EIC Việt Nam - Tư Vấn Môi Trường, Kiểm Kê Khí Nhà Kính

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • EIC Việt Nam - Tư Vấn Môi Trường, Kiểm Kê Khí Nhà Kính

EIC Việt Nam - Tư Vấn Môi Trường, Kiểm Kê Khí Nhà Kính Các lĩnh vực hoạt động chính của EIC Việt Nam:
Tư vấn môi trường; Kiểm kê khí nhà kính; Tư vấn lập hồ sơ, mua bán tín chỉ môi trường; Tư vấn đầu tư dự án...

ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG CARBON TẬP TRUNG VÀO ĐIỆN GIÓ NGOÀI KHƠI, ĐIỆN MẶT TRỜIĐó là thông tin được đại diện Bộ TN&MT cho ...
12/04/2024

ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG CARBON TẬP TRUNG VÀO ĐIỆN GIÓ NGOÀI KHƠI, ĐIỆN MẶT TRỜI

Đó là thông tin được đại diện Bộ TN&MT cho biết tại tọa đàm ‘Thị trường carbon, cơ hội nào cho Việt Nam?’ do Báo Giao thông tổ chức sáng 20/4/2023.
Giá trị giao dịch thị trường carbon lên đến hàng trăm tỷ USD một năm

Để có cái nhìn khái quát về thị trường carbon, ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Kinh tế và Thông tin Biến đổi khí hậu – Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cho biết, thị trường carbon có 2 loại hàng hóa sẽ giao dịch.

Đầu tiên là hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Có thể hiểu Chính phủ sẽ phân bổ hạn ngạch đó cho doanh nghiệp (DN), DN sẽ có quyền phát thải trong hạn ngạch mình sở hữu. Còn phát thải thêm thì phải mua hạn ngạch từ các DN khác. Chính vì vậy, giá hạn ngạch ở thị trường lâu đời như liên minh châu Âu, hay Mỹ rất cao. Loại thứ 2 là tín chỉ carbon. Cơ bản giống hạn ngạch (cùng đơn vị là tấn CO2), tuy nhiên, tín chỉ mang tính chất tự nguyện nhiều hơn. Tức là, khi DN đầu tư vào công nghệ giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính ví dụ như: điện năng lượng tái tạo, trồng rừng; thì các cơ quan quản lý phê duyệt, thẩm định lượng khí nhà kính giảm phát thải đó.

Như vậy, chúng ta sẽ tạo ra được một tín chỉ carbon. Tín chỉ đó vì mang tính tự nguyện nên giá dao động từ rất rẻ, ngưỡng 1 USD/Tín chỉ Carbon, cũng có thể rất cao, ngưỡng 15 USD/Tín chỉ Carbon, tùy vào loại hình công nghệ và mức đầu tư.

Cũng theo ông Công, hiện nay, trên thế giới, cả 2 loại hàng hóa trên đều được giao dịch mạnh mẽ. Thị trường carbon chúng ta thường nói có khoảng 40 quốc gia, khu vực đang triển khai, với giá trị giao dịch lên đến hàng trăm tỷ USD một năm.

Trao đổi tín chỉ carbon giữa các nước ra sao?

Thứ nhất là Nghị định Kyoto, với cơ chế phát triển sạch (CDM-Clean Development Mechanism). Chúng ta đầu tư vào dự án, sau đó bán tín chỉ cho quốc tế. Tuy nhiên, nghị định này có hiệu lực đến năm 2020 nên hiện nay đã tạm dừng hoạt động và đang đợi hướng dẫn mới để triển khai cơ chế dưới điều 6 của thỏa thuận Paris.

Hiện nay chúng ta đang triển khai biên bản hợp tác với Nhật, tín chỉ chung theo cơ chế JCM từ 2023. Cơ chế giống như cơ chế phát triển sạch. Các DN đầu tư vào công nghệ giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo, sau đó được bên thứ 3 kiểm định, thẩm định rồi gửi hồ sơ để được ban hành tín chỉ.

Chính phủ, Bộ TN&MT và các bộ ngành cũng đang làm việc tích cực với các quốc gia khác quan tâm mua tín chỉ như Hàn Quốc, Singapore…, hoặc các đối tác tư nhân muốn đầu tư vào tín chỉ để thực hiện cam kết giảm phát thải tại quốc gia của mình.

Tuy nhiên, bài toán quan trọng là cân bằng lợi ích cho DN về hiệu quả kinh tế, nhưng việc bán tín chỉ cũng phải đảm bảo được cam kết của chúng ta như phát thải ròng bằng 0 tới năm 2050.

Tức là, thị trường carbon vẫn phải thúc đẩy tư nhân đầu tư, nhưng cũng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế với các lợi ích khác của quốc gia và các bên tham gia.

