Liên Chi Hội Sinh Viên Vĩnh Long - CTUMP

Liên Chi Hội Sinh Viên Vĩnh Long  - CTUMP Liên Chi hội Sinh Viên Vĩnh Long - CTUMP là cầu nối giữa sinh viên trường Đại học Y dược Cần Thơ với tỉnh nhà Vĩnh Long

Hoa Kỳ tích cực hỗ trợ Việt Nam trong việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩTác giả: QUANG HUYTiếp tục các hoạt động tr...
17/08/2026

Hoa Kỳ tích cực hỗ trợ Việt Nam trong việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
Tác giả: QUANG HUY
Tiếp tục các hoạt động trong khuôn khổ chuyến công tác tại Hoa Kỳ, ngày 14-8 (giờ địa phương), Đoàn công tác Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ do Thượng tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo làm trưởng đoàn, đã có buổi làm việc với Cơ quan Kiểm kê Tù binh và Người mất tích (DPAA) thuộc Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo đoàn công tác và đại diện DPAA đã rà soát kết quả phối hợp trong công tác tìm kiếm quân nhân mất tích sau chiến tranh giữa hai nước. Hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA) là hoạt động nhân đạo được triển khai sớm nhất, trải qua nhiều thập kỷ với hàng trăm đợt hoạt động hỗn hợp thực địa. Tinh thần hợp tác trách nhiệm, thiện chí của Việt Nam đã giúp hồi hương nhiều hài cốt quân nhân Hoa Kỳ, tạo nền tảng chính trị quan trọng thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển.
Nhân dịp này, Đoàn công tác đề nghị các cơ quan chức năng Hoa Kỳ đẩy nhanh tiến độ giải mật và chuyển giao toàn diện nhất có thể các hồ sơ, tài liệu liên quan; tích cực vận động các cựu binh Hoa Kỳ cung cấp thêm thông tin về khu vực chôn cất bộ đội Việt Nam.
Đoàn cũng đề nghị DPAA tăng cường chia sẻ quy trình kỹ thuật, chuyển giao giải pháp tổng thể, đa ngành, hiện đại về tách chiết ADN và giải trình tự gene thế hệ mới; hỗ trợ trang thiết bị, sinh phẩm xét nghiệm và mở các chương trình tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ chuyên môn của Việt Nam.
Với hệ thống thiết bị hiện đại, nhân lực trình độ cao và quy trình tiên tiến, thời gian trung bình để cho kết quả xác định danh tính chính xác do DPAA thực hiện là khoảng 2 năm. Do đó, với khối lượng công việc khổng lồ như của Việt Nam hiện nay, lãnh đạo DPAA cho rằng đây là một thách thức rất lớn. Vì vậy, các cơ quan chức năng của Hoa Kỳ coi việc hỗ trợ Việt Nam trong tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là trách nhiệm đạo lý, là ưu tiên hàng đầu và sẽ nỗ lực hỗ trợ Việt Nam trong phạm vi lớn nhất có thể, đặc biệt trong những lĩnh vực có thế mạnh và Việt Nam đang cần thiết nhất lúc này.
Cuộc làm việc của Đoàn công tác tại Hoa Kỳ đã đạt được nhiều đồng thuận quan trọng, mở ra nội dung hợp tác mới trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh; đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; góp phần xoa dịu nỗi đau chiến tranh của các gia đình; tiếp tục củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Báo QĐND

Tạo xung lực mới nâng tầm quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New ZealandTác giả: ĐOÀN CA (lược ghi)Tổng Bí thư, Chủ ...
17/08/2026

