Hội người mù Việt Nam

Hội người mù Việt Nam Đây là trang thông tin của Trung Ương Hội Người mù Việt Nam

19/05/2026

Hội thảo khoa học tư tưởng “Tàn nhưng không phế” của chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị lí luận và thực tiễn !
Tổng kết trao giải cuộc thi khắc sâu lời bác - Toả sáng tấm gương “Tàn nhưng không phế”

GIỚI THIỆU VÀ HƯỚNG DẪN BÌNH CHỌN CUỘC THIKHẮC SÂU LỜI BÁC – TOẢ SÁNG TẤM GƯƠNG “TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ”Nhân dịp kỷ niệm 70...
07/05/2026

GIỚI THIỆU VÀ HƯỚNG DẪN BÌNH CHỌN CUỘC THI
KHẮC SÂU LỜI BÁC – TOẢ SÁNG TẤM GƯƠNG “TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ”

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trường Thương binh hỏng mắt và để lại lời dạy thiêng liêng "Tàn nhưng không phế" (11/02/1956 – 11/02/2026); nhằm lan tỏa tư tưởng cao đẹp của Bác, khơi dậy ý chí vươn lên và khẳng định giá trị sống tích cực trong cộng đồng người khiếm thị, đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong mỗi cán bộ, hội viên, Hội Người mù Việt Nam phát động Cuộc thi với chủ đề: Khắc sâu lời Bác – tỏa sáng tấm gương “Tàn nhưng không phế”
Cuộc thi là dịp ôn lại ý nghĩa lịch sử của sự kiện Bác Hồ đến thăm trường Thương binh hỏng mắt năm 1956 và khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của lời dạy "Tàn nhưng không phế"; Tôn vinh và lan tỏa những tấm gương người khiếm thị tiêu biểu giàu ý chí, nghị lực trong lao động, học tập, công tác, vươn lên, làm chủ cuộc sống, đóng góp tích cực cho gia đình và cộng đồng, khẳng định tinh thần "Tàn nhưng không phế" của Bác, góp phần thực hiện việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Động viên, khích lệ cán bộ, hội viên tiếp tục thi đua học tập, lao động, sản xuất, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, hòa nhịp và đóng góp vào sự phát triển chung của quê hương, đất nước.
Qua hơn 3 tháng phát động, cuộc thi đã nhận được sự tích cực hưởng ứng tham gia của đông đảo cán bộ, hội viên, học sinh, sinh viên khiếm thị trong cả nước, trong đó, 79 bài dự thi đã được các Tỉnh, Thành hội tuyển chọn gửi về Trung ương Hội. Các bài dự thi được thể hiện dưới dạng bài viết, audio và video với nhiều nội dung phong phú, bám sát chủ đề “Tàn nhưng không phế’, lan toả nhiều tấm gương điển hình, vượt khó thành công.
Qua vòng sơ khảo, Trung ương Hội chấm và chọn 50 bài dự thi đạt chất lượng bước vào vòng chung khảo và được ban tổ chức đăng tải để khán thính giả đọc, nghe, xem và bình chọn.
Để cổ vũ tinh thần cho các thí sinh, các đơn vị tham gia cuộc thi, Trung ương Hội rất mong cán bộ, hội viên trong Hội, cùng quí vị khán thính giả sẽ nhấn like và theo dõi trang Fanpage của Hội Người mù Việt Nam, bình chọn, chia sẻ các bài dự thi. Sự nhiệt tình hưởng ứng, tham gia bình chọn của quý vị và các bạn sẽ góp phần to lớn động viên, khích lệ các thí sinh cùng các đơn vị tham gia, đồng thời, lan tỏa ý nghĩa của cuộc thi. Kết quả của khán giả cũng là cơ sở góp phần để ban giám khảo, ban tổ chức tham khảo, đánh giá, trao giải thưởng cho các thí sinh.
Quý vị và các bạn thực hiện bình chọn theo các bước sau:
Bước 1: Truy cập vào trang Fanpage:
https://www.facebook.com/tapchidoimoi và nhấn like trang Fanpage
Bước 2: Bình chọn cho bài dự thi bằng cách nhấn nút Like/Thích và Share/Chia sẻ các bài dự thi
Lưu ý: Cần thực hiện cả hai bước trên để được tính điểm bình chọn.
Cách thức tính điểm bình chọn như sau:
Mỗi lượt Like/Thích = 01 điểm
Mỗi lượt Share/ Chia sẻ = 02 điểm
Tổng điểm bình chọn = Tổng điểm lượt Like/Thích + tổng điểm Share/ Chia sẻ
Thời gian bình chọn: Từ 14h00’ ngày 07/5/2026 đến 15h00’ ngày 15/5/2026.
Để đảm bảo tính công bằng của cuộc thi, đề nghị khán thính giả, các đơn vị có thí sinh tham dự không dùng các phần mềm công nghệ thông tin, hoặc các hình thức để tăng các lượt like, share ảo. Ban tổ chức sẽ không tính điểm và trao giải cho các bài dự thi vi phạm quy định này.
Xin trân trọng cảm ơn!

