SHAVA Community

SHAVA Community Cùng xây dựng cộng đồng nông nghiệp Việt Nam bền vững !

19/12/2021

KHOA HỌC SINH LÍ THỰC VẬT (PHẦN 1)
(Quý bà con nông dân và bạn đọc gần xa có thể ấn follow page để theo dõi bản pdf đầy đủ được cập nhật trong thời gian tới)

I. Khái niệm sinh lý thực vật
Sinh lí thực vật là một khoa học nghiên cứu về các hoạt động sinh lí xảy ra trong cơ thể thực vật, mối quan hệ giữa các điều kiện sinh thái với các hoạt động sinh lí của cây để cho ta khả năng điều chỉnh thực vật theo hướng có lợi cho con người.
Các quá trình sinh lý của cây:
- Trao đổi nước
- Quang hợp
- Hô hấp
- Vận chuyển các chất HC
- Dinh dưỡng chất khoáng
II. Đại cương về tế bào thực vật
1. Cấu trúc tế bào thực vật: bao gồm: thành tế bào, không bào và chất nguyên sinh
- Thành tế bào cấu tạo chủ yếu bởi xenlulozo, có nhiệm vụ che chở cho chất nguyên sinh và chống áp lực thẩm thấu do không bào trung tâm gây nên
- Không bào có nhiệm vụ chứa chất bài tiết cho tế bào. Chất bài tiết có 2 loại là chất hữu cơ và chất vô cơ. Trong đó các chất vô cơ(các muối kim loại của Na, Ca, K) tạo nên một dd gọi là dịch bào (pH = 3.5-5.5). Dịch bào tạo nên 1 áp thẩm thấu để hút nước đi vào tế bào, giúp cho tế bào luôn ở trạng thái bão hòa nước -> giúp cây được tươi
- Chất nguyên sinh được cấu thành bởi protein, lipid và nước, có nhiệm vụ chứa các bào quan, hệ thống màng ngăn cách các bào quan cũng như khuôn tế bào chất.
III. Sự trao đổi nước của TBTV:
- Sự trao đổi nước của TBTV được hoạt động theo cơ chế thẩm thấu nhờ 1 màng bán thấm (màng này chỉ cho nước đi qua mà không cho chất tan đi qua) dưới 1 áp suất thẩm thấu nhất định kí hiệu là n
- Khi TBTV nằm trong một dd thì có 3 trường hợp xảy ra
+ nồng độ dịch bào bằng nồng độ dd ngoài tb -> trạng thái cân bằng
+ nồng độ dịch bào nhỏ hơn nồng độ dd -> nước đi từ tb (tức k bào) ra ngoài dd -> V không bào giảm -> không bào co lại -> chất nguyên sinh co theo (nhưng thành tb có tính đàn hồi nên k co theo) -> chất nguyên sinh tách ra khỏi thành tb để co tròn lại -> gọi là hiện tượng co nguyên sinh. Ta có thể vận dụng hiện tượng co nguyên sinh này để nghiên cứu xem giống cây trồng đó có tính chống chịu nóng hay k.
+ nồng độ dịch bài lớn hơn nồng độ dd. Gọi P là sức trương của tb còn n là áp suất thẩm thấu. Nếu n=P thì tb ở trạng thái bão hòa nước. Trường hợp này ít xảy ra. Do cây luôn có quá trình thoát hơi nước nên đa phần n>P
- Hút trương: là quá trình hút nước của các cao phân tử (protein, acid nucleic, phospho lipid) hoặc các mao quản chưa bão hòa nước cho đến khi đạt trạng thái bão hòa
- Tóm lại, các tế bào trưởng thành có không bào hút nước theo hai phương thức: thẩm thấu và hút trương, trong đó phương thức thẩm thấu là chủ yếu; còn với các tế bào chưa có không bào thì hút trương là phương thức hút nước duy nhất.
(tham khảo bởi "Giáo Trình Sinh Lý Thực Vật" - GS.TS Hoàng Minh Tấn (NXB Đại Học Sư Phạm) - 2006)

Còn nữa...

RỄ CÂY1.Định nghĩa :Rễ là cơ quan sinh trưởng của cây, thường mọc ở dưới đất, từ trên xuống dưới có nhiệm vụ hấp thu các...
20/11/2021

