trắng tượng trưng cho những tầng ý nghĩa sâu xa của cuộc đời. Không chỉ dừng lại ở chức năng giải trí, Wayang Kulit còn là phương tiện lưu giữ và truyền tải các câu chuyện sử thi nổi tiếng như Mahabharata hay Ramayana, từ đó gắn kết cộng đồng với cội nguồn văn hóa và di sản của tổ tiên.
---------------------------------
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Facebook: History for everyone - HE CSP
Email: [email protected]
Hotline:
0378508668 - Lê Nguyễn Thục Hân (Chủ tịch)
0968657620 - Trịnh Minh Phương (Trưởng ban Truyền thông)

THỜI ĐẠI LÝ TRẦNMàn đêm buông xuống bên ngoài ô cửa sổ nhỏ của căn phòng ký túc. Ánh-một sinh viên năm nhất khoa sư phạm...
21/04/2026

THỜI ĐẠI LÝ TRẦN
Màn đêm buông xuống bên ngoài ô cửa sổ nhỏ của căn phòng ký túc. Ánh-một sinh viên năm nhất khoa sư phạm lịch sử của Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội đang cặm cụi đọc những trang sách để tìm hiểu về thời đại Lý-Trần cho bài thuyết trình tuần tới của cô. Cặp mắt đằng sau chiếc kính đã thấm mệt nhưng vẫn cố lướt qua từng con chữ nhỏ. Tuy nhiên, cặp mắt đó dần không thể chịu nổi và nhắm nghiền lại, đưa Ánh vào giấc ngủ. Trên màn hình chiếc máy tính nhỏ của cô vẫn còn những dòng chữ ngay ngắn mà Ánh đã phải mất cả buổi chiều để soạn được ra.
Triều đại của 2 nhà Lý và Trần là một mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc ta, đây là một thời đại vô cùng ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều lĩnh vực như tôn giáo, văn hóa, quân sự,...
________________________________________
I. Văn hóa thời Lý-Trần
1. Văn Học
Văn học thời Lý đánh dấu sự mở đầu cho nhiều truyền thống tốt đẹp với những bản sắc và đặc trưng riêng biệt của văn học dân tộc. Điểm nổi bật trong giai đoạn này ý thức tự hào về quê hương đất nước, ý chí quật cường khẳng định chủ quyền dân tộc đã giành được, quyết tâm dựng xây đất nước ngày càng vững mạnh. Một trong những đặc sắc văn học được khá ít nhà nghiên cứu nhắc tới đó là tính chất kì ảo, siêu nhiên tuy giản dị trong văn học Trung đại giai đoạn này, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của văn học dân tộc vào các giai đoạn sau này. Đây là thời kì mà cho thấy sự mật thiết giữa văn học viết và văn học dân gian, văn học thế tục và văn học tôn giáo. Gắn với truyền thuyết có tính chất kì ảo của văn học dân gian, lại xuất phát từ những yêu cầu chính trị cấp bách. Hầu như những sự kiện chính trị quan trọng thời đó ngày nay đều có thể nhận thấy dấu vết qua những mẩu truyện huyền thoại và những bài thơ “thần” kiểu này. Tuy nhiên nổi bật nhất vẫn là thông qua văn học Phật Giáo. Nổi bật có thể kể đến các vị thiền sư đương thời như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, có thể ngờ rằng chính họ là tác giả của không ít bài thơ “thần”, thơ “sấm”, hoặc ít ra họ cũng góp phần quan trọng trong việc truyền bá những bài thơ có tính chất kì ảo này. Xuất phát từ ý đồ tính cực, những tác phẩm kì ảo thời Lý, những tác phẩm này góp phần đấu tranh cho lợi ích của Tổ Quốc, kêu gọi con người hành động, góp sức vào công cuộc xây dựng nền văn hiến dân tộc, đồng thời khẳng định tính độc đáo cho một khởi đầu của các truyền thống tốt đẹp của văn học Trung Đại.
