Đoàn cơ sở Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ

Đoàn cơ sở Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ Thành lập tháng 2/2008 với 19 đoàn viên.

Ngày 26/2/2013 nâng lên ĐCS BV Ung bướu TPCT với 6 chi đoàn và tính đến nay số lượng Đoàn viên đã hơn 150 ĐV.
⛳️Khẩu hiệu hành động: "TUỔI TRẺ BV UNG BƯỚU TIÊN PHONG - ĐOÀN KẾT - ĐỔI MỚI - HỘI NHẬP KỶ NGUYÊN SỐ"

25/08/2026

Lễ tổng kết "đập heo đất" chiến dịch 40 ngày tiết kiệm vì đàn em thân yêu 2026




"NUÔI HEO ĐẤT" 🐖 GÓP YÊU THƯƠNG 💞 TRAO ĐIỀU Ý NGHĨA🌻Thực hiện Kế hoạch số 43 của BTV Đoàn Ủy ban nhân dân TP. Cần Thơ về...
24/08/2026

"NUÔI HEO ĐẤT" 🐖 GÓP YÊU THƯƠNG 💞 TRAO ĐIỀU Ý NGHĨA
🌻Thực hiện Kế hoạch số 43 của BTV Đoàn Ủy ban nhân dân TP. Cần Thơ về phát động chiến dịch 40 ngày tiết kiệm Vì đàn em thân yêu.
🌻 Từ ngày 13/7/2026 đến ngày 23/8/2026, Đoàn cơ sở Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ đã kêu gọi vận động được sự ủng hộ, đóng góp của toàn thể Đoàn viên các chi đoàn với tổng số tiền nuôi heo đất là 5 triệu 220 ngàn đồng.
🎉 Buổi lễ tổng kết "đập heo đất" được tổ chức trong không khí vui tươi, gần gũi nhưng không thiếu phần trang trọng với sự góp mặt của 2 Ủy viên B*H Đảng ủy Bệnh viện gồm đồng chí Huỳnh Minh Thiện và đồng chí La Thị Thùy Vân, cùng đại diện B*H Đoàn cơ sở và các chi đoàn. Đảng ủy và Ban Giám đốc bệnh viện luôn dành sự tin tưởng, ủng hộ và động viên các hoạt động phong trào của ĐTN, đặc biệt là các hoạt động hướng đến cộng đồng, an sinh xã hội, và đó cũng là động lực để ĐTN luôn cố gắng nhiệt huyết, cống hiến hết mình để luôn xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng🇻🇳.
💌 Dự kiến tổng số tiền vận động được sẽ được chuẩn bị các phần quà thiết thực dành tặng đến các bệnh nhi mắc bệnh ung thư và bệnh hiểm nghèo nhân dịp Trung thu sắp tới. Một lần nữa xin tri ân và ghi nhận những đóng góp của toàn thể các đoàn viên thanh niên bệnh viện 🩷.
📝Tin, bài: ĐCS Bệnh viện Ung bướu TPCT.


17/08/2026
17/08/2026

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số: Không chỉ giữ vững chân lý, mà phải dẫn dắt chân lý

Tác giả: Trung tướng NGUYỄN ĐỨC HƯNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Chính ủy Quân khu 3; Thiếu tướng NGUYỄN NAM TIẾN, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 3

Trong môi trường kỷ nguyên số, các thế lực thù địch, phản động ngày càng sử dụng những phương thức chống phá tinh vi, từ xuyên tạc trực diện đến pha trộn thông tin thật-giả, khai thác những vấn đề nhạy cảm tác động vào nhận thức, tâm lý nhằm gây hoài nghi, dao động, từng bước làm suy giảm niềm tin trong xã hội. Những tác động đó đặt ra yêu cầu mới đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Cùng với kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phải chủ động định hướng nhận thức, dẫn dắt dư luận, lan tỏa những giá trị tích cực, qua đó củng cố niềm tin và tăng sức đề kháng tư tưởng trong xã hội.

Chủ quyền tư tưởng trong không gian số

Đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đại hội XIV của Đảng xác định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới là nền tảng tư tưởng. Đây là sự phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong điều kiện mới. Cùng với sự phát triển đó, môi trường tồn tại và vận động của công tác tư tưởng cũng đang có những biến đổi sâu sắc. Không gian mạng ngày càng trở thành một môi trường quan trọng tác động đến quá trình hình thành nhận thức xã hội; thông tin được tạo lập và lan truyền với tốc độ rất nhanh, đa chiều, khó kiểm soát. Trong môi trường ấy, các giá trị tư tưởng không còn được tiếp nhận chủ yếu theo phương thức truyền dẫn một chiều mà thường xuyên tương tác, va đập và cạnh tranh gay gắt với nhiều luồng thông tin, quan điểm và hệ giá trị khác nhau.

