06/12/2025
Tôi viết những dòng này như một cuộc trò chuyện gửi tới anh – người vừa đăng một bài rất dài, rất nhiều cảm xúc về nhà văn Bảo Ninh, về “thằng Thần Sầu” ngày nào, về trung đội B chỉ huy, về “thế hệ vàng” sinh viên xếp bút nghiên ra trận.
Đọc những gì anh kể về chiến trường, về đồng đội, về những năm tháng đói rét, sốt rét, nhặt từng mẩu xương của bạn mình giữa bom đạn… tôi tin đó là một phần sự thật rất đẹp và rất đáng trân trọng.
Chính vì tôn trọng trải nghiệm và ký ức của anh, tôi càng thấy cần nói thêm một điều: Chiến tranh không chỉ có một giọng kể, và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh – người bạn mà anh gọi là “Thần Sầu” – là một trong những giọng kể như vậy.
Điều đầu tiên tôi muốn nói: tôi tin anh
Tôi tin những năm tháng hành quân mà anh kể, những đêm đói, rét, sốt rét, ăn củ rừng, rau rừng qua ngày; những lần nhặt từng mẩu xương, mảnh vải, mảnh thịt của đồng đội để gói lại chôn cất cho trọn nghĩa; những biệt danh trong trung đội: Hữu Ễnh ương, Phương Thần Sầu, Dục con Voi, Chương Gù, Thắng Lé… để cười với nhau trước ngày mai vào trận, có người còn người mất.
Tôi tin vào tinh thần lạc quan, không đào ngũ, không đầu hàng, tin chắc mình sẽ thắng mà anh nói. Tôi tin những khát khao rất giản dị của các anh: chiến thắng xong thì “thằng sinh viên được về lại giảng đường, anh công nhân về nhà máy, anh nông dân về đồng ruộng, lấy vợ sinh con, kể lại câu chuyện chiến tranh cho con nghe… một cách trung thực”.
Tôi tin tất cả những điều đó là một phần rất đẹp của sự thật. Và tôi nghĩ: ai nói về chiến tranh mà quên mất phần ánh sáng đó, ai chỉ nhìn người lính như những kẻ vỡ vụn, mất hết niềm tin, thì cũng là nhìn thiếu, nhìn lệch.
Nhưng sự thật của anh… không phải là sự thật duy nhất
Chỗ tôi khác anh không phải ở chỗ: anh sai, Nỗi buồn chiến tranh đúng. Mà là: tôi nghĩ sự thật của anh không phải là sự thật duy nhất về chiến tranh.
Anh và đồng đội trong trung đội ấy vẫn giữ được niềm tin, vẫn nhìn thấy tương lai, vẫn trụ vững được sau tất cả.
Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những người khác:
- Yếu hơn về tâm lý,
- Nặng hơn về tổn thương tinh thần,
- Mang trong đầu những tiếng vọng không dứt, dù chiến tranh đã kết thúc trên bản đồ.
Nỗi buồn chiến tranh chọn viết về lát cắt đó.
Nó không viết thay anh. Nó không phủ nhận trải nghiệm của anh. Nó chỉ nói: ngoài những người như anh – vẫn đứng vững, vẫn tin, vẫn lạc quan – còn có những người như Kiên, như những nhân vật trong sách, phải sống tiếp với một cuộc chiến khác: cuộc chiến trong đầu mình.
Nếu mình tin chiến tranh chỉ có một màu – màu ý chí, màu chiến thắng – thì tất nhiên, mọi lát cắt còn lại đều dễ bị gọi là “bịa đặt, xuyên tạc, sai sự thật”.
Đời tư và tác phẩm: hai câu chuyện nên tách riêng
Anh kể rất nhiều chuyện riêng của Bảo Ninh/Hoàng Ấu Phương: chuyện gia đình, dòng tộc; chuyện cơ quan, nội bộ, kỷ luật; chuyện anh ấy xa cách đồng đội sau chiến tranh.
Tôi không phủ nhận, cũng không khẳng định.
Đơn giản là: tôi không có mặt ở đó. Tôi không biết hết.