RỄ CÂY

1.Định nghĩa :
Rễ là cơ quan sinh trưởng của cây, thường mọc ở dưới đất, từ trên xuống dưới có nhiệm vụ hấp thu các chất như nước và các muối vô cơ hòa tan để nuôi cây và còn có nhiệm vụ giữ chặt cây xuống đất. Rễ không bao giờ mang lá.
2. Hình thái học của rễ :
2.1.Các phần của rễ (hình ảnh)
2.1.1. Rễ cái
Rễ cái cấu tạo bởi một bộ phận hình trụ nón màu trắng hay màu nâu. Rễ không có diệp lục trừ các rễ khí sinh.
2.1.2. Chóp rễ
Đầu ngọn rễ có một bộ phận non như cái mũ úp lên gọi là chóp rễ có nhiệm vụ che chở cho đầu ngọn rễ non khỏi bị xây xát khi mọc đâm xuống đất.
2.1.3. Miền sinh trưởng
Trên chóp rễ có một đoạn gọi là miền sinh trưởng. Vì rễ chỉ mọc dài ra ở đoạn ấy thôi, nhờ sự phát triển của mô sinh ngọn.
2.1.4. Miền lông hút
Trên miền sinh trưởng là miền lông hút mang nhiều lông nhỏ để hấp thu nước và các muối vô cơ hòa tan để nuôi cây.
Đoạn mang lông hút luôn di chuyển theo đầu ngọn rễ để khai thác chất dinh dưỡng ở những nơi mà đầu ngọn rễ mọc ra.
2.1.5. Miền hóa bần
Trên miền lông hút là miền hóa bần, làm nhiệm vụ che chở cho rễ cây, phần này có các rễ con mọc xuyên ra và cũng mang đủ các bộ phận như rễ cái.
Các rễ con bậc nhất này lại có thể mọc ra những rễ con bậc hai. Các rễ con bậc hai lại có thể sinh ra những rễ con bậc ba... Tất cả họp thành búi rễ của cây.
2.1.6. Cổ rễ
Trên cùng là cổ rễ nơi rễ nối liền với thân cây ở sát mặt đất.
2.2. Các loại rễ
Rễ có nhiều hình dạng khác nhau thích hợp với điều kiện sống riêng biệt của từng loại cây.
2.2.1. Rễ trụ còn gọi là rễ cọc.
Rễ cái phát triển nhiều hơn rễ con nên mọc sâu xuống dưới đất như : rễ cây rau cải, cây xoan, cây mít. Đối với loại này trồng phải bón phân sâu xuống dưới đất.
2.2.2. Rễ chùm :
Rễ cái và con to bằng nhau mọc tua tủa như chùm râu : cây ngô, cây lúa
2.2.3. Rễ củ :
Rễ cái hoặc rễ con có thể phồng to lên vì chứa nhiều chất dự trữ : rễ củ cây cà rốt, cây mạch môn...
2.2.4. Rễ phụ
Rễ mọc từ cành ra khi xuống tới đất to dần lên rồi trở lại thành những cột nâng đỡ cành như cây si, cây đa.
2.2.5. Rễ bám
Rễ mọc từ thân cây làm cây mọc bám vào giàn như cây trầu không. Rễ bám không có chóp rễ và lông hút.
2.2.6. Rễ mút
Là rễ mọc vào trong cây chủ giác mút để hút nhựa các cây đó như cây tơ hồng, cây tâm gửi.
2.2.7. Rễ khí sinh
Rễ mọc trong không khí nên có chất diệp lục. Ngoài mặt rễ còn có một lớp mô xốp bao bọc để hút hơi ẩm của không khí gọi là màn như cây Phong lan, cây Thạch hộc.
2.2.8. Rễ tua cuốn
Rễ mọc quấn vào giàn để nâng đỡ như cây Vani
2.2.9. Rễ thủy sinh
Là rễ mọc trong nước như rễ cây sen, cây súng, cây bèo.
2.2.10. Rễ hô hấp
Là rễ mọc thẳng đứng lên khỏi mặt đất để cung cấp không khí cho các phần rễ phía dưới như rễ cây bụt mọc, rễ cây bần.
3. Cấu tạo giải phẫu của rễ cây
3.1.Cấu tạo cấp một ( cấu tạo sơ cấp)
Nếu cắt ngang rễ cây non ở vùng lông hút rồi đem soi lát cắt đó trên kính hiển vi ta thấy rễ cây gồm 3 phần.
3.1.1. Tầng lông hút (biểu bì) :