Điều đó làm thay đổi căn bản cách thức tác động của công tác tư tưởng. Nếu trước đây, việc “truyền đạt đúng” có thể đủ để định hướng nhận thức thì nay cần phải “dẫn dắt trúng” (trúng vấn đề, trúng đối tượng, trúng thời điểm và trúng phương thức). Công tác tư tưởng vì thế chuyển từ trạng thái tĩnh sang động, từ định hướng một chiều sang tương tác đa chiều, từ kiểm soát thông tin sang cạnh tranh và dẫn dắt thông tin.

Trong bối cảnh đó, có thể nhận diện rõ hơn một dạng thức quyền lực mới-quyền lực dẫn dắt nhận thức xã hội. Nếu quyền lực chính trị truyền thống gắn với tổ chức và thiết chế thì trong kỷ nguyên số, quyền lực tư tưởng còn gắn với khả năng chi phối dòng chảy thông tin. Ai chiếm lĩnh được không gian thông tin, người đó có khả năng định hình niềm tin, xây dựng nền tảng tư tưởng xã hội.

Từ góc độ đó, khái niệm “chủ quyền tư tưởng trên không gian số” cần được nhìn nhận như một yêu cầu khách quan. Đây là khả năng giữ vai trò chủ đạo trong định hướng nhận thức, dẫn dắt hệ giá trị và củng cố niềm tin xã hội. Nếu không giữ được quyền chủ động này thì về thực chất là suy giảm một dạng thức chủ quyền trong điều kiện mới.

Chính trong môi trường đó, các thế lực thù địch đã thay đổi phương thức chống phá, chuyển từ tuyên truyền trực diện sang “xâm nhập nhận thức”, sử dụng thông tin pha trộn thật-giả, khai thác những vấn đề nhạy cảm để dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực. Âm mưu “phi chính trị hóa Quân đội” của các thế lực thù địch nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; làm suy giảm bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ; từ đó làm suy yếu vai trò nòng cốt của Quân đội trong bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tiến tới làm mất ổn định chính trị-xã hội và thay đổi chế độ ở Việt Nam.

Cùng với đó là nguy cơ “xói mòn niềm tin” từ bên trong. Trong điều kiện bùng nổ thông tin, nếu thiếu bản lĩnh chính trị và năng lực phân tích, một bộ phận cán bộ, đảng viên có thể bị tác động bởi các luồng thông tin sai lệch. Sự chuyển biến này thường diễn ra âm thầm, từ hoài nghi đến dao động, từ dao động đến lệch lạc.

Những vấn đề đó cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số không chỉ là kiên định, giữ vững những giá trị cốt lõi, đồng thời vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo trong thực tiễn, quan trọng hơn là phải chủ động dẫn dắt nhận thức, định hướng dư luận, làm cho những giá trị tiến bộ, nhân văn trở thành dòng chảy chủ đạo trong đời sống xã hội và trên không gian số.

Từ thực tiễn Quân khu 3: Khi lý luận được kiểm chứng và lan tỏa bằng hành động

Quân khu 3 là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, mật độ dân cư cao, kinh tế-xã hội phát triển năng động, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh, trật tự và tư tưởng xã hội. Trong bối cảnh đó, công tác tư tưởng không thể chỉ dừng ở tuyên truyền, giáo dục mà phải gắn chặt với thực tiễn đời sống của bộ đội và nhân dân.

Trong đấu tranh trên không gian mạng, từ Ban chỉ đạo 35 Đảng ủy Quân khu đến các đơn vị đã từng bước chuyển từ bị động sang chủ động. Nếu trước đây chủ yếu là phát hiện và phản bác thông tin sai trái thì nay đã chú trọng hơn đến việc tạo lập và lan tỏa thông tin tích cực, cung cấp thông tin chính thống kịp thời, góp phần định hướng dư luận ngay từ đầu. Đây là bước chuyển có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự thay đổi về tư duy từ “phản ứng” sang “dẫn dắt”. Những năm qua, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở Quân khu 3 luôn nhất quán quan điểm đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của cấp ủy các cấp; sự điều hành của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy; sự tham mưu, hướng dẫn và tổ chức thực hiện của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị; sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể; đồng thời phát huy hiệu quả vai trò của lực lượng nòng cốt ở từng cơ quan, đơn vị. Từ sự kiên định với chủ trương trên, trong suốt nhiều năm qua, Quân khu 3 đã tạo nên cơ chế vận hành đồng bộ, xuyên suốt, bảo đảm thống nhất ý chí và hành động, nâng cao tính chủ động, kịp thời và hiệu quả trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái; qua đó giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi tình huống.