Thế hệ sinh ra khi đất nước gần thống nhất như tôi, nghe lại những chuyện nội bộ của các anh qua lời kể của một phía, nếu vội vàng kết luận: “Người đó xấu → sách người đó viết ra chắc chắn xấu”thì e là mình đang biến một cuộc tranh luận văn học thành một vụ… xét hồ sơ cán bộ.
Ở chiều ngược lại, nếu dùng: “Anh từng là đại đội phó, từng nhặt xương, từng chịu đựng bom đạn nên anh nói gì về văn chương cũng đúng hơn người khác”thì cũng vậy: mình đang đánh đồng trải nghiệm chiến trường với năng lực đọc – hiểu – đánh giá tác phẩm.
Tôi tôn trọng con người anh, tôn trọng con người Bảo Ninh, nhưng khi nói đến Nỗi buồn chiến tranh, tôi muốn nói về văn bản cuốn sách, trước khi nói về hồ sơ của bất kỳ ai.
Thực tế chiến tranh không như tiểu thuyết mang gam màu tươi sáng – tôi đồng ý
Anh nói: “Thực tế chiến tranh nó không như tiểu thuyết hay thơ ca, bài hát mang gam màu hoàn toàn tươi sáng của ai đó không thực chiến… Nó gian khổ, ác liệt và có cả chết chóc, đầu rơi, máu chảy…”
Tôi gật đầu. Nhiều năm, văn học chiến tranh của ta mang một nhiệm vụ rất rõ:
- Động viên,
- Cổ vũ,
- Tuyên truyền,
- Làm điểm tựa tinh thần cho người đang cầm súng.
Chức năng đó không hề xấu. Nó là nhu cầu của một thời. Nhưng chính anh cũng đã nói: thực tế không hoàn toàn tươi sáng.
Nơi đó:
- Có xác không nguyên vẹn,
- Có đói rét, sốt rét,
- Có lo âu, sợ hãi, dù người lính quyết định không để nỗi sợ điều khiển mình.
Nếu văn học mãi mãi chỉ cho phép:
- Lạc quan, vững vàng,
- Không được sợ, không được hoảng, không được ám ảnh, thì những vùng tối kia ai kể?
Anh đặt câu hỏi: “Tại sao tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh lại được phương Tây săn đón, trao giải?”
Một phần lý do, theo tôi, là:
- Họ đã đi qua giai đoạn chỉ viết anh hùng ca từ lâu.
- Họ nhìn chiến tranh bằng cả niềm tin lẫn vết thương.
Còn mình, nhiều khi vẫn đang ở chỗ:
- Ai viết đẹp, sạch, sáng → đúng.
- Ai viết buồn, tối, ám ảnh → nghi ngờ, quy chụp.
Hư cấu tới đâu là “bịa đặt”?
Anh nói: “Bảo Ninh viết về chính nó, chính tôi, chính chúng tôi… nhưng rất nhiều sự việc bịa đặt, sai sự thật đến mức không thể chấp nhận. Đành rằng văn học có hư cấu nhưng hư cấu như vậy thì… khó đồng tình.”
Tôi hiểu phản ứng ấy.
Khi một người bạn, một người cùng trận tuyến viết một cuốn tiểu thuyết mà mình đọc thấy: “Ủa, ngày xưa mình đâu có như thế này đâu?”thì phản xạ đầu tiên là: “Nó bịa”.
Nhưng tiểu thuyết không phải nhật ký, cũng không phải báo cáo chiến công. Nó có quyền:
- Gộp nhiều con người lại thành một nhân vật,
- Gộp nhiều sự kiện lại thành một chuỗi,
- Phóng đại, đẩy đến tận cùng một trạng thái tâm lý.
Mục đích không phải là làm hồ sơ trung đội B chỉ huy, mà là chạm vào bản chất chấn thương tinh thần mà chiến tranh để lại lên một nhóm người – dù nhóm đó chiếm 10% hay 50% trong tổng số người lính – ta không thống kê được.
Anh nói: “Những ai không qua chiến trận thì có thể có nỗi buồn, bi lụy, ủy mị, mất niềm tin…”Thế hệ chúng tôi nghe câu đó hơi chua một chút.