Cấu tạo bởi một lớp tế bào sống có màng mỏng cellulose có nhiệm vụ hấp thu nước và các muối vô cơ hòa tan.
3.1.2. Vỏ cấp một :
Vỏ cấp một được cấu tạo bởi tế bào mô mềm sống, có màng bằng cellulose, không có diệp lục chia làm 3 vùng
- Ngoại bì : cấu tạo bởi những tế bào hóa bần có nhiệm vụ bảo vệ rễ cây
- Mô mềm vỏ chia làm hai lớp :
+ Mô mềm vỏ ngoài : bao gồm nhiều tế bào màng mỏng bằng cellulose, cấu tạo bởi những tế bào không đều, tạo ra các khoảng gian bào.
+ Mô mềm vỏ trong : gồm các tế bào màng cũng mỏng cấu tạo bởi những tế bào rất đều xếp thành các vòng tròn đồng tâm và dãy xuyên tâm.
- Nội bì : cấu tạo bởi lớp tế bào sống, gồm một hàng tế bào khá đều. Lớp tế bào này có khung hóa bần để ngăn cản không cho các chất độc thấm qua vào trụ giữa.
3.1.3.Trụ giữa ( trung trụ) : Rễ các cây hiển hoa chỉ có một trung trụ, đó là cấu tạo đơn trụ gồm có các phần sau :
Vỏ trụ ( trụ bì) : là lớp tế bào ngoài cùng của trung trụ cấu tạo bởi những tế bào xếp xen kẽ với tế bào nội bì.
Hệ thống dẫn : bao gồm các bó gỗ và bó libe : bó gỗ và libe riêng biệt xếp xen kẽ nhau. Bó gỗ mặt cắt hình tam giác đỉnh quay ra ngoài và mạch gỗ nhỏ ở phía ngoài, mạch gỗ to ở phía trong ( phân hóa hướng tâm). Bó libe mặt cắt hình bầu dục cấu tạo bởi các mạch rây.
Mô mềm ruột :
+ Phần mô mềm ở khe các bó libe và bó gỗ gọi là tia ruột hay tia tủy.
+ Phần mô mềm ở trong các bó libe và bó gỗ gọi là ruột hay tủy.
• Tóm lại cấu tạo cấp I của rễ cây cần chú ý mấy điểm sau đây :
- Rễ cây có cấu tạo đối xứng với một trục.
- Bó libe và bó gỗ rời nhau, xếp xen kẽ nhau.
- Bó gỗ phân hóa hướng tâm.
3.2. Cấu tạo cấp hai của rễ ( cấu tạo thứ cấp)
Ở đa số các cây lớp Hành, một số cá biệt cây ở lớp Ngọc lan, rễ chỉ có cấu tạo cấp I vì chỉ tồn tại thời gian ngắn. Các cây lớp Ngọc lan, rễ cây phát triển theo chiều ngang nhờ hoạt động của vòng mô phân sinh cấp hai gọi là tầng phát sinh.
3.2.1. Tầng phát sinh ngoài còn gọi là tầng phát sinh bần lục bì :
Tế bào lớp ngoài phân hóa thành bần có nhiệm vụ che chở cho rễ cây già, lớp trong sẽ thành mô mềm cấp hai làm nhiệm vụ dự trữ gọi là lục bì (vỏ lục).
3.2.2. Tầng phát sinh trong còn gọi là tầng phát sinh libe – gỗ ( tượng tầng).
Đặt ở phía trong bó libe cấp I và phía ngoài các bó gỗ cấp I thành một vòng lượn, về phía ngoài tượng tầng sinh ra lớp libe cấp II, phía trong tạo ra bó gỗ cấp II. Ngoài ra sự hoạt động của tầng phát sinh cũng tạo ra tia ruột cấp II.
Đối với ngành dược nên chú ý là khi nói đến vỏ rễ dùng làm thuốc gồm tất cả những phần có thể bóc rời khỏi các lõi gỗ trong từ tượng tầng đến ra ngoài : tượng tầng libe cấp II, nhu mô vỏ cấp I, lục bì, tầng phát sinh ngoài, bần và thụ bì.
4. Công dụng của rễ trong ngành dược.
Trong ngành dược, nhiều rễ được dùng làm thuốc
- Vỏ rễ : như vỏ rễ lựu chữa sán, vỏ rễ dâu trong đông y gọi là Tang bạch bì.
- Rễ củ : như cát căn, sâm bố chính, nhân sâm, ngưu tất, phụ tử.
- Trong sinh hoạt của con người nhiều rễ được dùng để ăn như khoai lang, củ cải, cà rốt, sắn... hay để nhuộm (củ nâu).

