GĐPT MINH ĐỨC

GĐPT MINH ĐỨC TRÍ TUỆ - HỶ XẢ - TINH TẤN - THANH TỊNH - TỪ BI

02/18/2026

BA TẦNG CÁI NHÌN CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG: NHÌN BẰNG MẮT - NHÌN BẰNG TÂM - NHÌN BẰNG TUỆ

Trong hành trình tu học và phụng sự của Gia đình Phật tử, người Huynh trưởng không chỉ học cách tổ chức sinh hoạt hay truyền đạt giáo lý mà điều quan trọng hơn cả chính là học cách nhìn. Bởi cái nhìn quyết định thái độ, thái độ tạo nên hành động và hành động hình thành nên nhân cách của người dẫn đường. Một người Huynh trưởng trưởng thành không phải là người thấy nhiều hơn người khác mà là người nhìn sâu hơn để rồi qua năm tháng cái nhìn ấy lớn dần qua ba tầng bậc là nhìn bằng mắt, nhìn bằng tâm và nhìn bằng tuệ.

Từ cái nhìn của hình tướng bên ngoài

Tầng nhìn đầu tiên là nhìn bằng mắt, một khả năng nhận biết thực tại mà ai cũng có. Qua đôi mắt, chúng ta thấy đoàn sinh đi trễ, thấy một đoàn sinh nghịch ngợm, thấy đơn vị thiếu người hay thấy những khó khăn chồng chất trước mắt. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây thì cái nhìn bằng mắt rất dễ dẫn đến những hiểu lầm vì đôi mắt thường bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, bởi thành kiến và kinh nghiệm cá nhân hạn hẹp. Một Huynh trưởng nếu chỉ nhìn bằng mắt sẽ dễ dàng phán xét nhanh và kết luận vội vàng. Một em đoàn sinh thường xuyên vắng sinh hoạt có thể bị xem là lười biếng trong khi em đang phải chịu áp lực nặng nề từ gia đình, hay một Huynh trưởng trẻ thiếu kinh nghiệm không có nghĩa là họ thiếu nhiệt huyết phụng sự. Chính vì vậy, cái nhìn bằng mắt chỉ là bước khởi đầu chứ chưa phải là cái nhìn của một nhà giáo dục chân chính.

Đến cái nhìn của tình thương và sự thấu cảm

Khi người Huynh trưởng bắt đầu biết lắng nghe và cảm nhận sâu sắc thì cái nhìn chuyển sang tầng thứ hai là nhìn bằng tâm. Đây chính là cái nhìn của sự cảm thông giúp chúng ta không chỉ thấy hành động mà thấy cả nỗi niềm phía sau hành động đó, không chỉ thấy lỗi lầm mà thấy cả những hạt giống tốt đẹp đang chờ được nuôi dưỡng. Trong tinh thần Phật giáo thì đây chính là cái nhìn của lòng Từ bi. Khi nhìn bằng tâm, người Huynh trưởng biết đặt mình ngang hàng với đàn em để bao dung cho những vụng về của tuổi trẻ và biết dùng ái ngữ thay vì tranh thắng khi anh em đồng sự hiểu lầm nhau. Cái nhìn bằng tâm làm mềm lại những góc cạnh của cái tôi cá nhân, nuôi dưỡng tình Lam và biến một tập thể trở thành một gia đình thực thụ. Thế nhưng nếu chỉ có thương yêu mà thiếu đi sự sáng suốt thì đôi khi chúng ta lại dễ chiều chuộng cái sai hoặc bị cảm xúc riêng tư chi phối quá mức.

Và tầng cao nhất là cái nhìn của chánh kiến

Tầng nhìn vượt thoát và cao nhất chính là nhìn bằng tuệ, cái nhìn của một người học Phật đích thực. Nhìn bằng tuệ là nhìn thấy sự vật đúng như nó đang là mà không bị che mờ bởi yêu ghét hay định kiến đám đông. Dựa trên nền tảng chánh kiến và nhân quả, người Huynh trưởng nhìn bằng tuệ sẽ thấu hiểu rằng một khó khăn hôm nay có thể là cơ hội trưởng thành cho ngày mai, một sai lầm của đoàn sinh chính là bài học quý giá nếu được hướng dẫn đúng cách và mỗi biến động trong tổ chức đều là quy luật vô thường để ta không còn nản chí. Cái nhìn trí tuệ giúp người Huynh trưởng giữ được sự thanh tịnh giữa những lằn ranh có mất hay thành bại để rồi từ đó không phản ứng vội vàng mà hành động bằng sự bình an nội tâm.