Tạo xung lực mới nâng tầm quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand
Tác giả: ĐOÀN CA (lược ghi)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa kết thúc thành công chuyến thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand. Nhân dịp này, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến thăm. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Phóng viên (PV): Đề nghị Bộ trưởng cho biết những kết quả nổi bật của chuyến thăm?
Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14-8. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới, diễn ra vào thời điểm quan trọng trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Australia và Việt Nam-New Zealand đều đã được nâng lên đối tác chiến lược toàn diện và đang phát triển hết sức mạnh mẽ. Chuyến thăm khẳng định sự coi trọng cao của Đảng và Nhà nước ta đối với hai đối tác quan trọng này, đồng thời tạo xung lực đưa các khuôn khổ quan hệ mới đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả theo hướng đồng hành, đồng hợp tác, đồng kiến tạo.
Chuyến thăm đã thành công rất tốt đẹp với các mục tiêu đề ra đạt được ở mức cao. Điểm nổi bật trước hết là chuyến thăm đã củng cố mạnh mẽ tin cậy chính trị và tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ với cả Australia và New Zealand. Bên cạnh chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, lãnh đạo Việt Nam và hai nước cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Những đề xuất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những động lực mới trong quan hệ đều được lãnh đạo hai nước nhất trí rất cao, đó là khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), giáo dục-đào tạo, nguồn nhân lực, thương mại, đầu tư và chuyển đổi xanh, khoáng sản thiết yếu, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển, góp phần mở rộng không gian chiến lược, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước và đưa quan hệ Việt Nam với Australia, New Zealand bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn, tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau.
Những kết quả nổi bật của chuyến thăm cũng đã gắn kết chặt chẽ hơn hợp tác đối ngoại với các yêu cầu phát triển của đất nước. Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, KHCN, ĐMST, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đây cũng là những lĩnh vực Australia, New Zealand có thế mạnh và khả năng bổ trợ cao. Với Australia, hai bên thúc đẩy hợp tác về trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, chuyển đổi năng lượng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Với New Zealand, điểm nhấn là phát huy mạnh hơn tính bổ trợ và những thế mạnh có tính nền tảng, nhất là giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển bền vững.
Một kết quả quan trọng xuyên suốt chuyến thăm là hợp tác kinh tế được đặt trong một tầm nhìn mới, không chỉ mở rộng thương mại, đầu tư mà còn tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và khai thác tốt hơn tính bổ trợ giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí khuyến khích doanh nghiệp mỗi bên tăng cường hợp tác, đầu tư vào nhau, nhất là trong các ngành, lĩnh vực mới phù hợp với điều kiện mỗi bên, qua đó góp phần mở rộng không gian kinh tế và chiến lược của Việt Nam tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành sự quan tâm đặc biệt tới cộng đồng người Việt Nam tại Australia và New Zealand, nhất là đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với đại diện cộng đồng, qua đó khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.
Có thể khẳng định, chuyến thăm đã tạo được cả “độ sâu” về chính trị và “độ mở” về hợp tác. Chuyến thăm là một dấu ấn đối ngoại quan trọng, góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng, khẳng định chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa nhất quán của Việt Nam, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, mở rộng không gian hợp tác và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực.
PV: Đề nghị Bộ trưởng cho biết thời gian tới, chúng ta sẽ làm gì để phát huy các kết quả đã đạt được trong chuyến thăm?
Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Về chính trị, ngoại giao, trong giai đoạn phát triển mới của mỗi bên, các nhà lãnh đạo đều khẳng định sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Australia, New Zealand, qua đó tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ. Chính vì vậy, trong thời gian tới, hai bên sẽ đẩy mạnh các trao đổi cấp cao và các cấp, trên cả các kênh Đảng, Quốc hội, qua đó mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ song phương. Phía Australia và New Zealand bày tỏ mong muốn tìm hiểu, trao đổi kinh nghiệm về quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế của Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt là vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc ban hành các chính sách pháp luật. Lãnh đạo Quốc hội hai nước cũng đánh giá cao vai trò của Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.
Qua chuyến thăm cấp nhà nước đến Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 62 văn kiện, thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, trong đó có 3 tuyên bố chung quan trọng giữa Việt Nam và Australia về làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế, tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, tạo thêm những định hướng chiến lược và khuôn khổ hợp tác thiết thực cho giai đoạn mới. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam cùng một nước đối tác ra tuyên bố chung về tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, mở ra mô hình mới về khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đặc biệt là theo hướng không chỉ hợp tác mà còn kết nối, bổ sung cho nhau, đồng hành, kiến tạo, tạo các động lực mới; nâng từ chuyển giao sang hợp tác, đồng phát triển KHCN, ĐMST, khai thác khoáng sản hiếm, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao để phục vụ nhu cầu phát triển của mỗi nước. Ngay trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo sát sao việc triển khai các kết quả đạt được. Các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển nhanh các cam kết thành hành động, khai thác tối đa dư địa và thế mạnh bổ trợ của mỗi bên.
Với Australia, cần nhanh chóng đưa các định hướng mới về KHCN, ĐMST, AI, bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, năng lượng và chuyển đổi xanh vào các chương trình, dự án cụ thể; tăng cường liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, chuyển từ hợp tác tiếp nhận sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển, cùng tạo giá trị. Đồng thời, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về thương mại, đầu tư, kết nối thị trường, logistics và chuỗi cung ứng, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các dự án cụ thể.
Với New Zealand, cần khai thác mạnh hơn tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, tập trung vào giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao, mở cửa thị trường nông sản, KHCN, ĐMST, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững; tăng cường kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường và thúc đẩy các dự án có giá trị gia tăng cao.
Trên bình diện đa phương, Việt Nam cũng sẽ đẩy mạnh tham vấn chiến lược, phối hợp chính sách với Australia và New Zealand ở cấp cao và các cấp, cũng như tại ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và các diễn đàn khu vực, quốc tế; cùng thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, tôn trọng luật pháp quốc tế và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.
PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!
Báo QĐND
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung. Ảnh: TRÀ NGUYỄN