Bên cạnh đó, nền văn học của thời đại này còn thể hiện tinh thần thượng võ và ý chí bảo vệ Tổ Quốc của dân tộc ta. Ở trên nói về tính chất kì ảo và về việc thúc đẩy con người vào công cuộc xây dựng đất nước, thì tính chất thượng võ trong văn học thời đó cũng vô cùng đặc sắc không kém khi nói về tình yêu nước, tinh thần dân tộc, thượng võ được thể hiện trong văn học viết. Đơn cử hai bản hùng ca bất hủ của hai thời đại nhà Lý - Trần, đó là Tác phẩm Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên và Nam Quốc Sơn Hà được Lý Thường Kiệt đọc vang để khích lệ quân sĩ Đại Việt chống Tống lần II năm 1077. Nhìn nhận lịch sử một chút, đây là thời kì mà ta giành được những chiến thắng lớn mang tính lịch sử là Kháng chiến chống quân Tống năm 1077 và ba lần toàn thắng Mông - Nguyên năm 1288. Hai cuộc chiến cho thấy một tinh thần thượng võ và yêu đất nước, tình đoàn kết dân tộc. Trong giai đoạn này, văn học còn là phương tiện khích lệ và cổ vũ tinh thần dân tộc, thể hiện qua VĂN HỌC với những tác phẩm đặc sắc đã nêu, SỬ HỌC với những câu chuyện lịch sử về các chiến thắng lớn, và TRIẾT HỌC với những bài học sâu sắc về lòng yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần anh dũng. Ta vẫn gọi chung đây là thời kì VĂN - SỬ - TRIẾT bất phân, nghĩa là trong thời kì này, ta không thể phân biệt được trong một tác phẩm văn học, yếu tố nào là văn học, yếu tố nào là sử học và yếu tố nào là triết học cả.
________________________________________
2. Pháp luật
Thời kì này cũng cho thấy một bộ máy chính trị và hệ thống luật pháp quốc gia dần được hoàn thiện. Hình thư và Quốc Triều Hình Luật nhà Trần là nền tảng cho những bộ luật cải cách và hoàn chỉnh hơn về sau như Bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê. Hình Thư ra đời và được ban hành rộng rãi vào thời Lý Thái Tông. Thái Tông Hoàng đế chủ trương sửa đổi các bậc hình phạt, cách tra hỏi tội, thuế và đề cao sự khoan hồng trong hệ thống luật pháp. Được xem là bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, được đánh giá là cột mốc quan trọng trong lịch sử luật pháp nước ta. So với thời Lý, bộ Quốc Triều Hình Luật thời Trần ra đời dựa trên nền tảng của Hình Thư, đồng thời bổ sung và sửa đổi các điều luật. Dưới thời Trần, có 2 bộ luật được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông. Năm 1230, Nhà vua xem xét lại những luật lệ của các triều vua trước, sửa đổi hình luật, lễ nghi, soạn thành “Quốc triều thông chế” hay “Quốc Triều Hình Luật” gồm 20 quyển. Như vậy có thể nói rằng, Quốc Triều Hình Luật là phiên bản hoàn thiện hơn từ những nền tảng vững chắc của Hình Thư, nhưng cả hai bộ đều bị thất truyền cuối thế kỉ XVII nên không thể biết về từng điều khoản của hai bộ luật đó. Dù chịu ảnh hưởng của luật pháp phong kiến Trung Hoa, nhưng hai bộ luật này được coi là sự Việt hóa mạnh mẽ, phù hợp với phong tục tập quán và thực tiễn Đại Việt. Đặc biệt, do ảnh hưởng của Phật giáo, cả hai bộ luật đều chứa đựng nhiều yếu tố nhân văn, khoan dung bên cạnh sự nghiêm minh. Được coi là những thành tựu lập pháp đầu tiên của Đại Việt, là tiêu biểu cho sự kết hợp giữa "Pháp trị" và "Đức trị" mang đậm màu sắc Phật giáo.
________________________________________
II. Tư tưởng tôn giáo
1. Phật giáo Trần Nhân Tông
Ánh tỉnh dậy giữa một đồng cỏ mênh mông, cô đứng dậy và nhìn ngó xung quanh, có lẽ cô sinh viên đã “xuyên không” về quá khứ. Bỗng ai đó khẽ chạm tay vào vai cô khiến Ánh giật mình quay lại. Đằng sau cô chính là một người đàn ông trung niên, mặc trang phục trông giống như quan lại thời phong kiến, ông nói:
- Đừng sợ, tôi chính là sứ giả thời gian, có vẻ cô đang gặp khó khăn trong việc tìm hiểu về thời đại nhà Lý và nhà Trần. Tôi sẽ giúp cô, để cho dễ nói chuyện cô có thể gọi tôi là Hoàng cũng được.
Khung cảnh liền thay đổi và xuất hiện trước một ngôi chùa nhỏ vắng vẻ. Hoàng giới thiệu:
- Phật giáo là một tín ngưỡng, đã không ngừng đóng góp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước với sự ra đời của nhiều anh hùng lỗi lạc, những vị thiền sư tài ba. Phật giáo đã dần dần trở thành tư tưởng chủ đạo của nền văn hóa dân tộc từ thời Đinh-Lê nhưng đặc biệt dưới thời nhà Lý - Trần, được coi là thời vàng son khi vị vua mở nghiệp thời nhà Lý xuất thân từ Thiền gia, và thời Trần xuất hiện Phật giáo Trần Nhân Tông. Tôi sẽ nói thêm về vị vua này.