Ba tầng nhìn này vốn dĩ không tách rời nhau mà luôn hòa quyện để tạo nên một tâm thế vững chãi. Nhìn bằng mắt giúp ta thấy thực tế, nhìn bằng tâm giúp ta hiểu con người và nhìn bằng tuệ giúp ta đi đúng hướng. Nếu chỉ nhìn bằng mắt ta dễ phán xét, nếu chỉ nhìn bằng tâm ta dễ yếu mềm và nếu chỉ nhìn bằng tuệ mà thiếu đi cái tâm thì ta dễ trở nên khô cứng. Người Huynh trưởng chân chính là người biết dung hòa cả ba để thấy rõ, hiểu sâu và hành động đúng đắn. Trong Gia đình Phật tử, chúng ta không chỉ dạy đàn em kỹ năng hay giáo lý mà còn đang dạy các em cách nhìn cuộc đời bằng chính ánh mắt của mình. Khi ta nhìn đàn em bằng lòng từ, nhìn tổ chức bằng trí tuệ và nhìn bản thân bằng sự chân thật thì mỗi bước chân phụng sự đều trở thành một bước tu.

Nguyện cho mỗi người áo Lam chúng ta luôn rèn luyện được đôi mắt không chỉ biết thấy mà còn biết thương, không chỉ biết thương mà còn biết sáng suốt để lý tưởng Lam mãi là hơi thở và nhịp đập trong đời sống hằng ngày.
--
Không Đô

05/20/2025

GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ: MỘT CÕI ĐI VỀ THONG D**G | Kính Viếng Sư-Tỷ Thích Nữ Huệ Tâm, tức Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ | Nguyên Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Nhất tâm đảnh lễ

Tịch nhiên thường trụ, đạo nhãn viên minh
Ngưỡng vọng giác linh Sư Cô Thích Nữ Huệ Tâm
Nguyên Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Giữa trùng trùng duyên khởi của cuộc đời, có những con người đến rồi đi như mây bay đầu núi, như trăng lặn bên sông. Có những bậc đạo hạnh, như ngọn đèn không bao giờ tắt trong tâm thức bao thế hệ – soi sáng bằng đời sống tận hiến, bằng tiếng gọi vô ngôn của lý tưởng, và bằng dấu chân âm thầm nhưng mãnh liệt nơi mỗi bước đi vào cuộc đời.

Sư cô Thích Nữ Huệ Tâm, tức Huynh trưởng khả kính của Gia Đình Phật Tử Việt Nam, là một người như thế. Tên tuổi của Sư-Tỷ – một thời là ngọn cờ đầu trong hàng ngũ Huynh trưởng lãnh đạo tại Hoa Kỳ – vẫn còn vang vọng trong ký ức của bao Lam viên khắp bốn phương. Với chín năm liên tục gánh vác sứ mệnh Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ, Sư-Tỷ không những là người chèo thuyền qua giông tố, mà còn là ánh trăng soi lối cho những thế hệ kế thừa được nuôi dưỡng bằng lý tưởng Bồ-tát hạnh, bằng lửa thanh xuân của niềm tin và bằng lòng kiên trì như tùng bách giữa tuyết sương.

Có thể nào quên được hình ảnh một người Sư Cô khoác áo nâu sồng mà tâm vẫn Lam, tay lần chuỗi tràng hạt mà mắt vẫn dõi theo từng trại huấn luyện, từng bước chuyển mình của tổ chức GĐPT trong thời đại mới? Sư-Tỷ đã sống và hành hoạt không phải như một chức danh, mà như một thể nhập trọn vẹn giữa lý tưởng Phật giáo và tinh thần phụng sự.

Huynh trưởng là Bồ Tát giữa đời, mà Sư-Tỷ chính là minh chứng. Trong những năm tháng nơi đất khách, Sư-Tỷ đã cùng với quý Trưởng bối tiền phong Tâm Huệ Cao Chánh Hựu, Hồng Liên Phan Cảnh Tuân (tức Sư huynh Phổ Hòa)…v.v đã dựng nền móng đầu tiên cho những cơ chế tiền thân của Ban Hướng Dẫn Thế Giới, Hải Ngoại như có ngày nay. Công ấy, nghĩa ấy, xin ghi vào Tâm thư Lam sử.

Sinh vi Phật tử, tử vi Phật linh
Sống là người Phật tử dấn thân phụng sự
Thác là trở về như mây trắng thong d**g

Sư-Tỷ ra đi không mang theo gì, ngoài một đời gió sương vì đạo pháp, vì tổ chức, vì tuổi trẻ. Nhưng trong gió sương đó, Sư-Tỷ đã để lại ánh sáng – ánh sáng của đạo hạnh, của dấn thân, của chí nguyện không cầu danh vọng.