Tạo xung lực mới nâng tầm quan hệ giữa Việt Nam với Australia và New Zealand

Tác giả: ĐOÀN CA (lược ghi)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa kết thúc thành công chuyến thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand. Nhân dịp này, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về kết quả chuyến thăm. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Phóng viên (PV): Đề nghị Bộ trưởng cho biết những kết quả nổi bật của chuyến thăm?

Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 đến 14-8. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới, diễn ra vào thời điểm quan trọng trong bối cảnh quan hệ Việt Nam-Australia và Việt Nam-New Zealand đều đã được nâng lên đối tác chiến lược toàn diện và đang phát triển hết sức mạnh mẽ. Chuyến thăm khẳng định sự coi trọng cao của Đảng và Nhà nước ta đối với hai đối tác quan trọng này, đồng thời tạo xung lực đưa các khuôn khổ quan hệ mới đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả theo hướng đồng hành, đồng hợp tác, đồng kiến tạo.

Chuyến thăm đã thành công rất tốt đẹp với các mục tiêu đề ra đạt được ở mức cao. Điểm nổi bật trước hết là chuyến thăm đã củng cố mạnh mẽ tin cậy chính trị và tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ với cả Australia và New Zealand. Bên cạnh chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, lãnh đạo Việt Nam và hai nước cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Những đề xuất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những động lực mới trong quan hệ đều được lãnh đạo hai nước nhất trí rất cao, đó là khoa học-công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST), giáo dục-đào tạo, nguồn nhân lực, thương mại, đầu tư và chuyển đổi xanh, khoáng sản thiết yếu, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển, góp phần mở rộng không gian chiến lược, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước và đưa quan hệ Việt Nam với Australia, New Zealand bước vào giai đoạn phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn, tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau.

Những kết quả nổi bật của chuyến thăm cũng đã gắn kết chặt chẽ hơn hợp tác đối ngoại với các yêu cầu phát triển của đất nước. Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, KHCN, ĐMST, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đây cũng là những lĩnh vực Australia, New Zealand có thế mạnh và khả năng bổ trợ cao. Với Australia, hai bên thúc đẩy hợp tác về trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, chuyển đổi năng lượng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Với New Zealand, điểm nhấn là phát huy mạnh hơn tính bổ trợ và những thế mạnh có tính nền tảng, nhất là giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao và phát triển bền vững.

Một kết quả quan trọng xuyên suốt chuyến thăm là hợp tác kinh tế được đặt trong một tầm nhìn mới, không chỉ mở rộng thương mại, đầu tư mà còn tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và khai thác tốt hơn tính bổ trợ giữa các nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các nhà lãnh đạo hai nước nhất trí khuyến khích doanh nghiệp mỗi bên tăng cường hợp tác, đầu tư vào nhau, nhất là trong các ngành, lĩnh vực mới phù hợp với điều kiện mỗi bên, qua đó góp phần mở rộng không gian kinh tế và chiến lược của Việt Nam tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành sự quan tâm đặc biệt tới cộng đồng người Việt Nam tại Australia và New Zealand, nhất là đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với đại diện cộng đồng, qua đó khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước.

Có thể khẳng định, chuyến thăm đã tạo được cả “độ sâu” về chính trị và “độ mở” về hợp tác. Chuyến thăm là một dấu ấn đối ngoại quan trọng, góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng, khẳng định chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa nhất quán của Việt Nam, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, mở rộng không gian hợp tác và nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực.