________________________________________
2. Tam giáo Đồng Nguyên
- Cái này có lẽ tôi biết!
Ánh nhanh nhảu đáp, lấy quyển sổ nhỏ từ trong túi quần ra và đọc:
- Hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên“ là sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa Nho-Đạo- Phật giáo và hiện tượng này xuất hiện và tồn tại xuyên suốt trong đời sống văn hóa - xã hội dưới thời Trần. Bấy giờ, dù các nhà tư tưởng dưới thời Trần coi Phật giáo là trục tâm nhưng vẫn luôn vẫn dụng những yếu tố khả dụng trong Phật giáo, Đạo giáo để tạo nên hiện tượng Tam giáo đồng nguyên. Tam giáo đồng nguyên vốn đã xuất hiện và phát triển từ lâu ở Trung Quốc và quan niệm ấy cũng không phải đến đời Trần mới được truyền vào nước ta nhưng không triều đại nào, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên ấy lại phát triển và được vận dụng sinh động, toàn diện trong thực tiễn đời sống như thời Trần. Đây không phải là bản sao “Tam giáo đồng nguyên” của Trung Quốc mà thực sự là sản phẩm bản địa dựa trên hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội đặc thù của Đại Việt lúc này.
- Mỗi tư tưởng tôn giáo từ Nho giáo, Đạo giáo hay Phật giáo thì tất cả đều được khởi phát từ nhu cầu tâm linh không thể thiếu vắng của con người và hướng đến cái đích cuối cùng là góp phần giải phóng con người, mang lại an lạc cho nhân dân và ổn định cho xã hội, hướng con người tới cái Thiện. Bên cạnh đó, quan điểm chính trị cởi mở của nhà nước thời Trần cũng là một trong những điều kiện quan trọng cho sự dung hợp và phát triển đồng thời cả ba tôn giáo Nho – Phật – Đạo. Lúc bấy giờ, do bản lĩnh và sự mẫn cảm trước yêu cầu của lịch sử, các vị vua thời Trần đã không chủ trương kì thị tôn giáo mà đưa các hệ thống giáo lý vốn khác nhau xích lại gần nhau nhằm cố kết lòng dân, ổn định tâm lý xã hội.
________________________________________
3. Giáo dục
Thêm một lần nữa, không gian xung quanh lại biến đổi một lần nữa. Ánh cảm thấy vô cùng thân thuộc khi nhìn thấy một nơi mà cô đã đến 1 ngày trước kì thi tốt nghiệp THPT Quốc Gia mình vừa trải qua năm ngoái, đó chính là Văn Miếu Quốc Tử Giám. Hoàng lặng lẽ đứng nhìn thầy đồ đang giảng bài cho các sĩ tử như đang hoài niệm về một điều gì đó, ông quay đầu về hướng Ánh đang đứng và nói.
- Đầu thời Lý, bên cạnh Phật giáo được chú trọng thì Nho giáo cũng trở nên phổ biến đối với nền giáo dục Việt Nam khi vị hoàng đế Lý Công Uẩn được nuôi dưỡng và hun đúc tài năng tại ngôi chùa Lục Tổ nhờ trí tuệ và phẩm hạnh của Thiền sư Vạn Hạnh. Thời Lý-Trần, Nho giáo được phát triển từ trên xuống. 1070 Văn Miếu được thành lập là nơi dành riêng cho dạy học Hoàng Thái Tử, sau 5 năm, vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi “Nho học tam trường” được tổ chức để chọn ra “Minh kinh bác học”, đây là khoa thi đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám phía sau Văn Miếu, đây là trường dành cho con em hoàng tộc với nền tảng giáo dục chính thức dựa trên Nho giáo.
________________________________________
III. Kiến trúc
Không gian trước mắt Ánh lại tiếp tục thay đổi, cô được nhìn thấy những ngôi chùa cổ kính có những bức tượng được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Hoàng tiếp tục nói:
- Thời đại Lý-Trần được xem là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, gắn chặt với chính trị, văn hóa và đời sống xã hội. Đây là giai đoạn hàng ngàn công trình ngôi đền, chùa được xây dựng và ảnh hưởng sâu sắc của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Ấn Độ. Kiến trúc đền chùa giai đoạn này chú trọng vào mỹ quan tinh tế, trang nghiêm, đem lại cho mọi người cảm giác thiêng liêng, cao cả. Chùa thời Lý được chia làm 3 hạng: Đại, Trung và Tiểu danh lam. Chùa Một Cột hay chùa Diên Hựu cũng được xây dựng trong thời kì này với quy mô rất hoành tráng, tuy nhiên bản ngày nay được dân chúng nhìn thấy chỉ là bản phục dựng lại, do công trình ban đầu đã bị thực dân Pháp phá hủy trong thời kì thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Đọc đến đây, trên nét mặt Hoàng có chút buồn nhưng ông vẫn cố gắng giới thiệu cho cô sinh viên về kiến trúc cổ như một người thầy tận tụy.
- Một trong những thành tựu của văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần là Bốn công trình nghệ thuật kiến trúc thuộc An Nam tứ đại khí lần lượt là: Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh) được xây dựng từ năm 1057, đời vua Lý Thánh Tông. Tháp Báo Thiên (Hoàn Kiếm, Hà Nội) cũng được xây vào đời vua Lý Thánh Tông. Chuông Quy Điền (Ba Đình, Hà Nội) được đúc vào đời vua Lý Nhân Tông, cuối cùng là Vạc Phổ Minh (Thiên Trường, Ninh Bình) được đúc vào năm 1262, đời vua Trần Thái Tông. Có thể thấy, Nghệ thuật kiến trúc hòa quyện với văn hóa dân gian tạo nên một sự cân đối, hài hòa và bay bổng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc ta khi đó. chúng ta có thể hình dung ra nghệ thuật kiến trúc Phật giáo thời Lý, một loại công trình nổi bật trong lịch sử nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.
Hai người dừng lại trước một quả chuông lớn. Hoàng chỉ vào nó:
- Đây là Chuông Quy Điền lúc nãy tôi có nói. Đúc chuông cũng là một thành tựu tiêu biểu đại diện cho kỹ thuật, sức lao động và sự sáng tạo của thời đại Lý-Trần. Chuông quy điền là quả chuông mất tới 12000 cân đồng thời đó (7,3 tấn đồng bây giờ) được đúc tại chùa Một Cột ngày nay vào thời vua Lý Nhân Tông. Do quả chuông quá nặng nên vua đành phải ra lệnh để nó ở ruộng rùa (tiếng hán là Quy Điền) dẫn tới cái tên Chuông Quy Điền. Tuy vậy sau này nó đã bị giặc Minh nấu chảy để sản xuất vũ khí cho chúng. Có lẽ tôi không còn nhiều thời gian nữa…
Hoàng bỗng thấy hình ảnh bản thân mình đang tan biến dần, ông chỉ kịp đưa cho Ánh một mảnh giấy nhỏ rồi biến mất. Mở mảnh giấy ra, cô chỉ thấy vài dòng chữ ngắn gọn.
________________________________________
IV. Nghệ thuật
1. Múa rối nước
Thời đại Lý-Trần cũng là cái nôi của nhiều loại nghệ thuật dân gian, trong đó có những màn múa rối nước có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt. Theo sử sách, múa rối nước xuất phát từ khoảng năm 1010 vào đời nhà Lý. Hình thức nghệ thuật này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay và phát triển rất mạnh mẽ.
2. Nghệ thuật điêu khắc
Không chỉ nằm ở câu hát và những động tác uyển chuyển, nghệ thuật thời lý trần còn nằm ở cả những tác phẩm điêu khắc gắn liền với những công trình tôn giáo và cung đình. Ngày nay, người ta đã khai quật được các tác phẩm điêu khắc tại hoàng thành thăng long, không chỉ vậy, nhiều ngôi chùa cũng được xây dựng và còn ảnh hưởng văn hóa đến ngày nay như chùa Phật Tích, chùa Một Cột,...
________________________________________
V. Kết bài
Ánh tỉnh dậy trên bàn học, đồng hồ điểm 6 giờ sáng. Cô thở phào:
- Hóa ra tất cả chỉ là một giấc mơ!
Cô sinh viên trẻ thấy toàn bộ dự án của mình đều đã được hoàn thiện trên chiếc máy tính, chỉ để trống phần kết bài. Ánh liền viết thêm vào:
Dù đã rất lâu trôi qua nhưng nước Đại Việt ở thời đại Lý-Trần đã để lại rất nhiều di sản không chỉ về văn hóa mà còn là cả tinh thần dân tộc, niềm tự hào đã trở thành động lực cố gắng của các thế hệ mai sau
(Toàn bộ nhân vật, tên nhân vật và câu truyện đều là giả tưởng và nhằm mục đích dẫn dắt cho bài viết)