01BV. Đỗ Thị Năm- Chi Hội trực thuộc - Trung ương Hội Người mù Việt Nam1. THÔNG TIN CÁ NHÂNHọ và tên: Đỗ Thị NămNăm sinh...
07/05/2026

01BV. Đỗ Thị Năm- Chi Hội trực thuộc - Trung ương Hội Người mù Việt Nam

1. THÔNG TIN CÁ NHÂN
Họ và tên: Đỗ Thị Năm
Năm sinh: 1983
Địa chỉ: 191 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

2. THÔNG TIN NHÂN VẬT:
Họ và tên: Vũ Thị Hải Anh
Năm sinh: 2000
Địa chỉ: Trường KHXH và Nhân văn
SĐT:

3. Bài tham dự cuộc thi: Khắc sâu lời Bác – tỏa sáng tấm gương “Tàn nhưng không phế”
Nữ thủ khoa khiếm thị và hành trình định nghĩa lại hai chữ “Không phế”
Đã có lúc, tôi thấy bóng tối không chỉ che phủ đôi mắt, mà còn len lỏi bóp nghẹt cả những ước mơ. Trong thế giới tĩnh lặng và mờ mịt ấy, câu hỏi “Mình sống để làm gì?” cứ day dứt mãi. Cho đến khi tôi gặp Vũ Thị Hải Anh – một mầm xanh không chỉ vươn mình từ bóng tối, mà còn tự thắp lên ánh sáng cho chính mình và người khác. Qua đó, tôi cũng thấu hiểu và thấm thía hơn về lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ: “Tàn nhưng không phế”.
Hải Anh sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng đồng bằng sông Hồng, bố mẹ đều là công nhân. Gia đình có hai anh em, cả hai đều có sức khỏe không tốt nên cuộc sống vốn đã khó khăn lại càng thêm chật vật. Ngay từ nhỏ, Hải Anh đã phải đối diện với một thử thách lớn khi mắc bệnh đục thủy tinh thể và teo nhãn cầu, khiến đôi mắt mất hoàn toàn thị lực.
Tuổi thơ của Hải Anh là những ngày dài quanh quẩn trong bốn bức tường. Năm lên năm tuổi, Hải Anh được mẹ đưa đến trường mẫu giáo, nhưng câu trả lời nhận lại là sẽ không có ngôi trường nào chấp nhận một đứa trẻ mù.
Câu nói ấy trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt nhiều năm.
Từ một cô bé hồn nhiên, Hải Anh dần trở nên trầm lắng hơn, thu mình lại và đôi khi cáu gắt với những người xung quanh. Hải Anh từng không hiểu vì sao con đường đến với tri thức của mình lại khó khăn đến vậy.
Nhưng chính trong những ngày tháng ấy, một con đường khác đã được mở ra.
Mẹ là người thầy đầu tiên của Hải Anh. Những chấm nổi đầu tiên, những ký hiệu Braille đầu tiên được truyền dạy bằng sự kiên nhẫn và tình yêu của mẹ. Hải Anh học từng con chữ với đôi tay, bằng một khát khao được học và chạm tới tri thức.

Ảnh: Hải Anh khi là học sinh lớp 9 trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội.
Phải gần bảy năm sau, Hải Anh mới có thể đến trường tại Trường Phổ thông Cơ sở Nguyễn Đình Chiểu, cách nhà hơn 100 km. Từ đó, Hải Anh bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách khi tuổi đời còn quá nhỏ.
Lên cấp hai, gia đình tiếp tục gặp biến cố. Bố Hải Anh mắc bệnh nặng, anh trai phải điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai. Hải Anh buộc phải vừa học, vừa đi làm để có thể tiếp tục con đường học tập.
Là người từng làm cùng công việc với Hải Anh, tôi hiểu rõ công việc xoa bóp, bấm huyệt vất vả đến mức nào. Tôi vẫn nhớ có lần, sau một ca làm muộn, những ngón tay của Hải Anh sưng lên vì làm việc liên tục trong nhiều giờ.
Tôi hỏi Hải Anh có mệt không, Hải Anh chỉ cười:
“Có mệt chị ạ… nhưng mai em vẫn phải làm tốt hơn, bởi nếu dừng lại thì em sẽ không còn cơ hội đi học nữa.”
Câu nói ấy khiến tôi lặng đi trong giây lát. Không chỉ vì bất ngờ trước suy nghĩ của một cô bé cấp II, mà còn vì trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra có những con người nhỏ bé nhưng mang trong mình một ý chí lớn đến mức khiến người khác phải soi lại chính mình, trong đó có tôi.
Ngày qua ngày, đêm nối đêm, Hải Anh làm việc. Hết giờ làm, Hải Anh lại học. Không có điều kiện thuận lợi, việc học với Hải Anh chưa bao giờ là điều dễ dàng.