PV: Đề nghị Bộ trưởng cho biết thời gian tới, chúng ta sẽ làm gì để phát huy các kết quả đã đạt được trong chuyến thăm?

Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Về chính trị, ngoại giao, trong giai đoạn phát triển mới của mỗi bên, các nhà lãnh đạo đều khẳng định sự tin cậy chính trị giữa Việt Nam và Australia, New Zealand, qua đó tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ. Chính vì vậy, trong thời gian tới, hai bên sẽ đẩy mạnh các trao đổi cấp cao và các cấp, trên cả các kênh Đảng, Quốc hội, qua đó mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ song phương. Phía Australia và New Zealand bày tỏ mong muốn tìm hiểu, trao đổi kinh nghiệm về quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế của Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước, đặc biệt là vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc ban hành các chính sách pháp luật. Lãnh đạo Quốc hội hai nước cũng đánh giá cao vai trò của Quốc hội Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.

Qua chuyến thăm cấp nhà nước đến Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, 62 văn kiện, thỏa thuận hợp tác đã được ký kết, trong đó có 3 tuyên bố chung quan trọng giữa Việt Nam và Australia về làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng của nền kinh tế, tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, tạo thêm những định hướng chiến lược và khuôn khổ hợp tác thiết thực cho giai đoạn mới. Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam cùng một nước đối tác ra tuyên bố chung về tăng cường kết nối KHCN, ĐMST, mở ra mô hình mới về khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đặc biệt là theo hướng không chỉ hợp tác mà còn kết nối, bổ sung cho nhau, đồng hành, kiến tạo, tạo các động lực mới; nâng từ chuyển giao sang hợp tác, đồng phát triển KHCN, ĐMST, khai thác khoáng sản hiếm, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao để phục vụ nhu cầu phát triển của mỗi nước. Ngay trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo sát sao việc triển khai các kết quả đạt được. Các nhà lãnh đạo cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển nhanh các cam kết thành hành động, khai thác tối đa dư địa và thế mạnh bổ trợ của mỗi bên.

Với Australia, cần nhanh chóng đưa các định hướng mới về KHCN, ĐMST, AI, bán dẫn, chuyển đổi số, khoáng sản thiết yếu, năng lượng và chuyển đổi xanh vào các chương trình, dự án cụ thể; tăng cường liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu, chuyển từ hợp tác tiếp nhận sang cùng nghiên cứu, cùng phát triển, cùng tạo giá trị. Đồng thời, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về thương mại, đầu tư, kết nối thị trường, logistics và chuỗi cung ứng, tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các dự án cụ thể.

Với New Zealand, cần khai thác mạnh hơn tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế, tập trung vào giáo dục-đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp công nghệ cao, mở cửa thị trường nông sản, KHCN, ĐMST, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững; tăng cường kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường và thúc đẩy các dự án có giá trị gia tăng cao.

Trên bình diện đa phương, Việt Nam cũng sẽ đẩy mạnh tham vấn chiến lược, phối hợp chính sách với Australia và New Zealand ở cấp cao và các cấp, cũng như tại ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và các diễn đàn khu vực, quốc tế; cùng thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, tôn trọng luật pháp quốc tế và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Báo QĐND

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung. Ảnh: TRÀ NGUYỄN








Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mớiTrong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh ...
17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc giaPhát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn...
17/08/2026

Phát triển đường sắt tốc độ cao khẳng định chủ quyền công nghệ quốc gia

Phát triển đường sắt tốc độ cao là chủ trương lớn, đúng đắn, làm trục xương sống cho sự phát triển đất nước. Để chủ trương ấy thành công và bền vững, cần kiên định tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền công nghệ như một bộ phận của chủ quyền quốc gia, thông qua quản trị công nghệ hiệu quả, thực chất trong toàn bộ dự án.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra mười hai định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, và nhấn mạnh “tự chủ chiến lược” như một định hướng nền tảng. Trong dòng chảy ấy, chủ trương phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao quốc gia là nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa làm trục xương sống cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Có thể khẳng định, đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời và mang tầm nhìn chiến lược. Ngày 30-11-2024, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, với chiều dài khoảng 1.541km, đường đôi khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế 350km/giờ, tải trọng 22,5 tấn/trục, tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,713 triệu tỷ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2035.

