28/02/2026
🇻🇳 Phạm Văn Đồng - Nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và Nhân dân
Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1/3/1906, tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Ông là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh; người cộng sản kiên cường, mẫu mực; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi còn là một thanh niên, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, đã biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”…
Những năm 1925 - 1926, Phạm Văn Đồng tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh. Năm 1926, ông tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham gia phong trào yêu nước của thanh niên, học sinh, để rồi từ đó gắn bó trọn đời với lý tưởng giải phóng dân tộc mà lãnh tụ Hồ Chí Minh khởi xướng và dẫn dắt.
Sau một thời gian hoạt động, củng cố các tổ chức cách mạng tại Trung Kỳ, tháng 7-1929, Phạm Văn Đồng trở vào Nam hoạt động, nhưng khi vừa xuống ga Sài Gòn, thì bị mật thám Pháp bắt; tiếp đó bị kết án 10 năm tù giam; tháng 7-1930 bị đưa ra giam giữ tại Côn Đảo. Chính trong lao tù, ý chí cách mạng của ông càng được tôi luyện, niềm tin vào thắng lợi của nhân dân càng thêm vững chắc. Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp, Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia xây dựng tổ chức Đảng và chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Sau khi được trả tự do, đồng chí Phạm Văn Đồng lại tiếp tục hoạt động trên mặt trận báo chí công khai thời kỳ Mặt trận Dân chủ; được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và sinh hoạt trong Chi bộ hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng kể từ thời điểm đó, Đồng chí được làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người chỉ dẫn và trở thành một trong những nhà lãnh đạo tài năng của Đảng trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc; với những cống hiến, dấu ấn to lớn trong xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, chuẩn bị lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời, được Quốc hội khoá I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Từ một thanh niên trí thức, trải qua những năm tháng hoạt động, rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trở thành một chính khách, một thành viên trong ban lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Những trọng trách mà Đồng chí được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó trong suốt thời kỳ đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã thể hiện uy tín và tài năng của nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng. Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến tháng 01/1949, đồng chí Phạm Văn Đồng là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ. Tại đây, Đồng chí đã có những cống hiến và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu tự lực cánh sinh, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Trên cương vị Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đồng chí hết sức quan tâm tới công tác củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước. Đồng chí thường nói: “Việc tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”". Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng chí Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “nguyên tắc tổ chức của Nhà nước chúng ta là nguyên tắc tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể thiếu và phải mật thiết liên quan với nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau”. Trong hơn 30 năm đứng đầu Chính phủ, ông luôn trăn trở, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng tiền đề, tạo lập và phát triển một chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng Đảng phải chăm sóc cán bộ, đảng viên “như người làm vườn, vừa vun xới cho cây, cho hoa, vừa phải nhổ cỏ trừ sâu, và nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, diệt sâu phải diệt từ trứng. Có như thế hoa mới càng đẹp, quả mới càng ngon”. Trăn trở trước tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng phải “quét dọn mọi rác rưởi và dơ bẩn”, “có như vậy chúng ta mới có môi trường và cơ hội thuận lợi để làm tốt các công tác khác”.
Đồng chí Phạm Văn Đồng là tấm gương về rèn luyện đạo đức, thực hành đạo đức, suốt đời cống hiến, hy sinh cho cách mạng, tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân, rất mực liêm khiết, giản dị, khiêm tốn. Ở bất cứ cương vị nào, đồng chí đều hết lòng hết sức với công việc, biết tổ chức, biết huy động quần chúng để vừa kháng chiến thắng lợi, vừa kiến quốc thành công. Tài năng và đức độ của đồng chí đã tạo nên hiệu quả cao nhất của một nhà chính trị, nhà văn hóa lớn; ông không ưa hình thức, không thích phô trương, luôn đề cao tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giản dị trong đời sống, chuẩn mực trong ứng xử, tận tụy trong công việc. Những ai từng làm việc với ông đều nhận xét về phong thái điềm tĩnh, lời nói mạch lạc, lập luận chặt chẽ và sự lắng nghe chân thành.
Có thể thấy ở đồng chí Phạm Văn Đồng nổi bật ba phẩm chất lớn: lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng; trí tuệ sắc sảo của một nhà chính trị - ngoại giao và nhân cách giản dị, mẫu mực của một người cộng sản chân chính. Ông sống thanh bạch, không màng danh lợi, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết. Khi qua đời năm 2000, ông để lại trong lòng đồng chí, đồng bào và bạn bè quốc tế niềm kính trọng sâu sắc.
Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Phạm Văn Đồng là một bản anh hùng ca về sự cống hiến không ngừng nghỉ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, với 94 năm tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị (1951 - 1986), 32 năm là Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1987), 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1987 - 1997), một vị lãnh đạo mẫu mực, tài năng, uy tín, một nhà văn hóa lớn của đất nước, được bạn bè quốc tế trân trọng, nể phục.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc nghiên cứu, học tập tấm gương của đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn còn nguyên giá trị. Đó là đức tính: Tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung...
Đặc biệt, đối với quê hương Quảng Ngãi - mảnh đất giàu truyền thống cách mạng - tấm gương của đồng chí Phạm Văn Đồng là niềm tự hào, là động lực để mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ hôm nay tiếp tục phấn đấu, đóng góp cho sự phát triển của tỉnh nhà và của cả nước.
VŨ THƯ