HYANGGA - TỪ THI CA CỔ ĐIỂN ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA HIỆN ĐẠII. THƠ HYANGGA LÀ GÌ?Hyangga (Hương ca) là một thể thơ xuất hiệ...
11/04/2026

HYANGGA - TỪ THI CA CỔ ĐIỂN ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA HIỆN ĐẠI
I. THƠ HYANGGA LÀ GÌ?

Hyangga (Hương ca) là một thể thơ xuất hiện trên bán đảo Triều Tiên thời cổ (nay thuộc lãnh thổ Triều Tiên và Hàn Quốc), phát triển từ dòng văn học truyền khẩu của người xưa. Các tác phẩm Hyangga được ghi chép bằng hệ thống chữ Hyangchal – một phương thức vay mượn và cải biến chữ Hán để ghi âm tiếng bản địa. Thể thơ này có niên đại từ giữa thời kỳ thống nhất Silla (Tân La) đến đầu thời Goryeo (Cao Ly). Trong đó, “Hyang” (Hương) mang nghĩa “quê hương”, còn “Ga” (Ca) nghĩa là “bài ca”, do đó Hyangga có thể hiểu là “bài ca của quê hương”. Thể loại này từng được đánh giá là “chiếc vương miện của văn học Silla”. Cho đến nay, người ta ghi nhận khoảng 25 bài thơ còn lại, với một số tác giả tiêu biểu như Iryeon và Gyunyo. Tuy nhiên, cấu trúc của thơ Hyangga vẫn chưa được xác định hoàn toàn rõ ràng, chúng có thể linh hoạt từ 4 đến 10 câu.

II. NGƯỜI XƯA VIẾT GÌ TRONG HYANGGA?

Đa số các bài thơ Hyangga phản ánh tư tưởng Phật giáo, cho thấy ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo này đối với đời sống tinh thần thời bấy giờ. Một chủ đề nổi bật khác là cái chết và sự chia ly. Nhiều bài thơ được sáng tác như những bài điếu văn dành cho các nhà sư, chiến binh hay người thân trong gia đình — thậm chí có bài viết để tưởng nhớ một người chị đã khuất.
Đặc biệt, trong bối cảnh thời kỳ Silla (nhất là trước khi thống nhất năm 668) thường xuyên diễn ra chiến tranh, Hyangga đã ghi lại chân thực nỗi đau mất mát, sự tiếc thương trước cái chết. Đồng thời, các tác phẩm này cũng thể hiện niềm tin vào Phật giáo như một sự an ủi tinh thần, lý giải về nơi con người sẽ đi sau khi qua đời và thế giới bên kia.

III. HYANGGA CÓ GÌ ĐẶC BIỆT?

Thơ Hyangga mang nhiều đặc điểm độc đáo, trước hết thể hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ bản địa thay vì chữ Hán như phần lớn sáng tác đương thời. Theo ghi chép của Hyŏngnyŏn Chŏng, “bài hát của chúng ta được viết bằng ngôn ngữ bản địa theo thể thơ ba câu sáu âm tiết”, cho thấy ý thức rõ ràng về một truyền thống thơ riêng của người Silla.