Ngay trong mục tiêu nền tảng, Nghị quyết đã đặt yêu cầu gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngang hàng hiệu quả kinh tế-một tư duy sâu sắc về vai trò chiến lược của hạ tầng giao thông đối với vận mệnh quốc gia. Chủ trương ấy không đứng đơn lẻ, mà nằm trong một hệ thống chính sách nhất quán, thể hiện sự lãnh đạo bài bản của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở định hướng của Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23-1-2026 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội, hệ thống đó cũng kế thừa và bổ sung từ Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 172/2024/QH15 về tuyến Bắc-Nam và Nghị quyết số 187/2025/QH15 về tuyến Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đưa công nghệ đường sắt tốc độ cao vào danh mục mười nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Tầm nhìn không dừng ở một tuyến, mà hướng tới cả một mạng lưới hiện đại, đồng bộ. Từ chuỗi các nghị quyết, căn cứ pháp lý được thông qua và ban hành đã khẳng định nỗ lực triển khai quyết liệt những chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả trong thực tiễn và đảm bảo các mục tiêu chiến lược đề ra, cần xem xét mạng lưới đường sắt tốc độ cao trong bối cảnh chủ quyền, an ninh quốc gia, đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề về chủ quyền công nghệ.

Trong thời đại số, chủ quyền quốc gia không chỉ là chủ quyền về lãnh thổ, biển đảo, vùng trời, mà còn bao hàm chủ quyền công nghệ - quyền và năng lực tự quyết của đất nước đối với những công nghệ chiến lược, không bị lệ thuộc đến mức bị chi phối từ bên ngoài. Với một hạ tầng huyết mạch như đường sắt tốc độ cao, làm chủ công nghệ chính là một phương diện thiết yếu của bảo vệ chủ quyền. Tự chủ công nghệ là phương thức; chủ quyền công nghệ là mục tiêu và là trạng thái cần đạt tới. Kiên định tự chủ công nghệ, do đó, không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để bảo đảm đất nước nắm vững vận mệnh của chính mình.

Bảo đảm chủ quyền công nghệ có thể thông qua con đường: Tiếp cận và triển khai một cách bài bản, khoa học công tác dự báo công nghệ và quản trị công nghệ. Dự báo công nghệ là năng lực nhìn xa có cơ sở khoa học - nhận diện quỹ đạo phát triển của từng phân hệ, lường trước rủi ro phụ thuộc, chuẩn bị cho nhiều kịch bản trước khi lựa chọn. Quản trị công nghệ là năng lực làm chủ - biến dự báo thành các điều khoản chuyển giao chặt chẽ, khả thi về kinh tế và lợi ích các bên tham gia, đồng thời kiên định về mục tiêu chiến lược, hình thành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chương trình đào tạo nhân lực và lộ trình nội địa hóa cụ thể. Với một dự án vận hành nhiều thập kỷ, mỗi quyết định công nghệ hôm nay ràng buộc hiệu năng, an toàn và mức tự chủ của đất nước về sau. Vì vậy phải quản trị bằng phương pháp khoa học, thực chất, xuyên suốt toàn bộ dự án.

Đường sắt tốc độ cao là hạ tầng chiến lược, lưỡng dụng, chạy dọc sống lưng đất nước; vì thế các dự án gắn bó hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.

Trong thời đại số, hệ thống thông tin - tín hiệu và điều khiển là bộ não của toàn tuyến, cần được bảo vệ tuyệt đối trước các nguy cơ an ninh khác nhau. Một hệ thống mà đất nước không nắm được khả năng kiểm tra, giám sát độc lập sẽ tiềm ẩn rủi ro chủ quyền. Do đó, quản trị công nghệ phải đặt lên hàng đầu, yêu cầu làm chủ khả năng giám sát hệ thống tín hiệu, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và chủ quyền dữ liệu vận hành. Chủ trương của Chính phủ về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho đường sắt, tích hợp yêu cầu an toàn và an ninh ngay từ đầu, vì thế là hết sức đúng đắn và cần triển khai khẩn trương.