Cách nào khác để hình thành tín chỉ carbon?

Trong thời gian tới, ông Vũ Chí Công, Giám đốc, Trưởng bộ phận ESG của Vinacapital cho biết, định hướng tập trung thiên nhiều hơn về các nguồn năng lượng tái tạo và nổi bật nhất là năng lượng mặt trời, điện gió ngoài khơi và năng lượng sinh khối.

Thứ 2 là tập trung vào các dự án tiết kiệm năng lượng. Chẳng hạn, DN đầu tư vào điều hòa, như điều hòa inverter, nếu đầu tư đủ lớn có thể mời các đơn vị thẩm định vào đo đạc và xác định tín chỉ.

Các quốc gia họ xác định thay vì 1 dự án nhỏ lẻ, thì có thể đầu tư vào cả hệ thống, hay 1 thành phố. Như ở Thái Lan là dự án xe điện cho cả một thành phố, một khu vực…

Hay Chính phủ Việt Nam ban hành chính sách đổi mới sáng tạo, cũng được nhiều bên quan tâm, đề nghị có thể đo đạc hiệu quả chính sách đó, để hình thành tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, đại diện Bộ TN&MT nhấn mạnh, quan trọng vẫn là cân bằng chi phí vì hiện nay chi phí tư vấn, đo đạc tín chỉ carbon khá cao.

Song, vấn đề là cơ chế ra sao để đảm bảo hài hòa lợi ích, doanh thu cho nhà đầu tư, phân chia nguồn doanh thu cho các bên liên quan như thế nào. Thì đó là thách thức để theo kịp thị trường quốc tế.

Nắm bắt được xu thế của thị trường Carbon trong thời gian tới, EIC Việt Nam đã cung cấp cho các chủ đầu tư giải pháp cùng Hợp tác đầu tư phát triển dự án tín chỉ Carbon với chi phí bỏ ra ban đầu cho các doanh nghiệp là 0 đồng. Các doanh nghiệp có các dự án năng lượng tái tạo hay Dự án giảm thiểu khí nhà kính như: Điện gió, điện mặt trời, thủy điện, điện rác, điện sinh khí; xử lý nước thải, chất thải có công nghệ hấp thụ khí metan; dự án trồng và bảo vệ rừng; …. thì có thể hợp tác với EIC Việt Nam để phát triển dự án và khai thác tín chỉ đã phát hành.

Với nguồn lợi thu được từ việc bán tín chỉ Carbon sẽ giúp cho chủ dự án có thêm một phần chi phí để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như: chi trả phí sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống, vận hành, vệ sinh hệ thống điện,….

EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ với EIC Việt Nam theo:

Hotline: +84 824 633 633

Email: [email protected]

Website: eicvienam.com.vn

Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn miễn phí cho Quý khách hàng!

Nguồn: Hồng Hạnh, Báo Mới, 24/4/2023

THỊ TRƯỜNG TÍN CHỈ CARBON TRÊN THẾ GIỚI HOẠT ĐỘNG RẤT SÔI ĐỘNGViệt Nam là nước đang phát triển, việc triển khai thị trườ...
10/04/2024

THỊ TRƯỜNG TÍN CHỈ CARBON TRÊN THẾ GIỚI HOẠT ĐỘNG RẤT SÔI ĐỘNG

Việt Nam là nước đang phát triển, việc triển khai thị trường tín chỉ carbon sớm sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp do chi phí chuyển đổi lớn, nhưng nếu không thực hiện, Việt Nam sẽ tụt hậu với thế giới.

Trả lời câu hỏi kinh nghiệm của các nước đối với việc mua bán, giao dịch tín chỉ carbon thích ứng với các hoạt động thích ứng về biến đổi khí hậu hiện nay?… TS Bùi Đức Hiếu – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ TN&MT cho biết: Thị trường tín chỉ các-bon trên thế giới hiện rất sôi động.

Như Báo Tài nguyên và Môi trường đã đưa tin, sáng 27/11/2023 tại TP.HCM, sau khi diễn ra Lễ Công bố giải Báo chí Phát triển Xanh thường niên lần thứ Nhất cùng các phiên Tọa đàm: “Kinh tế tuần hoàn – từ thực tế đến chính sách” và tọa đàm “Thị trường Tài chính Carbon: Cơ hội và Thách thức” .

Chuỗi sự kiện do Câu lạc bộ Báo chí Phát triển Xanh hướng đến NetZero Carbon (GREEN MEDIA HUB), phối hợp với Báo Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Văn hoá Báo chí – Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức.

