TAM XUÂN KẾT NỐI

TAM XUÂN KẾT NỐI “Gắn kết Đảng uỷ – Chính quyền – Nhân dân xã Tam Xuân; phát huy sức mạnh đoàn kết, xây dựng địa phương ổn định, phát triển bền vững.”

Chi hội Phụ nữ thôn Phú Trung tuyên truyền phòng, chống ma túy tại chợ Tam Xuân.Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của...
19/08/2026

Chi hội Phụ nữ thôn Phú Trung tuyên truyền phòng, chống ma túy tại chợ Tam Xuân.

Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hội viên phụ nữ và Nhân dân trong công tác phòng, chống ma túy, Chi hội Phụ nữ thôn Phú Trung đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng, chống ma túy cho các tiểu thương đang kinh doanh, buôn bán tại chợ Tam Xuân.

📣 Tại buổi tuyên truyền, Chi hội đã tập trung thông tin những kiến thức cơ bản về ma túy; tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế và hạnh phúc gia đình; đồng thời tuyên truyền, vận động các tiểu thương nâng cao tinh thần cảnh giác, không tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy và chủ động phối hợp với các lực lượng chức năng khi phát hiện những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.

💐 Hoạt động góp phần nâng cao ý thức của các tiểu thương và người dân trong việc phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn ma túy, xây dựng môi trường chợ an toàn, văn minh, lành mạnh; đồng thời phát huy vai trò của phụ nữ trong tuyên truyền, vận động gia đình và cộng đồng cùng chung tay phòng, chống ma túy.

🤝 Mỗi người dân là một tuyên truyền viên – mỗi gia đình là một pháo đài phòng, chống ma túy.

19/08/2026
KHAI MẠC LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2026 Sáng ngày 18/8/2026, Hội đồng Giáo dục quốc ...
19/08/2026

KHAI MẠC LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2026

Sáng ngày 18/8/2026, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh xã Tam Xuân tổ chức khai mạc lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 4 năm 2026.

Đồng chí Phạm Thị Như Quỳnh, Ủy viên B*H Đảng bộ, Phó Chủ tịch UBND xã chủ trì hội nghị; đại diện các ban, ngành, đoàn thể và 50 học viên thuộc đối tượng 4 trên địa bàn xã.

Phát biểu khai mạc lớp học, lãnh đạo Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh xã nhấn mạnh, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng 4 là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, giúp học viên nắm vững những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; nhận thức đúng tình hình, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và những vấn đề đặt ra trong công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Trong thời gian bồi dưỡng, các học viên được nghiên cứu, học tập những nội dung cơ bản về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; công tác phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Thông qua lớp bồi dưỡng, các học viên có điều kiện cập nhật, bổ sung kiến thức, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm và khả năng vận dụng kiến thức quốc phòng, an ninh vào thực tiễn công tác. Đồng thời, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; chủ động tham mưu, phối hợp xử lý hiệu quả các tình huống ngay từ cơ sở, không để bị động, bất ngờ./.

19/08/2026

Từ mùa Thu độc lập năm 1945 đến mùa Thu khát vọng 2045

Cách mạng Tháng Tám với sự hình thành nền ngoại giao Việt Nam và những giá trị cần tiếp tục phát huy trong kỷ nguyên vươ...
19/08/2026

Cách mạng Tháng Tám với sự hình thành nền ngoại giao Việt Nam và những giá trị cần tiếp tục phát huy trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đặt nền móng cho sự ra đời của một quốc gia - dân tộc hiện đại với đầy đủ tư cách pháp lý trong quan hệ quốc tế. Từ một nước thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam trở thành một chủ thể độc lập, có chủ quyền, sẵn sàng tham gia, đóng góp và kiến tạo trật tự quốc tế.
Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 là văn kiện đối ngoại đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại, là cột mốc lịch sử mở đầu cho nền ngoại giao chính nghĩa, tự chủ và nhân văn, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược về quốc tế, vừa đặt nền tảng pháp lý vững chắc cho các bước đi ngoại giao tiếp theo của nước ta.

Trong tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, Chủ tịch Stalin, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc và nhiều tổ chức quốc tế để thông báo sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới, đồng thời đề nghị công nhận nền độc lập.
Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao, một trong những thiết chế đầu tiên được thành lập, đã nhanh chóng triển khai hoạt động đối ngoại ở cả phương diện song phương và đa phương. Nhiều bài viết trên tờ New York Times, L’Humanité, The Times, Pravda... đã góp phần xây dựng hình ảnh một quốc gia mới có chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình và đang nỗ lực khẳng định vị trí trên trường quốc tế.

Qua hơn 80 năm xây dựng và phát triển, nền ngoại giao Việt Nam đã chứng minh sức sống bền bỉ và bản lĩnh chính trị kiên cường.

Những giá trị cốt lõi được hình thành từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được kế thừa, phát triển và thích ứng linh hoạt trong bối cảnh mới.

Một là, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả.

Hai là, phát huy thế mạnh ngoại giao toàn diện, gồm ngoại giao Nhà nước, Đảng, nhân dân, nghị viện, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, khoa học và chuyển đổi số. Ngoại giao Việt Nam đang được tổ chức lại theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đồng bộ và chiến lược, “ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc Việt Nam”.