Ảnh: Hải Anh vinh dự nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2023.
Hành trình của Hải Anh không chỉ là việc đi học, mà là một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục giữa dòng đời đầy thác ghềnh. Nếu năm lên năm tuổi, cánh cửa trường mẫu giáo từng lạnh lùng đóng sập trước mắt em với lời từ chối “không nơi nào nhận trẻ mù”, thì theo dòng chảy của thời gian, chính sự bền bỉ đã giúp em tự tay gõ cửa những “lâu đài” tri thức xa xôi hơn thế.
Chưa dừng lại ở đó, suốt những năm tháng phổ thông, bóng tối không thể ngăn đôi tay em “mài giũa” nên những kỳ tích. Lúc này, những tấm bằng khen như biết cất tiếng nói, chúng kể về một cô bé dám “chạm” vào ngôn từ để giật Giải Đặc biệt UPU lần thứ 48, hay trở thành sứ giả truyền cảm hứng với danh hiệu Đại sứ Văn hóa đọc Thủ đô (năm 2019). Nếu ngày xưa, bốn bức tường nhà nghèo và những ký hiệu Braille đầu tiên là thế giới nhỏ bé của em, thì nay, không gian ấy đã mở rộng đến vô tận khi em được nhận bằng khen của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; “Tấm gương Tỏa sáng nghị lực Việt; Học bổng “Học không bao giờ cùng” của Hội Khuyến học Việt Nam và kiêu hãnh bước vào giảng đường với vị thế Thủ khoa đầu vào.

Ảnh: Hải Anh đầy tự tin với vai trò MC tại sự kiện Go With You 2023 “Toả sáng ước mơ” đồng thời là Phó Chủ nhiệm mạng lưới sinh viên khiếm thị Việt Nam.
Đáng kinh ngạc hơn, khi bước vào môi trường đại học khắc nghiệt, những danh hiệu như “Sinh viên 5 tốt” hay “Gương mặt trẻ tiêu biểu” đã trở thành những “người bạn” đồng hành trung thành, chứng kiến Hải Anh thức trắng đêm, vắt kiệt từng đoạn ghi âm bài giảng để không một kiến thức nào bị bỏ sót. Để rồi, từ một cô bé từng lầm lũi nơi góc tối xoa bóp mưu sinh, năm 2024, em đã vinh dự đứng dưới ánh đèn sân khấu rực rỡ nhận Giải thưởng Tình nguyện Quốc gia.

Ảnh: Vũ Thị Hải Anh nhận giải thưởng Thanh niên sống đẹp năm 2024 của Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam
Đỉnh cao của sự ghi nhận ấy chính là khoảnh khắc năm 2025, khi cô gái từng bị chối từ ngày nào giờ đây tràn đầy tự hào đứng giữa hội trường trang trọng, là một trong 300 thanh niên tiêu biểu đối thoại với Thủ tướng Chính phủ và là nhân vật của “Việc tử tế” được diện kiến Chủ tịch nước. Những tờ giấy khen ấy giờ đây không còn là vật vô tri, chúng là những “huân chương” lấp lánh cho một ý chí sắt đá, minh chứng rằng: Khi trái tim đã chọn “không phế”, thì bóng tối cũng phải nhường bước cho ánh sáng dẫn đường."
Bên cạnh sự cố gắng trong học tập, Hải Anh còn đảm nhận vai trò Phó Chủ nhiệm Mạng lưới sinh viên khiếm thị Việt Nam và Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hoa Đá Nhân văn. Em đã tổ chức triển khai nhiều dự án như chương trình đào tạo kỹ năng nấu ăn cho người khiếm thị, sáng kiến hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận dịch vụ hành chính công trực tuyến, cùng nhiều hoạt động tình nguyện tại các địa phương còn khó khăn.
Tri thức được lan tỏa. Cơ hội được mở ra. Niềm tin được tiếp nối.
Qua hành trình ấy, Hải Anh đã trở thành một người trẻ dám vượt qua giới hạn của bản thân và sẵn sàng dẫn đường cho những thế hệ thanh niên phía sau.

Ảnh: Hải Anh đạt giải C cuộc thi viết “Vượt lên số phận lần thứ VIII” tháng 10/2025.
Giá trị của Hai chữ “không phế” từ lời dạy của Bác đã được Hải Anh hiện thực hóa thành hành động.
Là một người khiếm thị, sinh ra trong một gia đình có ba chị em cùng hoàn cảnh, tôi cũng từng cảm thấy bế tắc. Tôi từng nghĩ mình không thể đi xa hơn.
Nhưng khi chứng kiến tấm gương sống đẹp tàn nhưng không phế của Hải Anh, tôi hiểu rằng bế tắc có thể là cơ hội để chúng ta bứt phá, nỗ lực vươn mình.
Giờ đây, khi làm một nhân viên của xưởng in chữ Braille Trung ương Hội Người Mù Việt Nam, tôi cảm thấy mình đang sống một cuộc đời thật ý nghĩa. Dù không nhìn thấy ánh sáng, tôi vẫn đang góp phần nhỏ bé, đưa tri thức đến gần hơn với những người đồng cảnh. Và trên hành trình ấy, Hải Anh là nguồn động lực để giúp tôi bước tiếp.
Hải Anh đã chứng minh rằng: Giới hạn không nằm ở đôi mắt khiếm khuyết, mà nằm ở một tâm hồn lười biếng. Em chính là minh chứng sống động nhất cho lời dạy của Bác: “Tàn nhưng không phế”. Trong bóng tối sâu thẳm, mầm xanh ấy vẫn ngược sáng mà vươn lên, nở hoa rực rỡ giữa cuộc đời.