Tại tọa đàm “Thị trường Tài chính Carbon: Cơ hội và Thách thức”, TS Bùi Đức Hiếu đã chia sẻ về thị trường tín chỉ các-bon trên Thế giới và góc nhìn của ông xung quanh chuyện này ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
Mỗi một quốc gia, mỗi khu vực có cách thức vận hành khác nhau

TS Bùi Đức Hiếu khẳng định, hiện nay thị trường tín chỉ các-bon trên thế giới hoạt động rất sôi động, ở khắp các châu lục, tuy nhiên mỗi một quốc gia, mỗi khu vực có cách thức và lịch sử vận hành khác nhau.

Cụ thể:, đầu tiên về thời gian triển khai thực hiện, thị trường các-bon của Liên minh Châu Âu là được hình thành sớm nhất trên thế giới vào năm 2005, đến nay trải qua 05 giai đoạn. Tiếp theo đó là đến thị trường Hàn Quốc vận hành thử nghiệm vào năm 2012, chính thức vào năm 2015 và trải qua 03 giai đoạn. Thị trường Trung Quốc vận hành thử nghiệm năm 2012 tại một vài tỉnh và chính thức toàn quốc năm 2022, Anh từ năm 2021, Nhật Bản vừa kết thúc thử nghiệm, vận hành chính thức từ 4/2023.

Tiếp theo đó về cách thức vận hành: thị trường các-bon trên thế giới hiện đang vận hành theo 3 hình thức thức, gồm: (i) bắt buộc, (ii) tự nguyện, (iii) tuân thủ theo Điều 6 thỏa thuận Paris. Ngoài ra, có một hình thức nữa không liệt vào 3 loại trên, và tương đối đơn giản là đơn thuần mang lên sàn mua bán, hiện chỉ có Singapore đang thực hiện…

Có thể tóm tắt 3 hình thức như: Hình thức thứ nhất – bắt buộc: Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp trong danh sách giảm phát thải bắt buộc phải giảm phát thải hằng năm, và mỗi quốc gia lại yêu cầu giảm phát thải theo các ngành, lĩnh vực khác nhau, chứ không phải tất cả ngành, lĩnh vực đang phát thải của quốc gia đó. Dựa trên hạn mức phát thải do Chính phủ áp cho mỗi ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp phát thải vượt trần sẽ phải mua tín chỉ của Chính phủ bán hoặc mua của doanh nghiệp đang có sẵn tín chỉ do phát thải không hết hạn mức.

Hình thức thứ hai – tự nguyện: các doanh nghiệp không nằm trong danh sách Chính phủ yêu cầu giảm phát thải, nhưng đăng ký tự nguyện giảm phải thải, hoặc các doanh nghiệp lĩnh vực năng lượng tái tạo. Các doanh nghiệp này sẽ đăng ký với Chính phủ, thông qua một số tổ chức thẩm định cấp tín chỉ quốc tế như Tiêu chuẩn vàng – Gold Standard, Xác nhận tiêu chuẩn các-bon – VCS, Hội đồng các-bon toàn cầu – Global Carbon Council; sau khi được cấp tín chỉ, các doanh nghiệp sẽ đưa lên sàn mua bán, trao đổi, và có thể bán cho các tổ chức, doanh nghiệp quốc tế.

Hình thức thứ ba – Tuân thủ theo Điều 6 thỏa thuận Paris: thực hiện theo cách thức hai quốc gia ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, nội dung trao đổi tín chỉ có thể tập trung vào một hoặc nhiều lĩnh vực, một hoặc nhiều doanh nghiệp. Ví dụ một quốc gia phát triển tài trợ công nghệ, kỹ thuật, tài chính cho một số lĩnh vực của một quốc gia đang phát triển, sau đó khi các doanh nghiệp ở quốc gia đang phát triển tạo ra được tín chỉ các-bon. Lượng tín chỉ này một phần được giữ lại ở doanh nghiệp và quốc gia đang phát triển đó, một phần sẽ đưa về nước phát triển. Tỷ lệ bao nhiêu phần trăm cho mỗi bên sẽ do thỏa thuận ban đầu giữa hai quốc gia.

Về giá tín chỉ các-bon, ông Bùi Đức Hiếu cho biết, ở hình thức thứ ba (tuân thủ theo Điều 6 thỏa thuận Paris) sẽ không có giá tín chỉ, chỉ có hình thức thứ nhất, và hình thức thứ hai như đã nêu ở trên, tín chỉ được định giá thông qua đấu giá hoặc mua bán trên sàn. Giá tín chỉ phụ thuộc vào cung – cầu, cụ thể phụ thuộc vào tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực phát thải. Như Hàn Quốc hiện nay chỉ giao dịch khoảng 5-6 USD/tín chỉ, Úc 25 USD, Trung Quốc 10 USD, EU lên đến 77 Euro…
Cơ hội để chính doanh nghiệp thay đổi mô hình sản xuất