MÔ THỰC VẬT1. Định nghĩaMô thực vật là một nhóm tế bào phân hóa giống nhau về hình thái để cùng làm một chức phận sinh l...
20/11/2021

MÔ THỰC VẬT

1. Định nghĩa
Mô thực vật là một nhóm tế bào phân hóa giống nhau về hình thái để cùng làm một chức phận sinh lý.
Nhiều thực vật bậc thấp như men bia, rong tiểu cầu chỉ cấu tạo bởi một tế bào và tế bào đó phải một mình đảm nhiệm mọi chức phận sinh lý sống.
2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại các mô nhưng thường được dựa vào chức phận sinh lý để sắp xếp các mô thành 6 loại:
- Mô phân sinh
- Mô mềm còn gọi là mô dinh dưỡng hay nhu mô
- Mô che chở
- Mô nâng đỡ còn gọi là mô cơ giới.
- Mô dẫn
- Mô tiết
2.1. Mô phân sinh
Mô phân sinh cấu tạo bởi những tế bào non chưa phân hóa, có màng cellulose, ti thể chưa biến thành lạp thể, không có dự trữ dinh dưỡng xếp sát vào nhau, không để hở những khoảng gian bào. Các tế bào đó có nhiệm vụ sinh sản rất nhanh để tạo thành các thứ mô khác.
Có 3 loại mô phân sinh:
2.1.1. Mô phân sinh ngọn:
Đầu ngọn rễ và thân cây có một đám tế bào non gọi là tế bào khởi sinh phân chia rất nhanh thành một khối tế bào có nhiệm vụ làm cho rễ và thân cây mọc dài ra.
2.1.2. Mô phân sinh lóng:
Ở các cây như cây họ lúa, thân cây không những mọc dài ra ở ngọn mà còn có khả năng tiếp tục mọc dài ra ở phía gốc của các lóng, cho nên các cây sau khi bị dẫm bẹp vẫn còn khả năng tiếp tục mọc đứng dậy.
2.1.3. Mô phân sinh bên hay mô phân sinh cấp hai:
Mô phân sinh này làm cho rễ và thân các cây lớp Ngọc lan tăng trưởng theo chiều ngang.
Có hai loại mô phân sinh cấp hai:
- Tầng sinh bần hay tầng sinh vỏ đặt trong vỏ của rễ và thân cây phía ngoài tạo ra lớp bần có nhiệm vụ che chở cho rễ và thân, cây già phía trong mô phân sinh mềm cấp hai gọi là vỏ lục (lục bì).
- Tầng sinh gỗ hay tầng sinh trụ (tượng tầng) đặt trong trụ giữa của rễ và thân, mặt ngoài sinh lớp libe cấp hai để dẫn nhựa luyện, mặt trong sinh lớp gỗ cấp hai để dẫn nhựa nguyên.
2.2. Mô mềm
Mô mềm được cấu tạo bởi các tế bào sống chưa phân hóa nhiều, màng mỏng cellulose có nhiệm vụ liên kết các thứ mô khác với nhau, đồng thời làm chức năng đồng hóa hay dự trữ.
Theo chức năng mô mềm được chia làm 3 loại:
2.2.1. Nhu mô hấp thu:
Gồm các lông hút của rễ có nhiệm vụ hấp thu nước và các muối vô cơ hòa tan trong nước.
2.2.2. Nhu mô đồng hóa:
Cấu tạo bởi những tế bào chứa nhiều lục lạp làm nhiệm vụ quang hợp. Vì cần ánh sáng nên mô mềm này thường đặt ngay dưới biểu bì của lá và thân cây non. Trong lá cây lớp Ngọc lan mô mềm đồng hóa có hai dạng:
- Mô mềm hình dậu cấu tạo bởi những tế bào dài và hẹp như những cọc bờ dậu, thẳng góc với mặt lá.
- Mô mềm xốp còn gọi là mô mềm khuyết cấu tạo bởi những tế bào không đều để hở khoảng gian bào to, trống rỗng chứa đầy khí.
2.2.3. Mô mềm dự trữ
Mô mềm dự trữ: cấu tạo bởi những tế bào có màng mòng bằng cellulose, trong tế bào chứa rất nhiều chất dự trữ để nuôi cây như đường, tinh bột, dầu béo.
2.3. Mô che chở
Mô che chở còn gọi là mô bì có nhiệm vụ bảo vệ các bộ phần của cây chống tác động có hại của môi trường ngoài như sự xâm nhập của các giống ký sinh, thay đổi nhiệt độ đột ngột, sự bay hơi nước quá mạnh. Để làm nhiệm vụ đó mô che chở ở mặt ngoài các cơ quan cây, các tế bào xếp xít nhau và màng tế bào biến thành một chất không thấm nước và khí.
Có hai loại mô che chở:
2.3.1. Biểu bì :
Biểu bì cấu tạo bởi 1 lớp tế bào sống bao bọc phần non của cây trên tế bào biểu bì có 2 bộ phận rất quan trọng đối với việc kiểm nghiệm các dược liệu.
- Lỗ khí là những lỗ thủng trong biểu bì dùng để trao đổi khí. Tế bào lỗ khí thường đi kèm từ 1-4 tế bào phụ gọi là tế bào bạn. Số lượng và vị trí các tế bào bạn là những đặc điểm có thể phân biệt trong kiểm nghiệm dược liệu. Mỗi lỗ khí cấu tạo bởi tế bào hình hạt đậu gọi là tế bào lỗ khí được thông với một khoảng trống ở dưới gọi là phòng lỗ khí.
- Lông là những tế bào biểu bì dài ra để tăng cường nhiệm vụ bảo vệ, giảm bớt sự thoát hơi nước. Tế bào của lông có thể vẫn còn sống hoặc đã chết. Hình dạng đa dạng như lông đơn bào, lông đa bào, lông hình thoi, lông tỏa tròn, lông ngứa.
Hình dạng các lông rất quan trọng để phân biệt các cây, nhất là các dược liệu đã bị cắt vụn hay các bột thuốc.
2.3.2. Bần
Cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào chết bao bọc các phần già của cây, bần không thấm nước và khí, có tính co giãn. Lớp bần của cây Quercus suber mọc ở Bắc Phi được dùng làm nút chai, gọi là nút lie.
Bần được thành lập bởi tầng sinh bần đã ngăn cách các mô ở phía ngoài bần đó với các mô ở phía trong làm cho các mô ở phía ngoài khô héo dần và chết. Người ta gọi bần và các mô chết ở phía ngoài là vỏ chết hay thụ bì. Thụ bì có thể rộp dần lên rồi b**g ra như cây ổi, hoặc dính vào cây nhưng nứt nẻ thành những đám nhỏ như cây long não.
2.4. Mô nâng đỡ
Mô nâng đỡ còn gọi là hệ mô ‘cơ giới’, cấu tạo bởi những tế bào có màng đáy cứng, làm nhiệm vụ nâng đỡ, tựa như bộ xương của cây.
Tùy bản chất của mô nâng đỡ người ta phân biệt thành hai loại :