Điều làm nên giá trị độc đáo của Hyangga không chỉ nằm ở nội dung hay hình thức, mà còn ở cách thức lưu truyền đặc biệt. Những bài Hyangga còn lại ngày nay đều được bảo tồn trong Samguk Yusa (Tam quốc di sự) – một tác phẩm mang tính lịch sử, tôn giáo và văn học do nhà sư Iryeon biên soạn. Khác với nhiều truyền thống thơ ca khác, Hyangga không tồn tại như những văn bản độc lập, mà luôn xuất hiện cùng các câu chuyện giải thích hoàn cảnh sáng tác. Chính đặc điểm này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của hyangga: thơ không chỉ để thưởng thức mà còn để hiểu. Những “background stories” đi kèm đóng vai trò như chiếc cầu nối, giúp người đọc bước vào thế giới tinh thần của con người thời Silla – nơi thơ ca gắn với Phật giáo, với nghi lễ, và với những cảm xúc rất con người như tưởng niệm, tiếc thương hay cầu nguyện.

Một điểm nổi bật khác của Hyangga là cấu trúc linh hoạt và chưa được hiểu hoàn toàn. Các học giả như Peter H. Lee cho rằng đó là “các khổ thơ ba dòng, mỗi khổ sáu cụm từ”, trong khi Alexander Vovin lại diễn giải theo hướng “ba khổ thơ, sáu tên”, cho thấy vẫn còn nhiều tranh luận học thuật. Ngoài ra, cách phân loại truyền thống từ Shinpei Ogura chia Hyangga thành các dạng 4 dòng, 8 dòng và 10 dòng, nhưng gần đây Kim Sung-kyu lại đề xuất chỉ có hai hình thức cơ bản, đồng thời giải thích các biến thể là do biến đổi trong quá trình truyền tải. Chính sự đa dạng và chưa thống nhất này đã làm nên nét đặc biệt của Hyangga, khiến nó vừa là một thể thơ, vừa là một “bí ẩn” trong nghiên cứu văn học cổ trên bán đảo Triều Tiên.

IV. VAI TRÒ CỦA HYANGGA TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI

Ngày nay, Hyangga không còn là thể thơ phổ biến trong đời sống văn học, song vẫn giữ vai trò quan trọng đối với văn hoá trên bán đảo Triều Tiên nói riêng và văn hoá nhân loại nói chung. Trước hết, Hyangga là cầu nối gắn kết con người với cội nguồn văn hoá và những giá trị truyền thống sâu sắc. Việc tìm hiểu Hyangga cũng đồng nghĩa với việc khám phá chiều sâu tâm thức và đời sống tinh thần của con người xưa. Không dừng lại ở đó, Hyangga cùng hệ thống đề tài của nó vẫn tiếp tục trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều loại hình nghệ thuật đương đại. Hơn nữa, thể thơ này còn mang giá trị tâm linh đậm nét, thể hiện qua những lời cầu nguyện, ước mong chính đáng và niềm tin của con người vào thế giới thánh thần.
---------------------------------
Mọi chi tiết xin liên hệ:
Facebook: History for everyone - HE CSP
Email: [email protected]
Hotline:
0378508668 - Lê Nguyễn Thục Hân (Chủ tịch)
0968657620 - Trịnh Minh Phương (Trưởng ban Truyền thông)

CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG _________________________________________________________(**Nhân vật là hoàn toàn hư cấu và chỉ...
10/04/2026