Cùng với đó, công tác giáo dục chính trị được đổi mới theo hướng tăng tính đối thoại, gắn với thực tiễn. Thông qua các diễn đàn dân chủ, sinh hoạt chuyên đề, cán bộ, chiến sĩ không chỉ tiếp thu mà còn có khả năng tự phân tích, tự lý giải, nâng cao năng lực “tự miễn dịch” trước các thông tin sai lệch. Đặc biệt, thông qua mô hình “Giờ vàng internet” với hình thức mỗi cơ quan, đơn vị dành từ 3 đến 5 phút sau giờ đọc báo để chia sẻ, bình luận các tin, bài trên các trang, nhóm mạng xã hội do Quân khu quản lý, góp phần huy động được nhiều lực lượng tham gia nhằm lan tỏa những giá trị tích cực, kịp thời ngăn chặn, định hướng dư luận trước những thông tin bịa đặt, phản động của các thế lực thù địch.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các nền tảng số trong tuyên truyền, giáo dục chính trị được đẩy mạnh, góp phần làm cho nội dung giáo dục trở nên sinh động, phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của thế hệ trẻ. Đến nay, 100% cán bộ chính trị, cán bộ tham gia giảng dạy chính trị ở Quân khu 3 đều có đủ khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền tải nội dung giáo dục. Thông qua đó, công tác giáo dục chính trị không chỉ tăng tính hấp dẫn mà còn góp phần quan trọng để cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, biết phân biệt thật-giả, đúng-sai, tạo được sự đồng thuận cao trong nhận thức và hành động.

Một trong những yếu tố có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất chính là từ thực tiễn hoạt động của bộ đội. Trong phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, phòng chống dịch bệnh và tham gia phát triển kinh tế-xã hội, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 3 luôn có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất. Chính những hành động cụ thể đó đã tạo nên niềm tin, củng cố sự gắn bó máu thịt giữa quân với dân, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong xã hội. Những giá trị được khẳng định từ thực tiễn đã trở thành những “lập luận sống động”, góp phần phản bác hiệu quả các luận điệu sai trái. Thực tiễn đó khẳng định, “thế trận lòng dân” không chỉ là nền tảng của quốc phòng toàn dân mà còn là lá chắn tư tưởng vững chắc nhất. Khi niềm tin được củng cố bằng hành động cụ thể thì mọi thông tin sai trái sẽ khó có thể tác động sâu rộng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đặt ra những yêu cầu mới. Trong điều kiện cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt, nếu thông tin chính thống chậm, thiếu hấp dẫn thì khó có thể giữ vai trò dẫn dắt. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp, tính kịp thời và sức lan tỏa của công tác tư tưởng. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với việc xây dựng sức mạnh mềm tư tưởng. Đây là khả năng lan tỏa, thuyết phục và định hướng nhận thức xã hội thông qua hệ giá trị và thực tiễn sống động.

Để làm được điều đó, trước hết, Đảng ủy, Bộ tư lệnh và cấp ủy, chỉ huy các cấp của Quân khu 3 tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục chính trị theo hướng phát triển năng lực tư duy, giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng có khả năng phân tích, phản biện và sàng lọc thông tin. Cùng với đó, Quân khu tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng lực lượng đấu tranh trên không gian mạng theo hướng không chỉ phản ứng nhanh, kịp thời, đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng mà còn phải chủ động dẫn dắt, định hướng dư luận và tổ chức hành động.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái thông tin chính thống đủ mạnh để chiếm lĩnh không gian mạng. Theo đó, Quân khu tiếp tục đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền trên Báo Quân khu 3; phát huy ưu thế tuyệt đối của các trang mạng, các nhóm mạng xã hội do Quân khu quản lý và hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt tại từng cơ quan, đơn vị, địa phương; nâng cao chất lượng trong thực hiện các mô hình, như: “Giờ vàng internet”, trang “Vững tin theo Đảng”, “Đất và người Quân khu 3, “Văn minh sông Hồng”...

Đặc biệt, Quân khu đã tập trung làm tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng bản lĩnh chính trị, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì lợi ích quốc gia-dân tộc, vì lợi ích nhân dân trong mỗi cán bộ, chiến sĩ; đồng thời đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; lan tỏa giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong mỗi cán bộ, chiến sĩ thông qua hoạt động thực tiễn hằng ngày. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn với công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Khi đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu, thống nhất giữa lời nói và hành động thì đó chính là yếu tố có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất.

Có thể khẳng định, trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là giữ vững chân lý, mà là giữ vững quyền dẫn dắt chân lý trong xã hội. Kiên định không phải là bất biến, mà là giữ vững cái cốt lõi trong sự vận động không ngừng. Phát triển sáng tạo không phải là thay đổi tùy tiện, mà là làm cho những giá trị cốt lõi thích ứng với điều kiện mới, có sức sống mới.

Thực tiễn từ Quân khu 3 cho thấy, khi lý luận được vận dụng sáng tạo, gắn chặt với thực tiễn và phương thức được đổi mới phù hợp thì nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được bảo vệ vững chắc mà còn trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, góp phần bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" trong điều kiện mới.

Báo QĐND

Ảnh minh họa: daidoanket.vn


Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup k...
17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tếNghị quyết số 79-NQ/TW...
17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế
Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.
Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.
Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.
Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.
Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.
Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực
Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.
Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.
Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.
Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.
Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.





Address

Bệnh Viện Ung Bướu Thành Phố Cần Thơ, Số 4, Châu Văn Liêm, P. Ninh Kiều
Can Tho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đoàn cơ sở Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share