Trả lời câu hỏi, Chính phủ đang đặt mục tiêu 2025 vận hành thử nghiệm sàn giao dịch tín chỉ carbon, 2028 vận hành chính thức, các tổ chức quốc tế cũng muốn hỗ trợ Việt Nam, các Cơ chế trao đổi kết quả giảm phát thải song phương ITMO cũng đã thiết lập… Vậy cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc hợp tác quốc tế để chia sẻ “nguồn lợi” từ dòng tài chính này như thế nào? Liệu đên 2028 thì có muộn quá không… TS Bùi Đức Hiếu cho biết: Một là các quốc gia xung quanh ta chỉ có Hàn Quốc là sớm, còn lại so với các quốc gia khác như Nhật Bản, Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á, Nam Mỹ, nhiều nước chuẩn bị vận hành như ta, hoặc sớm hơn 1-2 năm. Thậm chí Singapore họ chỉ mua bán tín chỉ, không thành lập thị trường bắt buộc và tự nguyện.

Đối với nước ta, là nước đang phát triển, nền kinh tế, sản xuất đang có độ mở cao, nếu chúng ta áp dụng sớm thị trường, đồng nghĩa với việc bắt buộc các doanh nghiệp giảm phát thải, sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, doanh nghiệp phải bỏ rất nhiều chi phí để chuyển đổi công nghệ.

“Mà các công nghệ để giảm phát thải lại rất đắt đỏ, ngoài chi phí mua, chuyển đổi công nghệ, còn phải xem xét đến đội ngũ nhân lực vận hành, làm chủ các công nghệ, máy móc đó. Tuy nhiên, chúng ta phải làm, chúng ta phải chuyển đổi, nếu không chúng ta sẽ tụt hậu với thế giới” – TS Bùi Đức Hiếu nói.

Liên quan đến lợi ích doanh nghiệp, ông Bùi Đức Hiếu cho rằng, doanh nghiệp sẽ có nhiều mặt lợi và cũng sẽ có nhiều thách thức phải đối mặt trong cuộc chơi hướng tới net zero và thị trường các-bon.

Về mặt vĩ mô, doanh nghiệp giảm phát thải, tham gia thị trường các-bon là cùng Chính phủ để thực hiện cam kết quốc tế trong giảm phát thải. Trực tiếp đóng góp vào công cuộc bảo vệ loài người trước tác động của biến đổi khí hậu.

Về những mặt lợi trực tiếp mà doanh nghiệp có được: Tham gia thị trường các-bon, tài chính xanh chắc chắn sẽ làm tăng thương hiệu của doanh nghiệp, qua đó sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều điểm cộng trong đàm phán, xuất khẩu sản phẩm
Bên cạnh đó, doanh nghiệp thực hiện giảm phát thải cũng là cơ hội để chính doanh nghiệp thay đổi mô hình sản xuất, công nghệ (vì chúng ta không ai cứ sống với cái cũ mãi, phải luôn làm mới mình để tồn tại và phát triển). Qua đó tạo ra tín chỉ để bán ra thị trường, thu về lợi nhuận. Ví dụ như Tesla năm 2022 bán tín chỉ các-bon thu về 1,78 tỷ USD, chiếm 10% tổng lợi nhuận Tesla trong năm đó.

Còn đối với các doanh nghiệp trung gian mua bán tín chỉ, sàn giao dịch, ông Bùi Đức Hiếu cho rằng đây cũng là cơ hội có thêm một sản phẩm để kinh doanh trao đổi. “Và cũng như các nước trên thế giới, tôi tin thị trường giao dịch tín chỉ Các-bon của chúng ta sẽ rất sôi động…” – TS Bùi Đức Hiếu nói.

EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ với EIC Việt Nam theo:
Hotline: +84 824 633 633
Email: [email protected]
Website: eicvienam.com.vn

Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn miễn phí cho Quý khách hàng!

Nguồn: Việt Hùng – Đình Du (lược ghi), Báo Tài nguyên và môi trường

🟢 CÂY TRE TẠO RA NHIỀU OXY HƠN SO VỚI CÁC CÂY CỐI KHÁC Lượng oxy do cây hoặc tre tạo ra có liên quan trực tiếp đến lượng...
29/03/2024

🟢 CÂY TRE TẠO RA NHIỀU OXY HƠN SO VỚI CÁC CÂY CỐI KHÁC

Lượng oxy do cây hoặc tre tạo ra có liên quan trực tiếp đến lượng carbon được cô lập. Công thức tính sản lượng oxy ròng của cây hoặc tre như sau:
Giải phóng O2 ròng (kg/năm) = hấp thụ C ròng (kg/năm) × 32/12

Các báo cáo chỉ ra rằng cây nhiệt đới trung bình cô lập 22,6 kg carbon mỗi năm trong khoảng thời gian 10 năm, trong khi một dòng Tre Guadua trung bình cô lập 77 kg carbon mỗi năm trong khoảng thời gian 7 năm. Tuy nhiên, một rừng cây nhiệt đới có trung bình 600 cây trên một ha, trong khi tre Guadua trung bình sẽ chỉ có 278 cây.