2.4.1. Mô dày ( hậu mô)
Cấu tạo bởi những tế bào sống có màng dày nhưng vẫn bằng cellulose. Sự dày lên của màng tế bào chỉ xảy ra ở góc tế bào gọi là hậu mô góc, có thể đều đặn xung quanh tế bào gọi là hậu mô tròn, nếu giữa các tế bào hậu mô có khoảng gian bào gọi là hậu mô xốp. Cây một lá mầm không có hậu mô.
2.4.2. Mô cứng (cương mô)
Cấu tạo bởi những tế bào chết có màng dày hóa gỗ. Màng dày này có nhiều ống nhỏ đi xuyên qua để cho những sự trao đổi có thể xảy ra được khi tế bào còn sống. Mô cứng thường đặt sâu trong các cơ quan không còn khả năng mọc dài ra nữa.
Có ba loại mô cứng :
- Tế bào mô cứng thường hình khối nhiều mặt, có đường kính đều nhau, có thể đứng riêng lẻ hay tụ họp thành từng đám gọi là tế bào đá như thịt quả Lê, quả Na.
- Thể cứng là những tế bào mô cứng riêng lẻ, tương đối lớn có khi phân nhánh, thường có trong lá cây chè, cây Ngọc lan ta, cuống quả cây hồi.
- Sợi mô cứng cấu tạo bởi những tế bào dài, hình thoi, khoang tế bào rất hẹp như cây quế, sợi vỏ Canhkina
• Cách phân phối mô nâng đỡ trong cây :
Thành của tế bào mô nâng đỡ có sức chống gãy không kém thép, còn sức chống cong thì bằng thép do đó các tế bào cương mô có thể bị đè nén rất nặng mà không biến dạng được.
Trong thân cây tròn các phần tử mô cơ giới xếp thành vòng tròn gần phía ngoài, thân cây vuông đặt ở góc. Trái lại trong rễ cây mô cơ giới lại tập trung ở trung tâm để chịu được trọng lực ở trên đè xuống.
2.5. Mô dẫn
Mô dẫn cấu tạo bởi những tế bào dài xếp nối tiếp nhau thành những dãy dọc song song với trục của cơ quan và dùng để dẫn nhựa.
Phân loại :
2.5.1. Gỗ :
Được dùng để dẫn nhựa nguyên tức là nước và các muối vô cơ hòa tan trong nước do rễ hút từ dưới đất lên.
Gỗ là một mô phức tạp gồm ba thành phần :
- Mạch ngăn và mạch thông có nhiệm vụ dẫn nhựa nguyên. Nếu các tế bào còn các vách ngăn gọi là mạch ngăn hay quản bào, nếu không còn mạch ngăn tạo thành các ống thông suốt gọi là mạch thông hay mạch gỗ.
- Sợi gỗ là các tế bào chết, hình thoi dài có màng dày hóa gỗ. Các sợi gỗ làm nhiệm vụ nâng đỡ.
- Mô mềm gỗ cấu tạo bởi những tế bào sống, màng có thể hóa gỗ hay vẫn mỏng và bằng cellulose. Mô mềm làm nhiệm vụ dự trữ.
Khi các mạch gỗ đã già rồi chúng không làm nhiệm vụ dẫn nhựa nữa, các mạch đã bị lấp tạo thành lớp gỗ lõi (ròng) chỉ còn tác dụng nâng đỡ, còn phần gỗ non vẫn làm nhiệm vụ dẫn nhựa nên có những cây to có lớp gỗ lõi mục nát, rỗng ở giữa mà cây vẫn sống.
Gỗ thường bị nhuộm xanh trong phương pháp nhuộm kép.
2.5.2. Libe :
Libe có nhiệm vụ dẫn nhựa luyện tức là dung dịch các chất hữu cơ do lá đã đúc luyện được, nhờ hiện tượng quang hợp.
Libe là một mô phức tạp gồm 3 thành phần :
- Mạch rây cấu tạo bởi những tế bào sống, xếp nối tiếp nhau thành từng dãy, màng mỏng bằng cellulose. Các vách ngăn có nhiều lỗ thủng nhỏ trông tựa cái rây, giữa mạch là một không bào rất lớn chứa nhựa luyện.
- Tế bào kèm là những tế bào sống, ở trên cạnh các mạch rây, có nhiệm vụ tiết ra các chất men, giúp mạch rây thực hiện các phản ứng sinh hóa trong mạch, ngăn cản tế bào chất của mạch rây đông lại để đảm bảo việc vận chuyển các sản phẩm tổng hợp.
- Mô mềm libe là những sợi hình thoi dài, có màng dày hóa gỗ, hay không hóa gỗ, có khoang hẹp làm nhiệm vụ nâng đỡ.
Trong phương pháp nhuộm kép libe bị nhuộm màu hồng bởi son phèn.
2.6. Mô tiết
Mô tiết cấu tạo bởi những tế bào sống, có màng bằng cellulose và tiết ra những chất mà người ta coi như là chất cặn bã của cây như tinh dầu, nhựa, tanin, gôm... thường các chất này không được thải ra ngoài sẽ được đọng lại trong cây.
Có 5 loại mô tiết :
2.6.1. Biểu bì tiết :
Tất cả các tế bào biểu bì tiết ra những tinh dầu thơm như hoa hồng, hoa nhài... Có vai trò lôi cuốn côn trùng.
2.6.2. Lông tiết :
Nằm trên lớp ngoài cùng của biểu bì. Mỗi lông tiết gồm một chân và một đầu. Lông tiết rất quan trọng trong ngành dược để cất tinh dầu hoặc phân biệt dược liệu. Lông tiết có thể đơn bào hoặc đa bào như cây bạc hà, cúc.
2.6.3. Tế bào tiết :
Là những tế bào riêng lẻ ở rải rác mô mềm đựng những chất do chính tế bào đó tiết ra như tinh dầu trong lá long não, thân rễ Gừng, quả đại hồi.
Tanin có nhiều trong lá cây ổi, củ nâu, rễ củ cây hà thủ ô, quả cây kim anh.
2.6.4. Túi tiết và ống tiết :
Túi tiết và ống tiết là những lỗ hình cầu (túi) hay hình ống (ống) bao bởi các tế bào tiết và đựng các chất do tế bào đó tiết ra. Trên vi phẫu cắt ngang đều có tiết diện hình tròn, chỉ phân biệt trên vi phẫu dọc.
Túi tiết trong các cây họ cam, chanh, bưởi, ống tiết trong cây trầu không.
2.6.5. Ống nhựa mủ
Ống nhựa mủ là những ống dài và hẹp, phân nhánh nhiều, đựng một chất lỏng trắng như sữa gọi là nhựa mủ ( cây sữa, cỏ sữa) nhưng cũng có khi màu vàng (cây g*i cua).
Các hoạt chất chứa trong nhựa mủ có thể dùng làm thuốc như morphin, codein... có trong nhựa quả cây thuốc phiện. Ống nhựa mủ chỉ có ở một số họ Thầu dầu, họ Trúc đào, họ Thuốc phiện. Cho nên sự có mặt của nhựa mủ giúp ta trong việc định tên cây.