Thực tiễn đang chứng minh tính đúng đắn của chủ trương. Ngày 19-12-2025, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành-Cần Giờ tại Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công, dài hơn 54km, khổ 1.435mm, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ. Ngày 12-4-2026, tuyến Cổ Loa-Hạ Long nối Hà Nội với Quảng Ninh chính thức khởi công, dài khoảng 120km, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ thiết kế tối đa 350km/giờ, dự kiến sử dụng đoàn tàu thế hệ mới và hệ thống tín hiệu của đối tác quốc tế gắn với thỏa thuận chuyển giao công nghệ. Việc doanh nghiệp trong nước mạnh dạn đầu tư những công trình tầm vóc như vậy thể hiện đúng tinh thần Đại hội XIV về phát huy nội lực và huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Điều có ý nghĩa nhất về công nghệ là: Các tuyến này, cùng trục Bắc-Nam, đều theo khổ tiêu chuẩn 1.435mm và tốc độ tối đa 350km/giờ, song Việt Nam kỳ vọng có thể dùng những giải pháp và nhà cung cấp khác nhau. Khi đất nước hình thành cả một mạng lưới do nhiều chủ đầu tư, nhiều đối tác từ các quốc gia khác nhau triển khai, bài toán liên thông, tích hợp đồng bộ và an toàn trên toàn hệ thống trở nên cấp thiết. Hiệu năng và an ninh của toàn mạng lưới không phụ thuộc vào riêng một tuyến, mà vào năng lực dự báo và quản trị công nghệ ở tầm quốc gia. Đa dạng hóa có thể áp dụng ở tầng xây dựng hạ tầng, cung cấp toa xe, thiết bị phụ trợ; nhưng tầng kiến trúc lõi, hệ thống thông tin - tín hiệu điều khiển của trục xương sống Bắc - Nam bắt buộc phải tuân thủ một chuẩn thống nhất tuyệt đối ở tầm quốc gia để bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và an toàn vận hành. Nếu Nhà nước chủ động làm chủ kiến trúc hệ thống và bộ tiêu chuẩn giao diện chung từ sớm, có mô hình và phương pháp quản trị công nghệ khoa học, thì sự đa dạng nhà cung cấp lại trở thành lợi thế giúp tránh phụ thuộc, vừa bảo đảm liên thông, vừa giữ vững chủ quyền công nghệ.

Khi hai tuyến Bến Thành-Cần Giờ và Cổ Loa-Hạ Long đã đồng loạt khởi động, việc khẩn trương đưa trục xương sống Bắc-Nam vào triển khai đúng tiến độ, với mục tiêu khởi công vào tháng 12-2026, càng trở nên cấp thiết. Đây không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, mà còn tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành một thị trường và một ngành công nghiệp đường sắt nội địa đủ lớn để việc làm chủ công nghệ trở nên khả thi về quy mô. Càng triển khai sớm, đồng bộ và bài bản, đất nước càng sớm tích lũy năng lực và càng giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Tinh thần kiên định tự chủ công nghệ phải được quán triệt: Chuyển giao công nghệ là điều kiện tiên quyết khi chọn đối tác, gắn với mục tiêu tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, tiến tới tự chủ chiến lược.

Thước đo cuối cùng của thành công không chỉ là những chuyến tàu chạy đúng giờ trong năm đầu, mà là việc sau mười, hai mươi năm, đất nước tự sản xuất được bao nhiêu bộ phận, tự bảo trì và bảo đảm an ninh được bao nhiêu cấu phần trong các đại dự án, tự kết nối liên thông được cả mạng lưới đến đâu. Khi ấy, nguồn vốn đầu tư khổng lồ không chỉ tạo nên những tuyến đường, mà còn kiến tạo một năng lực công nghệ quốc gia mới, đúng tinh thần phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả và tự chủ mà Đại hội XIV đã đề ra.

Phát huy khí thế và niềm tin từ thành công của Đại hội XIV, với tinh thần “Hành động đột phá, lan tỏa kết quả”, có thể khẳng định và tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự đồng thuận của nhân dân và bằng việc coi trọng đúng mức, vận dụng khoa học công tác dự báo, quản trị công nghệ, dự án đường sắt tốc độ cao sẽ được triển khai thành công, hiệu quả, bền vững và an toàn. Đó vừa là trục xương sống cho phát triển, vừa là biểu tượng của khát vọng tự lực, tự cường và ý chí làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối chủ trương lớn, đúng đắn ấy.

Nguồn: Báo QĐND
Tác giả: TRẦN VŨ TUẤN PHAN, Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ







Address

179, Nguyễn Văn Cừ Nối Dài, Phường An Khánh, Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ
Can Tho

Telephone

+84869917849

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Liên Chi Hội Sinh Viên Vĩnh Long - CTUMP posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Liên Chi Hội Sinh Viên Vĩnh Long - CTUMP:

Shortcuts

Share