Nếu chúng ta đơn giản hóa dữ liệu trên bằng cách dịch các con số thành tấn mỗi ha, thì Guadua cô lập trung bình 150 tấn carbon mỗi ha (7 năm sau khi trồng), so với cây nhiệt đới với trung bình 95 tấn carbon mỗi ha. (7 năm sau khi trồng).

Trong sản xuất oxy ròng, điều này có nghĩa là 400 tấn Guadua so với 253 tấn cây nhiệt đới. Vì vậy, trong so sánh này, có thể kết luận rằng tre tạo ra nhiều oxy hơn 58% so với các cây cối khác.
---------
EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Hotline: +84 824 633 633
Email: [email protected]
Website: eicvienam.com.vn

Năng lượng tái tạo là gì? Mục tiêu của Việt Nam trong chuyển đổi năng lượng tái tạoNăng lượng tái tạo là một nguồn tài n...
17/03/2024

Năng lượng tái tạo là gì? Mục tiêu của Việt Nam trong chuyển đổi năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo là một nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia. Không chỉ dồi dào về nguồn số lượng và trữ lượng, năng lượng tái tạo còn là nguồn năng lượng sạch thân thiện với môi trường.

Cùng tìm hiểu năng lượng tái tạo là gì và làm sao để Việt Nam có thể tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng này!
Hiểu rõ khái niệm năng lượng tái tạo là gì?
Định nghĩa về năng lượng tái tạo đã từng được quy định tại khoản 1, Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2014 (hiện đã hết hiệu lực) như sau:

1. Năng lượng tái tạo là năng lượng được khai thác từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả năng tái tạo khác.
Tuy nhiên, văn bản luật trên đã không còn hiệu lực từ ngày 01/01/2022 và được thay thế bằng Luật Bảo vệ môi trường 2020. Trong văn bản mới nhất này, khái niệm về năng lượng tái tạo đã không được đề cập tới.
Từ văn bản Luật cũ, có thể hiểu năng lượng tái tạo được hình thành từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tự tái tạo trong một khoảng thời gian ngắn so với khoảng thời gian mà chúng bị sử dụng.

2. Các loại năng lượng tái tạo
Năng lượng tái tạo được phân loại từ nguồn tài nguyên hình thành nên nó. Cụ thể:

2.1 Năng lượng mặt trời
Một trong những nguồn năng lượng phổ biến nhất được khai thác chính là ánh sáng mặt trời. Từ lâu năng lượng mặt trời đã được con người ứng dụng để trồng trọt, sưởi ấm và sấy khô thức ăn, quần áo và những hoạt động khác. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một giờ chiếu sáng của ánh nắng Mặt trời xuống Trái đất sẽ có thể cung cấp nguồn năng lượng cho toàn bộ Trái đất sử dụng trong một năm.
Năng lượng mặt trời hiện nay được khai thác bởi các công nghệ như tế bào quang điện làm từ chất liệu silicon hoặc các vật liệu khác với khả năng chuyển hóa ánh trực tiếp ánh sáng thành điện năng. Năng lượng mặt trời đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi với các quy mô đa dạng khác nhau tại nhiều địa phương, khu dân cư, phường, xã,...
Với hệ thống năng lượng mặt trời, con người có thể tạo ra nguồn điện năng dồi dào mà không sợ gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái môi trường.
Nhờ việc sản xuất ra điện từ các tấm pin năng lượng mặt trời, con người có thể giảm thiểu tình trạng hiệu ứng nhà kính do hầu hết các tấm pin này đều không sinh ra các chất gây ô nhiễm không khí và đặc biệt là không tạo ra CO2 miễn là chúng được lắp đặt đúng cách.