TẾ BÀO THỰC VẬT1. Định nghĩa Tế bào thực vật là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất cấu tạo nên những thực vật, là đơn vị giả...
20/11/2021

TẾ BÀO THỰC VẬT

1. Định nghĩa
Tế bào thực vật là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất cấu tạo nên những thực vật, là đơn vị giải phẫu và sinh lý của các thực vật. Tế bào học là môn học chuyên nghiên cứu về các tế bào.
2. Hình dạng và kích thước tế của tế bào
Cơ thể thực vật có khi chỉ cấu tạo bởi một tế bào gọi là cơ thể đơn bào (tảo lục) nhưng thông thường cơ thể thực vật cấu tạo bởi nhiều tế bào gọi là cơ thể đa bào.
2.1. Hình dạng
Nếu ta cắt ngang một miếng thật mỏng bất kỳ một chỗ nào của cây, đem soi kính hiển vi, ta thấy có nhiều ô nhỏ, mỗi ô là một tế bào.
Các tế bào trong cây có nhiều hình dạng khác nhau tùy thuộc vào từng loài và từng mô thực vật như rong tiểu cầu, tế bào ruột bấc hình ngôi sao, còn đa số các tế bào có hình thoi, dài, nhiều cạnh…
2.2. Kích thước
Kích thước các tế bào thực vật biến đổi rất nhiều ở các loại mô cũng như các loài thực vật khác nhau. Đa số tế bào có kích thước rất nhỏ bé, trung bình vài chục micromet ( một micromet bằng một phần ngàn milimet) phải dùng kính hiển vi mới thấy được.
Kích thước của tế bào mô phân sinh thực vật bậc cao là 10 – 30 micromet, vi khuẩn vào khoảng vài micromet, đối với virus thì kính hiển vi quang học cực mạnh cũng không phân biệt được. Tuy vậy, cũng có những cây có tế bào lớn mà mắt thường ta có thể trông thấy được như sợi Bông, tép bưởi, tép cam, tép chanh…
Tuy hình dạng và kích thước khác nhau nhưng cấu tạo tế bào như nhau.
3. Các phần của tế bào
3.1. Tế bào chất
Tế bào chất là thành phần cơ bản của một tế bào, giúp tế bào sống và sinh trưởng. Tế bào chất bao gồm toàn bộ phần bên trong màng pecto - cellulose (không bao gồm thể nhân, ty thể, lạp thể, thể golgi, thể ribo, thể vùi và không bào).
3.1.1. Tính chất vật lý
Tế bào chất là một khối đặc quánh, nhớt có tính đàn hồi, trong suốt, không màu, trông giống như lòng trắng trứng. Tế bào chất không tan trong nước, khi gặp nhiệt độ 50 – 60oC chúng mất khả năng sống (trừ tế bào chất ở hạt khô, quả khô có thể chịu được nhiệt độ tới 80 – 105oC).
3.1.2 Thành phần hóa học
Thành phần hóa học của tế bào chất rất phức tạp và không ổn định. Các nguyên tố chính là C, H, N, O và một số thành phần vi lượng như S, P, Mg, K, Na, Cl, Fe, Zn… Các chất chính tham gia thành phần của chất tế bào là protid, lipid, glucid, nước chiếm khoảng 70 – 80 %.
3.1.3. Tính chất sinh lý
Tế bào chất là một chất sống cho nên có tất cả mọi biểu hiện của sự sống như dinh dưỡng, hô hấp, tăng trưởng, vận động và sinh sản.
3.2. Các thể sống nhỏ
3.2.1. Ty thể
Là những tổ chức rất nhỏ bé chỉ gặp ở những tế bào có nhân điển hình, còn những tế bào không có nhân điển hình thì không có tổ chức này.
Ty thể có hình dạng rất biến thiên như hình hạt, hình sợi hay hình chuỗi hạt.
Nhờ các enzyme, ty thể được coi là trung tâm hô hấp và nhà máy “năng lượng” của tế bào. Quá trình sinh lý đặc biệt này xảy ra nhờ sự hô hấp oxy, giải phóng CO2 và nước, cùng với những năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của tế bào.
3.2.2. Lạp thể
Là những thể sống chỉ có ở những tế bào thực vật có diệp lục. Tùy theo bản chất các chất màu, người ta phân lạp thể ra làm ba loại:
Lạp lục: có màu xanh lục có vai trò đồng hóa ở cây xanh và tảo. Lục lạp kích thước rất nhỏ, khoảng 4 – 10 micromet. Ở thực vật bậc cao, lục lạp có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình thấu kính hay hình thoi. Ở tảo, lạp lục dưới dạng khác nhau gọi là thể sắc; Các thể sắc này có thể là hình xoắn trôn ốc như ở tảo hoa, hình ngôi sao như ở tảo sao hoặc hình mạng ở tảo sinh đốt…
Lạp màu: là thể lạp có màu vàng, da cam, đỏ, tím… Tạo ra cho cánh hoa, quả, lá, rễ cây những màu sắc khác màu xanh của diệp lục. Lạp màu có hình dạng rất khác nhau như hình cầu, hình thoi, hình dấu phẩy hay hình khối nhiều mặt… Chức năng chính của lạp màu là quyến rũ sâu bọ để thực hiện sự thụ phấn cho hoa và lôi cuốn các loài chim thực hiện sự phát tán quả và hạt.
Lạp không màu: là thể lạp nhỏ không có màu và thường gặp ở những cơ quan không màu của thực vật bậc cao như hạt, rễ củ. Lạp không màu có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình tròn, hình thoi hay hình que… Lạp không màu là nơi đúc tạo tinh bột vì các glucid hòa tan trong tế bào chất thường kéo đến lạp không màu rồi tích lũy dưới dạng tinh bột.
3.2.3. Thể golgi