CHIẾN DỊCH HUẾ - ĐÀ NẴNG
_________________________________________________________
(**Nhân vật là hoàn toàn hư cấu và chỉ nhằm dẫn dắt về sự kiện chiến dịch Huế - Đà Nẵng)
_________________________________________________________
I.Giới thiệu
Tôi tên là H, trung tá Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, một cựu chiến binh giải phóng miền nam, từ ngày đó đến bây giờ có lẽ đã được gần nửa thế kỉ. Tôi sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng, chứng kiến những tay lính mỹ ức hiếp đồng bào ta, sự phẫn uất đã khiến chàng thanh niên trẻ năm đó thoát ly, gia nhập lực lượng Quân Giải Phóng và rồi trở thành một sĩ quan tham mưu nhờ sự nỗ lực và rất nhiều chiến công.
Tháng 3 năm 1975, tôi được cử đi làm tham mưu cho bộ tư lệnh chiến dịch Huế - Đà Nẵng, mà không biết rằng đây chính là giai đoạn đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Khi vừa hoàn thành chiến dịch Tây Nguyên, một cuộc điện thoại từ bộ tổng tham mưu đã khiến tất cả chúng tôi rất bất ngờ, ngay ngày hôm sau tôi đã đi theo những đoàn quân thần tốc để bắt đầu một trận đánh lớn mới có ý nghĩa sống còn.
Trong chiến dịch này, quân đoàn 2 ( quân đoàn Hương Giang ) của tôi sẽ là chủ lực chính, bên cạnh đó còn một vài sư đoàn khác và các đơn vị quân địa phương độc lập. Nhìn trên tấm bản đồ của mình, tôi thấy chắc chằn rằng đây là một chiến dịch vô cùng quan trọng. Nếu thắng lợi có thể mở rộng một vùng giải phóng lớn và tấn công vào đầu não của địch. Tin tình báo báo về rằng phía bên kia chiến tuyến, Sài Gòn tung quân đoàn 1, con bài cực mạnh của mình vào chiến trường cùng rất nhiều đơn vị dù, thủy quân lục chiến và bảo an. Viên tướng chỉ huy của họ, Ngô Quang Trưởng cũng là một cái tên khét tiếng, nghe nói không như nhiều viên tướng bất tài của chính quyền Ngụy, ông ta thực sự có thực lực và đi lên bằng cái tài điều binh của mình. Chính tay ông ta đã làm vô số sư đoàn của t bị thiệt hại đáng kể sau các trận đánh. Dù vậy, ở bên phía ta, tư lệnh chiến dịch chính là tướng Lê Trọng Tấn. Bộ chỉ huy dã chiến được dựng nhanh chóng. Sau khi đã cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng bộ chỉ huy ước tính phe ta có khoảng 60.000 quân tham chiến còn phe địch có tới tận 134.000 quân với khoảng 84.000 quân chủ lực tham chiến. Sau khi họp bàn, tất cả đều thống nhất đây là một trận đánh lớn mang tính sống còn của cả 2 bên.
_________________________________________________________
II.Diễn biến chiến dịch
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng diễn ra từ ngày 5/3-29/3/1975 là một cuộc tiến công chiến lược mang tính bước ngoặt, được toàn bộ anh em chúng tôi cho rằng là đập tan hệ thống phòng ngự kiên cố nhất của đối phương tại dải đất miền Trung.
Giai đoạn đầu từ ngày 05/03, trong bộ chỉ huy dã chiến, điện đài báo về liên tục. Chúng tôi lệnh cho các đơn vị cắt đứt các tuyến giao thông huyết mạch, đặc biệt là việc phong tỏa Đường số 1 vào ngày 21/03, khiến quân đoàn 1 Ngụy rơi vào thế bị chia cắt, cô lập hoàn toàn giữa Huế và Đà Nẵng. Một điều đặc biệt khó hiểu là vào ngày 7/3, chúng tôi bỗng dưng nhận được thông tin sư đoàn dù số 2 của Ngụy rút về, điều mà sau này tôi được biết là quyết định độc đoán của Nguyễn Văn Thiệu. Tin tình báo báo về rằng áp lực quân sự khủng khiếp buộc địch phải tháo chạy trong hỗn loạn, một tin khiến bộ chỉ huy chúng tôi cảm thấy chiến thắng đang đến gần. Đến ngày 25/03, quân giải phóng tiến vào nội đô, cắm cờ trên đỉnh Phu Văn Lâu, chính thức giải phóng hoàn toàn cố đô Huế.
Ngay sau đó, tận dụng thời cơ vàng, các cánh quân nhanh chóng chuyển trọng tâm sang "Căn cứ liên hợp" Đà Nẵng – nơi được coi là pháo đài bất khả xâm phạm, các đơn vị liên tục báo tin thắng trận về. Sáng ngày 28/03, pháo binh hạng nặng của ta đồng loạt nã đạn làm tê liệt sân bay và cảng Tiên Sa, chặn đứng mọi hy vọng rút chạy bằng đường không và đường biển của địch. Đến sáng ngày 29/03, với tinh thần "nhanh nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất, nhưng chắc thắng", các mũi tiến công từ nhiều hướng đồng loạt đánh chiếm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 và các cơ quan đầu não, làm chủ hoàn toàn thành phố Đà Nẵng vào lúc 15 giờ cùng ngày.