07/05/2026

02VD. Phạm Thị Hồng - Chi hội người mù trực thuộc - Trung Ương Hội người mù Việt nam

07/05/2026

03VD. Huỳnh Hữu Cảnh - HNM tỉnh An Giang

04BV. Nguyễn Đăng Khoa - HNM tỉnh Nghệ An                            HỘI NGƯỜI MÙ TỈNH NGHỆ AN THÔNG TIN CUỘC THI: KHẮC ...
07/05/2026

04BV. Nguyễn Đăng Khoa - HNM tỉnh Nghệ An

HỘI NGƯỜI MÙ TỈNH NGHỆ AN
THÔNG TIN
CUỘC THI: KHẮC SÂU LỜI BÁC - TỎA SÁNG TẤM GƯƠNG
“TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ”
Bài viết: THEO DẤU CHÂN CỦA BÁC
1. Thông tin của thí sinh dự thi viết về bản thân.
Họ và tên: Nguyễn Đăng Khoa
Sinh năm: 12/01/1942
Địa chỉ: Xóm Nam Lĩnh – Xã Đại Huệ - Nghệ An
Nghề nghiệp: Thương binh
Tỉnh, thành Hội: Nghệ An

THEO DẤU CHÂN CỦA BÁC
Năm 1993, năm củng cố và phát triển tổ chức Hội của Hội người mù Việt Nam, Hội người mù huyện Nam Đàn được thành lập, tôi được phân công làm chủ tịch Hội. Buổi đầu muôn vàn khó khăn đã xảy ra, về vật chất hai bàn tay trắng, về kiến thức và nghiệp vụ công tác 4 bàn tay không thế nhưng vượt qua tất cả đưa huyện hội Nam Đàn trở thành dẫn đầu của Nghệ An. Lo lắng cho công việc đêm nằm trằn trọc thâu đêm không ngủ, chìa khoá để mở ra cho mọi việc là kiến thức và vốn sống, muốn có kiến thức thì phải học. Câu chuyện “Thưa Bác sao Bác giỏi thế ạ” trong cuốn những cuộc đời hoạt động của Bác Hồ lần lượt hiện về trong tôi: Trong một cuộc hội nghị của cán bộ trung ương do Bác Hồ chủ trì diễn ra ở Việt Bắc đến giờ giải lao tất cả các đại biểu đều ra bờ suối Lê Nin rửa chân tay mặt mũi và ghỉ ngơi, bác cùng ra với mọi người, Bác ngồi trên một hòn đá hút thuốc lá. Mọi người thấy bác ra ùa đến vây quanh Bác để được nhìn Bác kĩ hơn và nghe Bác nói chuyện. Phía bên trái Bác có một cán bộ nhấp nha nhấp nhổm như muốn nói điều gì mà không sao nói được cuối cùng cũng nói ra được điều mình muốn nói: Thưa Bác sao Bác giỏi thế ạ. Bác không trả lời ngay, Bác cúi xuống bỏ mẫu thuốc lá xuống dưới đất lấy dép đè lên. Ngửa đầu lên Bác nhìn đồng chí cán bộ rồi chậm rãi nói: Bác có giỏi gì đâu, Bác cũng như các chú thôi chỉ khác là hôm nay Bác nhặt nhạnh vài chữ ngày mai Bác nhặt thêm dăm ba chữ, chịu khó là có thôi. Chú có nhớ cha ông ta dạy gì không: Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão và năng nhặt thì chặt bị đó sao. Mọi người xung quanh cười ồ lên, đồng chí cán bộ nói: Thưa Bác cháu hiểu rồi ạ. Câu chuyện chỉ đơn giản vậy thôi nhưng đối với tôi đây là một bài học vô cùng quý giá, tôi coi đây là một bảo bối để tôi học tập nâng cao trình độ nhận thức giúp tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác của Hội. Tất cả mọi kiến thức thì tôi có thể tìm kiếm, học hỏi được, riêng kiến thức về Hội tôi hoàn toàn bế tắc, một thời gian sau có dịp đi Hà Nội tôi về Trung ương Hội hy vọng có tìm kiếm được cái gì không nhưng đến nơi các bác trong văn phòng Trung ương Hội đi vắng cả, ngồi tiếp tôi là anh Lê Hậu tổng biên tập tạp chí đời mới, sau khi nói chuyện anh Hậu hiểu được băn khoăn của tôi. Anh Lê Hậu đưa cho tôi một tập dự thảo sự hình thành và phát triển của Hội người mù Việt nam, tôi bảo cán bộ sáng phôtô ra hai bản, bản chính trả lại cho anh Hậu. Trên tàu về Nghệ An, cán bộ sáng Phan Hồng Đức đã đọc cho tôi nghe văn bản dự thảo ấy. Ngay từ những dòng đầu đã gây cho tôi cảm xúc không sao cầm được nước mắt:
Những ngày hạ tuần tháng 4 năm 1969 Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta rất yếu mệt vì những cơn đau tim nặng, tuy vậy hàng ngày trên giường bệnh ông Vũ Kỳ vẫn đọc báo cho Bác nghe. Một hôm ông Vũ Kỳ đọc trên báo đại đoàn kết một tin ngắn: Ngày 17/4/1969 tại câu lạc bộ thống nhất bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hội người mù Việt Nam đã mở đại hội lần thứ nhất bầu ra Ban chấp hành, thông qua Điều lệ và chính thức đi vào hoạt động, nghe tin ấy mặc dù rất mệt nhưng khuôn mặt của Bác rất vui, Bác bảo ông Vũ Kỳ lấy bút đỏ đánh dấu hỏi sang bên cạnh tin đó, nhìn khuôn mặt của Bác ông Vũ Kỳ đoán biết Bác đang suy nghĩ một điều gì đó, ông không đọc báo nữa. một lúc sau Bác nói ông Vũ Kỳ: Chú trao đổi với Bộ nội vụ nói với Hội người mù Việt Nam.