Là những mạng đặc biệt nằm trong tế bào chất. Thể golgi cấu tạo bởi những mạng hình đĩa dẹt hay các tấm bẹt, mỗi tấm chứa 5 – 10 túi. Ở đầu mỗi tấm có một số b**g bóng nhỏ và phía bề mặt nhiều b**g bóng lớn hơn. Thể golgi có vai trò quan trọng trong việc tạo màng khung của tế bào thực vật.
3.2.4. Thể ribo (riboxom)
Là những hạt hình cầu nhỏ chứa nhiều acid ribonucleic. Nó tồn tại trong tế bào dưới dạng tự do hay dạng chuỗi nhỏ (5 – 10 ribo) gọi là polyxom. Các chuỗi polyxom có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp protid.
3.3. Nhân tế bào
Nhân là thành phần cấu tạo của tế bào, thường hình cầu và ở giữa tế bào. Nhân có vai trò rất quan trọng trong sinh lý của tế bào nhất là sự sinh sản.
3.3.1. Số lượng – hình dạng – kích thước
Mỗi tế bào có một nhân, riêng tế bào một số loài nấm có hai nhân. Nhân thường hình cầu nhưng cũng có thể kéo dài ra trong các tế bào hẹp và dài.
Kích thước tế bào từ 5 – 10 micromet. Ở các tế bào non nhân chiếm 1/3 tế bào, còn tế bào già tỷ lệ nhỏ hơn.
Ở tế bào non nhân nằm giữa, tế bào già nhân thường bị dồn sát vào màng tế bào.
3.3.2. Tính chất hóa học
Nhân chứa 80% là protein, 10% ADN (acid desoxyribonucleic), 3,7% ARN (acid ribonucleic), 5% phosphor – lipid và 1,3% là ion kim loại, trong đó AND, ARN quyết định vai trò sinh lý của nhân.
3.3.3. Tính chất sinh lý
- Duy trì và truyền các thông tin di truyền.
- Nhân đóng vai trò quan trọng trong đời sống của tế bào, có nhiệm vụ lớn trong sự trao đổi chất và tham gia các hiện tượng tổng hợp của tế bào.
- Nhân giúp cho tế bào lông hút của rễ cây hấp thụ thức ăn.
- Nhân có tác dụng với sự tạo thành màng tế bào, nhân đến chỗ nào thì màng tế bào dày lên. Khi màng tế bào bị rách, nhân làm vết thương thành sẹo.
- Nhân đóng vai trò lớn trong việc điều hòa các sản phẩm của sự quang hợp như tạo thành tinh bột.
Tóm lại đời sống của chất tế bào không có nhân, không sống kéo dài được và ngược lại nhân không có tế bào chất cũng không thể tồn tại được. Tế bào có nhân sự sống mới kéo dài và phát triển.
3.4. Thể vùi
Thể vùi là những thể nhỏ bé trong tế bào chất và là những chất dự trữ hay cặn bã.
3.4.1. Thể vùi loại tinh bột
Thể vùi loại tinh bột là loại chất dự trữ phổ biến nhất trong tế bào thực vật (trong rễ củ, thân rễ, thân củ, hạt). Mỗi loại cây có hình dạng tinh bột riêng và kích thước cũng khác nhau, do vậy dễ dàng phân biệt chúng với nhau.
3.4.2. Thể vùi loại protid
Trong tế bào chất tồn tại các hạt protid dự trữ, không màu thường hình cầu, hay bầu dục gọi là hạt aleuron.
3.4.3. Thể vùi loại lipid: có 3 loại
- Loại giọt dầu mỡ thường gặp trong các hạt như hạt lạc, thầu dầu, vừng…
- Loại giọt tinh dầu có nhiều ở một số họ thực vật như họ Hoa môi, Long não, họ Hoa tán… Khác với giọt dầu mỡ, tinh dầu dễ bay hơi và có mùi đặc biệt.
- Loại nhựa và gôm là những sản phẩm của quá trình oxy hóa và trùng hiệp hóa một số dầu.
3.4.4. Thể vùi loại tinh thể
Thể vùi loại tinh thể là những chất cặn bã kết tinh. Trong tế bào thực vật thường gặp hai loại tinh thể:
- Tinh thể calci oxalat có nhiều hình dạng khác nhau như hình hạt cát ở lá cà độc dược, hình lăng trụ ở vỏ cây hành ta, hình khối nhiều mặt trong cây bưởi, hình cầu g*i trong lá cây trúc đào, hình kim trong lá cây bèo tây…
- Tinh thể calci carbonat thường gặp trong lá đa, lá cây vòi voi, lá cây dâu tằm, dưới dạng khối xù xì như quả mít gọi là nang thạch.
Dựa vào hình dạng khác nhau của các tinh thể mà có thể phân biệt được các loại dược liệu khi soi bột của nó trên kính hiển vi.
3.5. Không bào
Không bào là những khoảng trống trong tế bào chất, chứa đầy chất lỏng, cấu tạo bởi nước và các chất hòa tan trong nước gọi là dịch tế bào. Toàn bộ không bào của một tế bào gọi là hệ không bào.
3.5.1. Hình dạng kích thước
Trong tế bào non có nhiều không bào nhỏ đựng dịch, tế bào đặc, khi tế bào lớn lên các không bào nhỏ sẽ tụ lại thành vài không bào to, đựng dịch tế bào loãng. Khi tế bào già, các không bào họp lại thành không bào duy nhất chiếm gần hết tế bào, dồn nhân và tế bào chất sát vào màng tế bào. Không bào không có màng riêng biệt bao bọc.
3.5.2. Vai trò sinh lý của không bào
Không bào là nơi tích lũy các chất dự trữ hoặc chất cặn bã tan trong nước. Ngoài ra còn đóng vai trò quan trọng đối với sinh lý của tế bào nhờ tính thẩm thấu của dịch tế bào.
Chứng minh bằng thí nghiệm:
- Nếu đặt tế bào sống vào dung dịch ưu trương nghĩa là nồng độ chất hòa tan lớn hơn nồng độ dịch tế bào, thì nước ở không bào thoát ra ngoài tế bào chất co lại b**g ra khỏi màng cellulose của tế bào. Đó là hiện tượng co nguyên sinh.