2.2 Năng lượng gió
Tương tự như mặt trời, gió cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng giúp hình thành nên năng lượng tái tạo gọi là năng lượng gió. Nguồn năng lượng này được hình thành dựa trên nguyên lý dịch chuyển của dòng không khí trong bầu khí quyển. Dưới đây là một số điểm nổi bật về năng lượng gió:
Phương thức hoạt động: Năng lượng gió được hình thành dựa trên chuyển động quay của các tuabin gió (hay còn gọi là các máy phát điện gió). Các cánh quạt tuabin sẽ quay khi có gió thổi qua và tạo ra động năng, sau đó máy phát điện sẽ chuyển đổi động năng được sản sinh ra sang điện năng.
Tính ổn định kém: So với các nguồn năng lượng khác như năng lượng mặt trời hoặc năng lượng hạt nhân, năng lượng gió có tính ổn định kém hơn hẳn vì quy trình sản xuất năng lượng gió phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố ngoại cảnh như điều kiện thời tiết, sức gió, tốc độ gió,... Tùy thuộc vào các điều kiện trên mà hiệu năng sản xuất ra nguồn năng lượng này có thể dao động đáng kể.
Tái tạo và sạch: Tương tự như năng lượng mặt trời, năng lượng gió không gây ra khí nhà kính hoặc ô nhiễm không khí, là một nguồn năng lượng sạch và bền vững.
Phát triển công nghệ: Công nghệ tuabin gió đang trên đà phát triển, giúp nâng cao hiệu suất và tiết kiệm chi phí sản xuất điện. Các tuabin gió cũng trở nên hiện đại và thông minh hơn, có khả năng kết nối với mạng lưới điện nhằm tối ưu hóa hiệu năng sản xuất theo nhu cầu.
Tóm lại, năng lượng gió, với tiềm năng phát triển lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi năng lượng tái tạo một cách bền vững.

2.3 Thủy điện
Nguyên lý hoạt động: Tương tự như năng lượng gió, việc sản sinh ra năng lượng thủy điện cũng dựa trên chuyển động quay của tuabin. Tuy nhiên tuabin ở đây không chuyển động nhờ vào năng lượng gió, thay vào đó các tuabin chuyển động dựa trên chuyển động của dòng nước, đặc biệt là khi nước từ trên thác chảy xuống. Động năng từ đó được sinh ra và tiếp tục được chuyển hóa thành điện năng
Tính ổn định: Tính ổn định của năng lượng thủy điện thường cao hơn so với năng lượng gió và năng lượng mặt trời do tính dễ dự đoán và ổn định của lưu lượng nước.
Loại hình thủy điện: Thủy điện bao gồm hai loại chính đó là thủy điện lớn và thủy điện nhỏ. Loại hình thủy điện được xây dựng ở các nơi có diện tích rộng như sông, đập nước lớn ,trong khi các dòng sông nhỏ hơn thường là nơi xây dựng loại hình thủy điện nhỏ do loại hình này không tốn quá nhiều diện tích

2.4 Năng lượng sinh học
Nguồn gốc của năng lượng sinh học là từ các vật liệu hữu cơ như cây trồng, rừng, và các loại vật liệu khác.
Dạng năng lượng này có thể được sử dụng một cách trực tiếp thông qua việc đốt cháy các nhiên liệu (như biodiesel, ethanol) và được ứng dụng trong xe ô tô hoặc các ngành công nghiệp. Bên cạnh đó năng lượng sinh học có thể được chuyển thành nhiệt năng nhằm sản xuất điện.
Ưu điểm và thách thức: Năng lượng sinh học có thể cách thay thế nhiên liệu hóa thạch từ đó giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên việc khai thác năng lượng sinh học đòi hỏi công sức cũng như nguồn lực cao trong công đoạn quản lý để tránh gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất thực phẩm cũng như môi trường.
2.5 Năng lượng địa nhiệt

Nguyên lý hoạt động: Năng lượng địa nhiệt được hình thành dựa trên hơi nước hoặc chất lỏng được sản sinh từ nhiệt độ cao dưới lòng đất, từ đó sinh ra nhiệt năng để quay tuabin điện và sản xuất điện.
Năng lượng địa nhiệt thường được ứng dụng tại các vùng có hoạt động địa nhiệt mạnh và thường là nơi tạo ra núi lửa, các hồ nước nóng và các hiện tượng địa nhiệt khác, như Iceland và New Zealand

3. Mục tiêu của Việt Nam trong chuyển đổi năng lượng tái tạo
Tại Quyết định 1009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng, Thủ tướng đề ra mục tiêu đến năm 2030:
- Phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, nhất là công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, thiết bị lưu trữ điện năng, thu hồi, hấp thụ, lưu trữ và sử dụng CO2; thúc đẩy sản xuất hydro xanh, amoniac xanh…
- Hình thành 02 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng tại các khu vực có nhiều tiềm năng như Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Bộ.
Các nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra để đạt được mục tiêu trên bao gồm:
- Cải thiện khung pháp lý để tạo thuận lợi cho đầu tư vào năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng hiệu quả và tăng cường lưới điện ở Việt Nam;
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát triển chế tạo, sản xuất, bảo dưỡng thiết bị năng lượng tái tạo;
- Triển khai thực hiện nội dung phát triển hệ sinh thái công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Xây dựng và thực hiện quy định về tỷ lệ năng lượng tái tạo cho các tổ chức phân phối điện, kết hợp với xây dựng thị trường tín chỉ năng lượng tái tạo. Nâng cao khả năng chế tạo, sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị năng lượng tái tạo trong nước…
---------
EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Hotline: +84 824 633 633
Email: [email protected]
Website: eicvienam.com.vn

CHUYỂN ĐỔI XANH LÀ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC VÀ ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU CỦA VIỆT NAMThủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, ch...
17/03/2024

CHUYỂN ĐỔI XANH LÀ LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC VÀ ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU CỦA VIỆT NAM

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chuyển đổi xanh cùng với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu của Việt Nam để phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi nền kinh tế từ nâu sang xanh. Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp, quỹ đầu tư tiếp tục coi Việt Nam là địa chỉ để gửi gắm niềm tin.