Hai ngày sau ban thường vụ Trung ương Hội do ông Nguyễn Công Tiễu làm chủ tịch tiếp thu sự chỉ đạo của Bộ nội vụ phân công ông Huỳnh Đình Thảo soạn thảo báo cáo chi tiết này. Trong báo cáo chi tiết ấy Ban thường vụ Trung ương Hội đã đề đạt ý kiến xin được lấy lời dạy tàn nhưng không phế của người làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Hội và làm phương châm phấn đấu cho mọi thành viên của Hội. Khi nghe ông Vũ Kỳ đọc đến đoạn này Bác rất vui , cười rất tươi và nói “Bác đồng ý”. Ông Vũ Kỳ ghi sang bên cạnh ba chữ Bác Đồng ý và gạch chân ba lần. Từ đó lời dạy tàn nhưng không phế của Bác lan toả rất nhanh cả bề rộng lẫn chiều sâu, từ Trung uơng Hội đến các cấp Hội và thành viên của Hội.
Đúng như bác Lê Hồng Thuỷ phó chủ tịch Trung ương Hội đã viết trong lời nói đầu của cuốn khả năng của người mù: Lời dạy tàn nhưng không phế của Bác Hồ không phải chỉ là một lời dạy, lời động viên chí nghĩa chí tình mà còn là một chân lí khách quan khoa học. Đối với bản thân tôi làm theo lời dạy của Bác trong công tác của tập thể cũng như trong cuộc sống đời thường đã có nhiều thành công rất cụ thể, chính lời dạy của Bác đã giúp tôi biến không thành có, biến khó thành dễ, biến cái không thể thành cái có thể trong mọi mặt, không những lúc còn làm công tác Hội mà lúc trở về cuộc sống đời thường cũng vậy tôi luôn tâm niệm một điều và tự đặt ra cho mình một cái kỉ luật , kế hoạch, nhiệm vụ mình phải tự thi đua với mình, ngày hôm nay phải làm được số công việc hơn ngày hôm qua, ngày mai xây dựng kế hoạch thực hiện cho được số lượng công việc hơn ngày hôm nay. Tuy vậy một điều vẫn luôn canh cánh trong lòng chưa tìm được xuất xứ của lời dạy tàn nhưng không phế, mãi đến năm 2006 kỉ niệm 50 năm Bác dạy tàn nhưng không phế trong Tạp chí đời mới chuyên mục đất nước con người đăng nguyên văn bài viết của ông Vũ Kỳ có tiêu đề: Bác Hồ thăm trường thương binh hỏng mắt ở Hà Nội. Cầm cuốn tạp chí trong tôi như rộn lên vội vàng tranh thủ đọc:
“Giao thừa Bính Thân 1956 Bác Hồ đến thăm trường thương binh hỏng mắt Hà Nội nhưng không được báo trước. Lúc ấy toàn thể anh em thương bệnh binh, cán bộ công nhân viên tập trung tại hội trường để chuẩn bị đón giao thừa thì một chiếc ô tô nhỏ lướt nhẹ vào đỗ nhẹ trong sân, một nhân viên nhà trường nhận ra Bác nên hô to: Bác Hồ…Bác Hồ…đến, lập tức trong hội trường vang lên Bác Hồ muôn năm, Bác Hồ muôn năm, lãnh đạo nhà trường ra tận xe đón Bác. Bác vào hội trường đếm từng hàng ghế, bắt tay từng người. Một đồng chí thương binh đứng lên hỏi: Thưa Bác, Bác có khoẻ không ạ, đứng giữa hội trường Bác trả lời: Bác khoẻ nhưng Bác khoẻ các chú có vui không, cả hội trường đồng thanh đáp: Thưa Bác vui ạ. Bác nói, thế thì nghe Bác hỏi đây, tết này các chú ăn Tết có những gì, đồng chí thương binh lúc nãy trả lời Bác: Thưa Bác chúng cháu ăn tết có xôi và thịt lợn ạ. Bác nói: Đất nước mới hoà bình được một nửa, nhân dân ta còn nghèo, chúng ta ăn tết như vậy là tốt rồi. Ngừng một lát Bác nói: Bây giờ Bác nói như thế này nhé: Mỗi chú tuỳ theo hoàn cảnh của mình học lấy một nghề để tiếp tục được đóng góp, tiếp tục được phục vụ, làm được như vậy là các chú tàn nhưng không phế. Ngừng một lát Bác hỏi: Bác nói như vậy các chú có đồng ý không cả hội trường đồng thanh đáp Thưa Bác đồng ý ạ, Thưa Bác đồng ý ạ…
Bỗng phía cuối hội trường một giọng nói run run: Thưa Bác Tết năm nay Bác đến chúng cháu rất vui, nhưng chúng cháu chỉ được nghe Bác nói chứ không được nhìn thấy Bác, cho phép cháu cầm tay Bác được không ạ.
Bác bước nhanh đến tay phải cầm lấy cánh tay còn lại của đồng chí thương binh, tay trái lấy khăn mùi soa lau mặt, cả hội trường lặng đi, rồi Bác nói như vậy tất cả chúng ta đều vui, vui chúng ta phải hát lên chứ rồi bác bắt nhịp bài hát kết đoàn. Cả hội trường vang lên tiếng hát và tiếng vỗ tay đều nhịp. Bác ra hiệu cho đồng chí hiệu trưởng cùng đồng chí cảnh vệ đi ra xe…”
Tôi đọc đi đọc lại bài viết này đến thuộc lòng từng dấu chấm dấu phẩy.
Nhớ lại những ngày ở chiến trường, ngày 19/11/1968 tôi bị thương hỏng hai mắt khi cái tuổi trẻ chưa qua già chưa tới, quãng đời phía trước còn dài làm như thế nào cho cuộc sống đây, tôi chưa hiểu được xuất xứ lời dạy tàn nhưng không phế như thế nào nhưng trong tâm tưởng của tôi nhắc tôi luôn làm theo lời dạy đó. Đến lúc tham gia công tác Hội tôi có thêm chữ Brai là một cứu cánh tham gia trong mọi hoạt động Hội cũng như trong cuộc sống đời thường. Tôi chuẩn bị bước sang tuổi 85 suy ngẫm lại, lời dạy bất hủ của Bác, chân lí khách quan khoa học ấy mang lại cho tôi rất nhiều thành công trong cuộc sống:

- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác hội, được vinh danh là đại biểu xuất sắc trong đại hội thi đua yêu nước của hội, 17/12/2025.
Đặc biệt nhất là năm 2005 Bộ chính trị Trung ương Đảng khoá X có chỉ thị số 06 về việc đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhân ra diện rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và Việt kiều ở nước ngoài. Đây là cơ hội tốt nhất để tôi cập nhật thông tin, sưu tầm bổ sung tài liệu, sự kiện và cả diễn biến của sự kiện. Qua đó củng cố và hoàn thiện một cách có hệ thống nhận thức của mình về Đảng kính yêu, Bác Hồ vĩ đại, đất nước anh hùng, dân tộc anh hùng. Qua đó tôi đã được rất nhiều giải cao trong các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của cả nước. Chỉ đơn cử năm 2005 tôi đạt 5 giải thưởng của Hội đồng chung khảo quốc gia, cao nhất là giải đặc biệt cuộc thi cuộc đời sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, 4 giải khuyến khích: Âm vang Điện Biên, Sáng mãi phẩm chất bộ đội Cụ Hồ, 60 năm nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 75 năm Đảng cộng sản Việt Nam, ngoài ra còn đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.

“Bác Nguyễn Đăng Khoa kể chuyện về Bác Hồ
tại các trường phổ thông“
Về nhận thức tôi đã hoàn thành 5 bài viết về cuộc đời hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi bài viết dài thời lượng 1 giờ đồng hồ cụ thể như sau:
- Thời thơ ấu của Bác Hồ.
- Bác Hồ ở nước ngoài.
- 30 năm đi qua 18 nước tự học 29 ngoại ngữ và tìm đường cứu nước cho dân tộc.
- Bác Hồ về Việt Bắc chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
- Bác Hồ viết di chúc và qua 4 lần sửa chữa và bản di chúc của Bác trở thành báu vật của quốc gia.
Những giây phút cuối cùng của Bác Hồ và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về việc giữ gìn bảo vệ thi hài Bác cho con cháu mai sau. Di sản này ngày nay không phải là riêng của nhân dân và dân tộc Việt Nam mà là của nhân loại trên toàn thế giới khi tổ chức văn hoá liên hiệp quốc UNESCO vinh danh Bác là anh hùng giải phóng dân tộc danh nhân văn hoá kiệt xuất của nhân dân. 5 bài viết này tôi đã đi nói chuyện và chia sẻ với rất nhiều đoàn thể như Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Người cao tuổi, Hội thanh niên xung phong, Hội cựu giáo chức đặc biệt là các trường tiểu học và trung học cơ sở.
Tôi đã kiên trì và duy trì chuyên đề này đến 20 năm và đã trở thành báo cáo viên chuyên trách của Hội cựu chiến binh. Tin chắc rằng vẫn còn theo tôi cho đến hết cuộc đời.
Thông qua 11 lớp học tình thương tôi đã được Bộ giáo dục đào tạo đặc cách tặng thẻ nhà giáo với tấm thẻ này tôi đã nghiểm nhiên trở thành một nhà giáo như mơ ước của tôi lúc còn ngồi trên ghế nhà trường. Trên đây là những suy nghĩ và việc làm thực tế của tôi viết lên đây tôi không có ý khoe khoang mà muốn chia sẻ với các bạn đồng tật giúp nhau vươn lên trong cuộc sống.
Người viết: Nguyễn Đăng Khoa

05BV. Phan Thị Hoa - HNM tỉnh Nghệ AnHỘI NGƯỜI MÙ TỈNH NGHỆ ANTHÔNG TIN CUỘC THI: KHẮC SÂU LỜI BÁC - TỎA SÁNG TẤM GƯƠNG ...
07/05/2026