Bởi vì:
- Rất nhiều người trẻ đọc Nỗi buồn chiến tranh không phải để bi lụy, mà để hiểu chiến tranh thật hơn, ít tô màu hơn.
- Họ không “mất niềm tin vào Tổ quốc”, mà chỉ bớt tin vào những câu chuyện một chiều, chỉ có thắng và sáng.
Vì sao lớp trẻ vẫn đọc Nỗi buồn chiến tranh?
Anh hỏi: “Tại sao không ít lớp trẻ sinh ra sau 1975 lại thích đọc Nỗi buồn chiến tranh?”
Cho tôi trả lời câu hỏi đó:
- Vì chúng tôi yêu hòa bình, nên chúng tôi cần hiểu chiến tranh, không chỉ qua khẩu hiệu, mà qua vết sẹo thật trên thân và trong đầu những người đi qua nó.
- Vì chúng tôi không tin con người là một bức tượng, chúng tôi tin con người là những cá thể vừa mạnh mẽ, vừa yếu đuối, vừa sáng, vừa tối.
- Vì chúng tôi muốn hiểu tại sao, sau chiến thắng, vẫn có những người không trở về trọn vẹn, và điều đó không làm họ bớt xứng đáng được tôn trọng.
Đọc Nỗi buồn chiến tranh, với tôi: Không làm hình ảnh người lính thấp đi. Ngược lại, nó làm tôi thấy thế hệ cầm súng càng đáng trân trọng, đáng nể hơn.
Vì ngoài cái chết trước mặt, họ còn phải sống tiếp với những điều mà không phải ai cũng vượt qua được như anh.
Chiến tranh cần nhiều giọng nói
Tôi không mong anh thích Nỗi buồn chiến tranh.
Tôi chấp nhận việc anh không chấp nhận cuốn sách ấy.
Tôi chỉ mong:
- Giọng kể của anh – giọng kể lạc quan, tin tưởng, “chúng tôi đã sống như thế, chiến đấu như thế” – được giữ lại, được in, được truyền cho con cháu.
- Giọng kể của Nỗi buồn chiến tranh – giọng kể ám ảnh, day dứt, “chúng tôi cũng đã vỡ vụn như thế” – cũng được tồn tại, được đọc, được tranh luận, xứng đáng được vinh danh.
Một dân tộc có ký ức trưởng thành không phải là dân tộc:
- Chỉ giữ lại những câu chuyện sáng đẹp,
- Còn những ký ức khác thì bắt im lặng.
Một dân tộc trưởng thành là dân tộc:
- Dám để cho nhiều ký ức cùng tồn tại cạnh nhau,
- Chấp nhận rằng chiến tranh trong mắt anh trinh sát lạc quan sẽ khác chiến tranh trong mắt một người lính mang sang chấn – và cả hai đều là thật.
Gửi anh GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn!
Tôi biết: viết ra những điều không hay, cái dở của một người từng là bạn, là đồng đội, không hề dễ.
Ở đoạn cuối, anh vẫn gọi Bảo Ninh là “thằng Thần Sầu”, vẫn nhớ dáng người lẻo khẻo, áo sũng mồ hôi, vẫn nhớ những câu thơ cậu ấy đọc trong hang đá Chà Lỳ…
Tôi cảm nhận rất rõ: anh giận, nhưng anh vẫn thương.
Ở phía người đọc như tôi, tôi không có quyền phán xét mối quan hệ giữa anh và Bảo Ninh.
Tôi chỉ xin giữ cho mình một quyền nhỏ:
- Quyền được đọc Nỗi buồn chiến tranh như một tác phẩm văn học.
- Quyền được coi đó là một trong nhiều giọng nói về chiến tranh, đứng bên cạnh – chứ không đứng “chống lại” – những giọng kể như của anh.
- Và quyền được nói với thế hệ sau rằng: Nếu muốn hiểu chiến tranh, hãy đọc cả những trang sáng lẫn những trang buồn. Hãy nghe cả tiếng cười của các anh ngoài mặt trận, lẫn tiếng thở dài của những người không bao giờ thoát ra khỏi chiến tranh trong đầu họ.
✍️M.Tran