Sáng 2.12, theo giờ địa phương, trong chương trình hoạt động tại UAE, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam với chủ đề "Huy động các nguồn lực cho chuyển đổi xanh", Báo Chính phủ thông tin.

Diễn đàn do Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đại sứ quán Việt Nam tại UAE, Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu phối hợp tổ chức. Tham dự diễn đàn có lãnh đạo các bộ, ngành hai nước cùng 50 doanh nghiệp Việt Nam, 120 doanh nghiệp UAE và quốc tế.

Các ý kiến tại diễn đàn đánh giá cao những cam kết, nỗ lực của Việt Nam trong giảm phát thải, chuyển đổi xanh kể từ sau COP26, những hoạt động của Thủ tướng tại COP28, đặc biệt là việc công bố Kế hoạch huy động nguồn lực thực hiện Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP).

Các đại biểu cũng đánh giá cao tiềm năng to lớn của Việt Nam về năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm của chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo; nêu các đề xuất, sáng kiến để thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác, huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh, đặc biệt là chuyển đổi năng lượng, với mong muốn đồng hành cùng Việt Nam tận dụng các tiềm năng, cơ hội phát triển bền vững thời gian tới.

Phát biểu tại diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá, kể từ sau Hội nghị COP26, thế giới đã có những thay đổi to lớn và nhanh chóng, song tình hình chung là khó khăn, thách thức nhiều hơn là cơ hội và thuận lợi. Việt Nam vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, thúc đẩy được tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là nước đang phát triển, nền kinh tế đang chuyển đổi, quy mô kinh tế còn khiêm tốn, xuất phát điểm thấp, độ mở cao nhưng sức chống chịu hạn chế. Do đó, để chuyển đổi xanh, vẫn cần sự hợp tác, hỗ trợ của các đối tác quốc tế về nguồn vốn với lãi suất ưu đãi, huy động đa dạng các nguồn lực; công nghệ tiên tiến; đào tạo nhân lực; quản trị hiện đại; xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam nhưng thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, kiến tạo phát triển.

Về phần mình, Việt Nam đang nỗ lực tiếp tục xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để phát huy tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh; hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; luôn luôn cầu thị, lắng nghe các ý kiến để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời, hiệu quả.
Thủ tướng nhấn mạnh, chuyển đổi xanh cùng với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu của Việt Nam để phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi nền kinh tế từ nâu sang xanh. Việt Nam tập trung và mong muốn đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực này.

Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp, quỹ đầu tư tiếp tục coi Việt Nam là địa chỉ để gửi gắm niềm tin, Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các nhà đầu tư trên tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chứng kiến lễ trao thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp của Việt Nam với các đối tác quốc tế.

Các thỏa thuận hợp tác gồm biên bản ghi nhớ giữa tập đoàn CT và các đối tác về thiết lập, tăng cường giao dịch tín chỉ carbon, giảm phát thải carbon. Vietjet thỏa thuận hợp tác với Công ty quản lý vốn hàng đầu của UAE Novus Aviation Capital về thành lập liên doanh tài chính tàu bay (bước đầu sẽ cung cấp tài chính cho 15 tàu bay mới được Vietjet đặt hàng và được giao hàng từ năm 2024), đồng thời ký kết đặt hàng nhiên liệu hàng không bền vững với công ty SAF One (loại nhiên liệu làm từ chất thải như dầu ăn đã qua sử dụng để cắt giảm lượng khí thải).
---------
EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Hotline: +84 824 633 633
Email: [email protected]
Website: eicvienam.com.vn

Vừa qua, Giám đốc ban cố vấn chuyên môn cùng các chuyên gia, chuyên viên của công ty EIC Việt Nam đã có buổi làm việc tạ...
05/03/2024

Vừa qua, Giám đốc ban cố vấn chuyên môn cùng các chuyên gia, chuyên viên của công ty EIC Việt Nam đã có buổi làm việc tại Nhà máy xi măng Vicem Hạ Long.

Tại buổi làm việc, EIC Việt Nam cùng lãnh đạo và cán bộ của Nhà máy đã trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan đến môi trường tại Việt Nam nói chung và nhà máy nói riêng.