Ba là, vận dụng tư duy ngoại giao Hồ Chí Minh để thích ứng với những chuyển động nhanh, đa chiều của thế giới hiện đại.

Bốn là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực và tư duy ngoại giao chiến lược, có khả năng tư duy đa phương, toàn cầu và thích ứng số.

TCCS

CÔNG AN XÃ TAM XUÂN: CHUỖI HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VÀ 21 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO V...
19/08/2026

CÔNG AN XÃ TAM XUÂN: CHUỖI HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 81 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VÀ 21 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC

Hướng tới kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 – 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 – 19/8/2026), Công an xã Tam Xuân tổ chức chuỗi hoạt động ý nghĩa, thiết thực, góp phần giáo dục truyền thống và nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở.
1. LỄ KỶ NIỆM TẠI HỘI TRƯỜNG CÔNG AN XÃ TAM XUÂN
Công an xã Tam Xuân tổ chức Lễ kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân và 21 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong không khí trang trọng, ấm áp và đầy tự hào.
Đây là dịp để cán bộ, chiến sĩ cùng ôn lại chặng đường 81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân, qua đó tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, đoàn kết, trách nhiệm, chủ động trong công tác, luôn gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ.
2. DÂNG HƯƠNG, DÂNG HOA TẠI KHU TƯỞNG NIỆM ĐỒNG CHÍ VÕ CHÍ CÔNG
Trong chuỗi hoạt động, cán bộ, chiến sĩ Công an xã Tam Xuân tổ chức dâng hương, dâng hoa tại Khu tưởng niệm đồng chí Võ Chí Công.
Đây là hoạt động thể hiện lòng thành kính, tri ân đối với những đóng góp to lớn của đồng chí Võ Chí Công đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc; đồng thời là dịp để mỗi cán bộ, chiến sĩ nâng cao ý thức trách nhiệm, tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
3. XEM PHIM TƯ LIỆU VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ CHÍ CÔNG
Cán bộ, chiến sĩ Công an xã Tam Xuân được xem phim tư liệu về cuộc đời và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Võ Chí Công.
Những hình ảnh, tư liệu lịch sử không chỉ giúp cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu sắc hơn về truyền thống cách mạng, mà còn góp phần giáo dục lý tưởng, tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt qua khó khăn và bản lĩnh của người cán bộ Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ Nhân dân.
4. KÝ KẾT QUY CHẾ PHỐI HỢP BẢO ĐẢM AN NINH, TRẬT TỰ
Một nội dung quan trọng trong chuỗi hoạt động là ký kết Quy chế phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự tại Di tích quốc gia Khu lưu niệm đồng chí Võ Chí Công và Tháp Khương Mỹ.
Việc ký kết Quy chế phối hợp nhằm tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự; góp phần bảo vệ an toàn các di tích, giữ gìn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa trên địa bàn.
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN TRÁCH NHIỆM HÔM NAY
Chuỗi hoạt động kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân và 21 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc không chỉ là dịp ôn lại truyền thống vẻ vang, mà còn là cơ hội để mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an xã Tam Xuân tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.




TAM XUÂN TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HÈ NĂM 2026Thực hiện chương trình công tác năm 2026, ngày 18/8/2026, Đảng ủy phối h...
18/08/2026

TAM XUÂN TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ HÈ NĂM 2026

Thực hiện chương trình công tác năm 2026, ngày 18/8/2026, Đảng ủy phối hợp với UBND xã Tam Xuân tổ chức lớp bồi dưỡng chính trị hè năm 2026 cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường học trên địa bàn xã.

Lớp bồi dưỡng được tổ chức tại Hội trường UBND xã Tam Xuân, gồm 2 buổi. Buổi sáng bắt đầu lúc 8 giờ 00 phút dành cho các trường Mẫu giáo và Trung học cơ sở; buổi chiều bắt đầu lúc 13 giờ 30 phút dành cho các trường Tiểu học trên địa bàn xã.

Tham dự lớp bồi dưỡng có đại diện Thường trực Đảng ủy, HĐND, lãnh đạo UBND xã; đại diện các cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy, Phòng Văn hóa – Xã hội xã cùng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường học trên địa bàn.

Báo cáo viên lớp bồi dưỡng là thầy Nguyễn Văn Lĩnh, Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị thành phố. Phát biểu khai mạc lớp học, đồng chí Trần Thị Tiến, Phó Trưởng Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã Tam Xuân, nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng chính trị hè đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; đồng thời đề nghị các học viên phát huy tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc học tập, chủ động trao đổi, tiếp thu đầy đủ các nội dung được truyền đạt.

Thông qua lớp bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường học được cập nhật những nội dung quan trọng về chính trị, tư tưởng; các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ giáo dục, công tác chuyên môn trong tình hình mới. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức chính trị, trách nhiệm nghề nghiệp, bản lĩnh và ý thức nêu gương của đội ngũ nhà giáo; tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, kỷ cương, trách nhiệm, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Address

Tam Xuân
Da Nang

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TAM XUÂN KẾT NỐI posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share