05BV. Phan Thị Hoa - HNM tỉnh Nghệ An

HỘI NGƯỜI MÙ TỈNH NGHỆ AN
THÔNG TIN
CUỘC THI: KHẮC SÂU LỜI BÁC - TỎA SÁNG TẤM GƯƠNG
“TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ”
BÀI VIẾT: GƯƠNG SÁNG NGƯỜI THƯƠNG BINH
KHẮC SÂU LỜI BÁC DẠY: "TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ"

1. Thông tin của thí sinh dự thi
Họ và tên: Phan Thị Hoa
Sinh năm: 1980
Địa chỉ:Khối Đông thọ - Phường Trường Vinh – Nghệ An
Nghề nghiệp: Cán bộ Hội
Tỉnh, thành Hội hoặc trường (nếu là học sinh, sinh viên): Nghệ An
Email (nếu có): [email protected]
2. Thông tin nhân vật trong bài dự thi: Nếu viết về người khác
Họ và tên: Nguyễn Đăng Khoa
Sinh năm: 12/01/1942
Địa chỉ: Xóm Nam Lĩnh – Xã Đại Huệ - Nghệ An
Nghề nghiệp: Thương binh
Tỉnh, thành Hội: Nghệ An

GƯƠNG SÁNG NGƯỜI THƯƠNG BINH
KHẮC SÂU LỜI BÁC DẠY: "TÀN NHƯNG KHÔNG PHẾ"

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, biết bao thế hệ đã hy sinh tuổi trẻ, xương máu để bảo vệ độc lập và tự do cho Tổ quốc. Khi chiến tranh đi qua, nhiều người lính trở về mang theo những vết thương trên cơ thể, thậm chí mất đi một phần thân thể. Tuy vậy, họ vẫn giữ vững ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan và nghị lực sống mạnh mẽ. Họ chính là minh chứng sinh động cho lời dạy của Bác Hồ kính yêu: "Tàn nhưng không phế." Trong số những tấm gương tiêu biểu ấy, ông Nguyễn Đăng Khoa – người thương binh hạng đặc biệt trên quê hương Nghệ An – là một hình ảnh đầy cảm động về nghị lực vươn lên và lòng tận tụy với cộng đồng.
“Đoàn đại biểu Nghệ An và Ông Nguyễn Đăng Khoa
tham dự đại Hội thi đua yêu nước của Hội người mù Việt Nam”
Ông Nguyễn Đăng Khoa sinh năm 1942 tại xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn (cũ) tỉnh Nghệ An – vùng đất giàu truyền thống cách mạng và cũng là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi vừa tròn 20 tuổi, mang trong mình khát vọng cống hiến cho Tổ quốc, ông đã lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của đất nước. Ông được phân công về binh trạm 44 thuộc Đoàn 559, đơn vị hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn lịch sử, đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển và chi viện cho chiến trường miền Nam.
Những năm tháng chiến đấu trên tuyến lửa Trường Sơn là quãng thời gian vô cùng gian khổ và nguy hiểm. Bom đạn của kẻ thù luôn rình rập, nhưng người lính trẻ ấy vẫn kiên cường hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong một trận chiến ác liệt vào tháng 11 năm 1968 khi đang hành quân vào chiến trường Quảng Nam, ông đã bị thương nặng. Vết thương chiến tranh đó đã vĩnh viễn cướp đi ánh sáng của đôi mắt ông. Đối với một người lính trẻ, đó là một mất mát vô cùng lớn. Sau khi được chuyển ra Bắc điều trị, ông trở về quê hương với đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng.
Trở lại cuộc sống đời thường với cơ thể mang thương tật nặng, ông Khoa phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Thế nhưng, bằng ý chí mạnh mẽ và niềm tin vào cuộc sống, ông đã không để bản thân gục ngã. Năm 1969 ông kết hôn với bà Trần Thị Sâm, người con gái cùng làng đã thủy chung chờ đợi suốt những năm tháng ông ở chiến trường. Hai vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lần lượt sinh được ba người con. Dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, ông bà luôn cố gắng nuôi dạy các con học hành đến nơi đến chốn. Đến nay, các con của ông đều trưởng thành, có công việc ổn định và cuộc sống gia đình hạnh phúc.
Dù không còn nhìn thấy ánh sáng, ông Khoa vẫn luôn cố gắng lao động và phụ giúp gia đình trong khả năng của mình. Ông chăm sóc con cái, làm việc nhà, chăn nuôi, chăm sóc vườn cây và còn tham gia các công việc ngoài đồng như làm cỏ lúa, be bờ giữ nước. Sự cần cù, chịu khó của vợ chồng ông đã giúp kinh tế gia đình dần ổn định. Với ông, mất đi đôi mắt không có nghĩa là mất đi khả năng lao động và cống hiến.
Không chỉ chăm lo cho gia đình, ông còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Năm 1993, khi Hội Người mù huyện Nam Đàn thành lập, ông được hội viên tín nhiệm bầu làm Chủ tịch huyện Hội. Năm 1997 tại đại hội, đại biểu lần thứ IV Hội người mù tỉnh Nghệ An, ông vinh dự được tín nhiệm bầu làm ủy viên ban thường trực tỉnh hội, phụ trách công tác tuyên truyền văn hóa giáo dục. Trên cương vị nào, ông luôn nỗ lực học tập và rèn luyện để có thể giúp đỡ những người cùng cảnh. Ông kiên trì học chữ Braille, tham gia các khóa đào tạo về công tác quản lý... Nhờ vậy, ông có thêm kiến thức và kỹ năng để phục vụ công tác một cách hiệu quả.
Ngoài ra, ông còn có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc. Ông học chơi nhiều loại nhạc cụ như Mandolin, Harmonica, Organ và Violin. Điều đáng khâm phục là ông có thể biểu diễn cùng lúc nhiều nhạc cụ: tay đánh Mandolin, miệng thổi Harmonica và chân điều khiển bộ gõ. Những tiết mục biểu diễn của ông đã mang lại niềm vui, niềm động viên tinh thần cho nhiều hội viên và khán giả. Ông cũng tham gia các hội diễn văn nghệ quần chúng của tỉnh và Trung ương, đạt nhiều giải thưởng cao trong các hội thi như “Tiếng hát Làng Sen”, “Tiếng hát từ trái tim”.
Trong vai trò là cán bộ Hội, ông Nguyễn Đăng Khoa luôn quan tâm, lắng nghe và tìm cách giúp đỡ các hội viên vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Ông cùng với các cấp Hội tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như mở lớp dạy chữ Braille, phục hồi chức năng, hỗ trợ vay vốn và dạy nghề cho hội viên. Đặc biệt, ông đã tham gia triển khai thành công dự án “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” tại Nghệ An trong nhiều năm, giúp người mù có cơ hội học chữ nổi, học nghề và sống tự lập hơn.