- Nếu đặt tế bào sống vào dung dịch nhược trương nghĩa là nồng độ chất hòa tan nhỏ hơn nồng độ dịch tế bào, thì nước ở ngoài kéo vào không bào làm thể tích các không bào tăng. Nhưng vì màng cellulose cứng bao bọc nên chỉ có màng tế bào phồng lên và căng ra, đó là sự trương nước. Nhờ hiện tượng trương nước này nên lá cây, cành cây non mới cứng rắn được.
Nếu ta đặt tế bào sống vào dung dịch đẳng trương thì không có hiện tượng gì xảy ra.
3.6. Màng tế bào
Màng tế bào là lớp vỏ cứng bao bọc chung quanh các chất sống của tế bào. Phân chia các tế bào với nhau hoặc ngăn cách tế bào với môi trường bên ngoài.
Các phần của màng tế bào thực vật:
- Lớp cellulose:
+ Màng cellulose: tạo thành như một vỏ cứng xung quanh tế bào.
+ Chất cellulose: là cellulose gần như nguyên chất, tương đối bền vững ở nhiệt độ cao, đun nóng tới 200oC mà không bị hỏng.
+ Cellulose không tan trong nước, rượu, ete. Màng cellulose nhuộm hồng bởi son phèn không bị nhuộm màu bởi dung dịch iod – iodua. Loài người không có khả năng tiêu hóa được cellulose. Cellulose có thể bị phá hủy bởi những men do một số động vật và thực vật bậc thấp tiết ra như vi khuẩn gây sự lên men, nấm mốc trên thân cây to.
+ Sự tăng trưởng của màng cellulose: tăng trưởng theo bề dày bằng cách đặt thêm những lớp chất mới vào mặt trong của màng nguyên thủy, các lớp chất đó không chiếm hết bề mặt của màng tạo thành các lỗ. Các lỗ màng tế bào làm nhiệm vụ trao đổi chất giữa một tế bào với các tế bào lân cận.
- Màng pectin:
Màng pectin tựa như lớp xi măng gắn với các vỏ cellulose lại với nhau. Màng cấu tạo bởi chất pectin không tan trong nước nhưng phồng lên khi thấm nước.
- Màng nguyên sinh: là lớp ngoài cùng của chất nguyên sinh.
* Sự biến đổi hóa học của màng tế bào:
Màng tế bào có thể thay đổi tính chất vật lý và thành phần hóa học để làm chức phận đặc biệt.
- Sự hóa gỗ: Màng tẩm thêm chất gỗ cứng rắn hơn, dòn hơn, kém đàn hồi hơn, dễ gãy khi uốn cong.
- Sự cutin hóa: Màng tế bào biến thành chất cutin không thấm nước và khí. Tính đàn hồi kém cellulose nên dễ bị b**g ra khỏi màng cellulose.
- Sự hóa bần: Màng biến đổi thành chất bần không thấm nước và khí. Màng tế bào hóa bần sẽ đình chỉ mọi sự trao đổi chất nên là tế bào chết.
- Sự khoáng hóa: Màng tẩm thêm chất vô cơ như chất silic ở các cây họ lúa như cây cỏ tranh có mép rất sắc.
- Sự hóa sáp: Màng có phủ thêm lớp sáp như thân cây mía, quả bí.
- Sự hóa nhầy: Màng tế bào bồi thêm những lớp nhầy, khi gặp nước sẽ trương nở như hạt lanh.
4. Sự sinh sản của tế bào
Tế bào lớn lên tới một tầm vóc tối đa sẽ sinh sản bằng cách phân đôi thành hai tế bào con. Có nhiều cách phân chia tế bào.
4.1. Phân chia trực phân:
Gọi là sự phân chia có tơ, tế bào và nhân kéo dài ra, thắt lại ở giữa rồi đứt thành hai tế bào con. Lối phân chia trực tiếp này tuy đơn giản nhưng hiếm thấy.
4.2. Phân chia gián phân:
Còn gọi là phân chia tơ gồm 4 giai đoạn:
4.2.1. Pha trước
Trong thời gian ở giữa 2 sự phân bào gọi là thời kỳ gián phân, chất nhiễm sắc của nhân ở dạng một mạng lưới. Mạng lưới đó sẽ đứt ra thành khúc gọi là nhiễm sắc thể. Số lượng các nhiễm sắc thể trong tế bào là số chẵn.
Ví dụ: Tế bào ngô có 20 nhiễm sắc thể
Tế bào lúa có 24 nhiễm sắc thể
Tế bào hành tây có 16 nhiễm sắc thể
4.2.2. Pha giữa
Màng nhân cũng biến mất, các nhiễm sắc thể chẻ dọc sẵn sang tập trung trong mặt phẳng của thoi.
4.2.3. Pha sau
Mỗi nhiễm sắc thể tiến về phía mỗi cực của tế bào theo điểm cố định ở giữa, ở đầu ngọn hoặc ở gần.
4.2.4. Pha cuối
Các nữa nhiễm sắc thể tiến gần tới cực của tế bào, tu họp lại với nhau tạo thành một mạng nhiễm sắc. Màng, nhân và hạch xuất hiện tạo thành hai nhân con trong tế bào mẹ.
Thời gian của sự phân chia gián phân được quan sát trên tế bào sống đang phân chia là 60 phút đến 120 phút.
Theo Macarốp (1948) trong nhân ở thời kỳ nghỉ giữa hai sự phân chia: Không có các nhiễm sắc thể dưới dạng nhìn thấy hoặc dạng tiềm tàng. Chúng xuất hiện mỗi lần một mới trong tế bào chứ không di chuyển từ dạng đã sẵn có từ cha mẹ đến con cái.
Số lượng và hình dạng nhiễm sắc thể ở mỗi loài cây một khác. Dưới tác dụng của những điều kiện ngoại cảnh khác nhau, tính chất này bị lũng đoạn như nhiễm sắc thể bị thay đổi về hình dạng và số lượng, xảy ra sự thay đổi tính di truyền do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh.

Address

Đà Lạt

Telephone

+84888052377

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when SHAVA Community posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to SHAVA Community:

Share