Kết thúc buổi làm việc, hai bên đã thống nhất đưa ra một số nội dung hợp tác liên quan đến công tác môi trường và các định hướng phát triển tận dụng tiềm năng lợi thế về môi trường trong tương lai.

---------
EIC Việt Nam rất vinh dự được hợp tác với các đối tác doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Hotline: +84 824 633 633
Email: [email protected]
Website: eicvienam.com.vn

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI VÀ ỨNG DỤNGXử lý nước thải là quá trình loại bỏ chất ô nhiễm ra khỏi nước thải như: nước thải s...
05/03/2024

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI VÀ ỨNG DỤNG

Xử lý nước thải là quá trình loại bỏ chất ô nhiễm ra khỏi nước thải như: nước thải sinh hoạt, thương mại, dịch vụ; nước thải sản xuất, nước thải công nghiệp

Nước thải là một vấn đề nghiêm trọng đối với môi trường và sức khỏe con người. Để giải quyết vấn đề này, hệ thống xử lý nước thải đã trở thành một phần không thể thiếu trong các cơ sở công nghiệp, khu dân cư và các cơ sở sản xuất. Bài viết này sẽ tập trung vào tầm quan trọng của hệ thống xử lý nước thải và cách lắp đặt, xây dựng hệ thống này để giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

Hệ thống xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm từ nước thải trước khi nó được xả ra vào môi trường tự nhiên. Công nghệ xử lý nước thải hiện đại không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tái sử dụng nước và tạo ra các sản phẩm phụ gia có giá trị từ nước thải.

Công Đoạn Lắp Đặt: Quá trình lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đòi hỏi sự chính xác và kỹ thuật cao. Việc lắp đặt phải tuân theo các tiêu chuẩn an toàn và môi trường, đồng thời phải đảm bảo hiệu suất hoạt động của hệ thống sau khi hoàn thành.
Công Nghệ Lắp Đặt: Công nghệ lắp đặt hệ thống xử lý nước thải ngày càng được cải tiến với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Các phương pháp lắp đặt hiện đại giúp tối ưu hóa hiệu suất xử lý nước thải và giảm thiểu tác động đến môi trường.

Phân Loại Hệ Thống: Có nhiều phương pháp xây dựng hệ thống xử lý nước thải như hệ thống xử lý sinh học, hệ thống xử lý vật lý-hóa học, hay kết hợp cả hai phương pháp. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp sẽ quyết định đến hiệu quả và chi phí của quá trình xử lý.
Ưu Điểm Của Hệ Thống Xử Lý Nước Thải: Hệ thống xử lý nước thải không chỉ giúp loại bỏ các chất ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn nước sạch tái sử dụng và các sản phẩm phụ gia có giá trị. Điều này giúp giảm thiểu tác động đến môi trường và tạo ra giá trị kinh tế từ nước thải.

Danh Sách: Các Loại Hệ Thống Xử Lý Nước Thải Phổ Biến
- Hệ Thống Xử Lý Sinh Học: Sử dụng vi sinh vật để phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ.
- Hệ Thống Xử Lý Vật Lý-Hóa Học: Sử dụng các phương pháp vật lý và hóa học để loại bỏ các chất ô nhiễm.
- Hệ Thống Kết Hợp: Kết hợp cả hai phương pháp trên để đạt hiệu quả cao nhất.

Câu Hỏi Thường Gặp

Làm thế nào hệ thống xử lý nước thải hoạt động? Hệ thống xử lý nước thải hoạt động bằng cách loại bỏ các chất ô nhiễm từ nước thải thông qua các quá trình sinh học, vật lý và hóa học.
Tại sao cần lắp đặt hệ thống xử lý nước thải? Việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải giúp bảo vệ môi trường, nguồn nước sạch và sức khỏe cộng đồng.

Hệ thống xử lý nước thải có ảnh hưởng đến nguồn nước tái sử dụng không? Có, hệ thống xử lý nước thải giúp tạo ra nguồn nước tái sử dụng an toàn và sạch hơn từ nước thải.
Làm thế nào để duy trì hiệu suất của hệ thống xử lý nước thải? Để duy trì hiệu suất, cần thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng và vận hành hệ thống theo đúng quy trình.

Hệ thống xử lý nước thải có ứng dụng trong ngành công nghiệp nào? Hệ thống xử lý nước thải được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hóa chất, thực phẩm, dệt may và nhiều ngành sản xuất khác.

Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, hệ thống xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên nước. Việc lắp đặt và xây dựng hệ thống xử lý nước thải đòi hỏi sự chính xác và kỹ thuật cao, nhưng đem lại lợi ích lớn cho cả môi trường và con người.

Address

45 Nguyễn Khang/Cầu Giấy
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when EIC Việt Nam - Tư Vấn Môi Trường, Kiểm Kê Khí Nhà Kính posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share