“Tác giả bài viết và ông Nguyễn Đăng khoa được nhận bằng khen tại Đại hội thi đua yêu nước”
Sau khi không còn đảm nhiệm công tác Hội do tuổi cao, ông Khoa vẫn tiếp tục cống hiến cho cộng đồng bằng những việc làm đầy ý nghĩa. Tại nơi ông sinh sống có nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện học thêm. Thấy vậy, ông đã mở các lớp học miễn phí tại nhà để phụ đạo môn toán cho các em từ lớp 7 đến lớp 9. Dù không nhìn thấy sách vở, ông vẫn biên soạn giáo án bằng chữ Braille và kiên trì giảng dạy cho học sinh. Tấm lòng nhân ái và sự tận tâm của ông đã giúp nhiều học sinh tiến bộ trong học tập và có thêm động lực vượt khó.
Những việc làm ý nghĩa ấy đã được nhiều cơ quan báo chí và truyền hình ghi nhận. Nhiều phóng sự về cuộc đời và hoạt động của ông đã được phát sóng trên các kênh truyền hình. Đặc biệt, ba bộ phim phóng sự “Thầy nhà”, “Trở về sau cuộc chiến” và “Tôi còn sống” do Trung tâm Phát thanh – Truyền hình Quân đội thực hiện đã đạt huy chương bạc tại các kỳ Liên hoan Truyền hình toàn quốc. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã trao tặng ông thẻ nhà giáo đặc cách để ghi nhận những đóng góp của ông đối với sự nghiệp giáo dục.
Trong suốt quá trình cống hiến cho xã hội, ông Nguyễn Đăng Khoa đã được các cấp, các ngành ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý. Ông đã nhận 15 bằng khen của các cơ quan Trung ương và địa phương, trong đó có các Bằng khen của: Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên giáo Trung ương...
Ngoài ra, ông còn được trao tặng nhiều kỷ niệm chương như: Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam, Vì hạnh phúc người mù, Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng và Bộ đội Trường Sơn. Bên cạnh đó, ông còn đạt nhiều giải thưởng trong các cuộc thi tìm hiểu và hoạt động xã hội như Giải đặc biệt cuộc thi “Tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh” năm 2005, Giải Nhì cuộc thi “Kể chuyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2009, cùng nhiều giải thưởng văn nghệ khác.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ông mất đi ánh sáng đôi mắt, nhưng bằng nghị lực phi thường và tấm lòng nhân ái, ông Khoa vẫn luôn sống một cuộc đời đầy ý nghĩa. Ông không chỉ vượt qua số phận của mình mà còn trở thành nguồn động viên, nguồn cảm hứng cho nhiều người khác. Câu chuyện của ông là minh chứng rõ ràng rằng, con người có thể vượt qua mọi khó khăn nếu có ý chí và niềm tin.
Tấm gương của ông Nguyễn Đăng Khoa đã khắc sâu ý nghĩa lời dạy của Bác Hồ: "Tàn nhưng không phế.” Ông chính là biểu tượng của nghị lực sống, của lòng nhân ái và tinh thần cống hiến không mệt mỏi. Nhìn vào tấm gương ấy, mỗi chúng ta càng thêm trân trọng những người đã hy sinh vì Tổ quốc, đồng thời tự nhắc nhở bản thân phải sống có trách nhiệm hơn, biết yêu thương và sẻ chia với cộng đồng. Những con người như ông đã và đang góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, lan tỏa niềm tin và ánh sáng nghị lực đến mọi người.
Phan Thị Hoa- Hội người mù Nghệ An

Address

139/phố Nguyễn Thái Học/phường Ô Chợ Dừa/TP Hanoi
Quận Ba Đình
100902

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00

Telephone

+842438452060

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội người mù Việt Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Hội người mù Việt Nam:

Share