Chỉ trong vòng 25 ngày đêm tiến công mãnh liệt, chúng ta đã tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân sự tinh nhuệ nhất của địch tại miền Trung, thay đổi hoàn toàn cục diện chiến trường và tạo đà tâm lý cực lớn để quân dân ta tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Sau ngày giải phóng, tôi xin xuất ngũ và được phân công làm giám đốc một nhà máy cơ khi nhà nước. Dù chiến tranh đã đi xa nhưng chắc chắn kí ức về một thời huy hoàng vẫn nằm gọn trong trái tim những người lính năm ấy.
_________________________________________________________
III. Kết quả và ý nghĩa của chiến dịch Huế - Đà Nẵng
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng khép lại bằng một thắng lợi vang dội, với quy mô và tốc độ làm thay đổi sâu sắc cục diện chiến trường miền Trung. Chỉ trong thời gian ngắn, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 120.000 quân địch, đồng thời làm tan rã trên 130.000 lực lượng phòng vệ dân sự, khiến toàn bộ hệ thống phòng thủ của đối phương sụp đổ nhanh chóng. Những đơn vị được coi là tinh nhuệ và nòng cốt của địch - từ các sư đoàn bộ binh, thủy quân lục chiến đến lực lượng không quân - lần lượt bị tiêu diệt hoặc mất khả năng chiến đấu, không còn khả năng tổ chức kháng cự có hiệu quả.
Cùng với thắng lợi về lực lượng, quân ta còn thu được một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh, gồm hàng trăm máy bay, xe tăng, pháo binh và hơn một nghìn phương tiện quân sự các loại. Toàn bộ dải đất miền Trung từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi được giải phóng hoàn toàn, hình thành một không gian chiến lược liền mạch. Thắng lợi ấy không chỉ phản ánh sự suy sụp của từng đơn vị riêng lẻ, mà còn cho thấy sự tan rã toàn diện của cả một hệ thống phòng thủ, đánh dấu bước sụp đổ mang tính dây chuyền của lực lượng đối phương trên chiến trường miền Trung.
Thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng không chỉ được ghi nhận ở quy mô quân sự, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trên phương diện chiến lược và chính trị. Việc giải phóng hoàn toàn khu vực Trị - Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, làm chủ toàn bộ dải đất miền Trung từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, đã tạo nên một bước chuyển căn bản trong cục diện chiến tranh. Thành quả này không chỉ củng cố niềm tin và ý chí chiến đấu của quân và dân ta, mà còn làm suy giảm nghiêm trọng tinh thần và khả năng tổ chức lực lượng của đối phương.
Ở tầm chiến lược, chiến dịch đã góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển hóa so sánh lực lượng theo hướng có lợi tuyệt đối cho ta, đồng thời tạo ra những tác động rõ rệt về chính trị, cả trong nước và trên trường quốc tế. Qua đó, thắng lợi này tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén của Đảng, cũng như năng lực tổ chức, chỉ huy ngày càng hoàn thiện của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến.
Đặc biệt, trong mối liên hệ với chiến dịch Tây Nguyên, thắng lợi ở Huế - Đà Nẵng đã góp phần hình thành một thế trận chiến lược liên hoàn, tạo ra một không gian hậu phương rộng lớn và vững chắc ở miền Trung. Đây là điều kiện trực tiếp bảo đảm cho việc tập trung lực lượng, tổ chức tiến công quy mô lớn, tạo bàn đạp thuận lợi để quân ta tiến vào Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Không dừng lại ở đó, chiến dịch còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là trong việc nhận định thời cơ, tổ chức lực lượng và triển khai tiến công chiến lược với tốc độ cao. Những bài học này không chỉ có ý nghĩa đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà còn góp phần bổ sung và phát triển tư duy quân sự trong xây dựng nền quốc phòng hiện đại.

Address

136 Xuân Thủy/Cầu Giấy/
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when History for everyone - HE CSP posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to History for everyone - HE CSP:

Share