Trong những lúc tổ chức GĐPT hải ngoại còn chập chững, chưa có hệ thống rõ ràng, chưa có mô hình điều hành vững chắc, chính Sư-Tỷ là một trong những ngọn đèn đã châm lên, giữ cho Lam đạo không tắt giữa đêm dài lịch sử. Tấm lòng ấy, chí nguyện ấy, không thể dùng vài dòng ngắn gọn để nói hết.

Kính bạch Sư-Tỷ,

Người đi rồi, chúng em biết tìm đâu lại nụ cười hiền hậu, giọng nói chân tình, bàn tay ấm áp luôn dang ra với đàn em, dù trong vai trò Tăng sĩ hay Huynh trưởng?

Người đi rồi, những Lam viên từng được Sư-Tỷ sách tấn trong các trại huấn luyện giờ đã trở thành thế hệ kế thừa, nhưng vẫn còn quay đầu tìm lại dáng Người nơi khói nhang chiều mưa, nơi âm vang bài ca Sen Trắng giữa chánh điện.

Quy nguyên tịnh thổ, siêu sinh Phật quốc. Nguyện giác linh Sư-Tỷ trạm nhiên an lạc, bất động tịch quang, tùy duyên hóa độ, độ tận hữu tình.

Nam mô Tịch Chiếu Bồ Tát Ma Ha Tát

https://sentrangusa.com/2025/05/19/gdpt-viet-nam-tai-hoa-ky-mot-coi-ve-thong-d**g/

Hậu học Lam viên, cúi đầu đảnh lễ.

Tập thể các em GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ

01/18/2025

Ý NGHĨA LẠY PHẬT .

Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

1)❤️ Ý nghĩa lạy Phật.

🙏 Ngày xưa, khi Ðức Phật còn tại thế, các đệ tử từ vua quan , đến dân chúng, mỗi lần được may mắn gặp Ðức Phật Thích Ca, đều cuối xuống ôm chân Phật và đặt trán mình trên chân Ngài để tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn thờ một bậc tối thượng: Bi, trí siêu phàm.

Cử chỉ ấy là một cử chỉ vô cùng khiêm tốn, nhu thuận và hoàn toàn tin cậy đối với Ðức Phật.
Sau khi Phật nhập diệt, toàn thể tín đồ vẫn xem Ngài như còn tại thế, và cái cử chỉ cuối xuống ôm chân Phật vẫn còn tiếp nối tồn tại cho đến ngày nay và muôn ngàn năm sau.
Cái cử chỉ ấy chỉ có cái công dụng làm cho tín đồ bao giờ cũng hình dung như Ðức Phật còn ngồi trước mặt mình để chứng giám cho tấm lòng thành kính thiết tha của mình.

2)❤️ Phải lạy Phật như thế nào mới đúng ý nghĩa.

Ðể cho đúng với ý nghĩa trên, khi lạy Phật phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cuối lưng xuống đặt trán mình trên hai lòng bàn tay.

Trước khi lạy Phật, phải dọn mình cho sạch sẽ: rửa mặt, súc miệng, lau tay chân, thay y phục và mặc áo tràng.

Xong xuôi, mới đốt hương ra trước bàn Phật, đứng ngay thẳng, tay chắp để trước ngực, mắt nhìn tượng Phật, tâm tưởng đến các tướng tốt và những đức hạnh cao cả của Ngài, và tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình, xá rồi cắm hương vào lư, đánh tiêng chuông và lạy Phật ba lạy.

Lễ Phật như thế mới đúng pháp; trong kinh gọi là “thân tâm cung kính lễ” , nghĩa là thân tâm hăng hái tề chỉnh, nghiêm trang, tâm thì hớn hở vui mừng và hết lòng thành kính như gặp được Phật còn tại thế.
Trái lại, chúng ta lễ Phật với lòng ngã mạn (ngã mạn lễ), hay với tâm cầu danh (cầu danh lễ), thì đã không có kết qủa gì, mà còn mang thêm tội.

🍂 Ngã mạn lễ, là khi lạy Phật mà trong tâm còn ngạo nghễ, kiêu căng, năm vóc (đầu, hai tay, hai chân) không sát đất, đứng lên cuối xuống một cách cẩu thả, qua loa cho có chuyện.

🍂 Cầu danh lễ, là khi thấy có đông người thì miệng liền to tiếng dài hơi xưng danh hiệu Phật, thân lại siêng năng lạy không ngừng nghỉ, có ý để cho mọi người khen ngợi.

Trái lại khi không có người thì thân lại biếng nhác, tâm lại giải đãi, không muốn lễ bái gì cả.

Hai cách lễ ái trên đây rất giả dối, vậy những ai muốn tiến trên đường Ðạo, thì phải nên tránh ngay.

3) ❤️ Bốn phép lạy (thuộc về lý).
Về phương diện lý thì có bốn phép lễ.

a)🩷 Phát trí thanh tịnh lễ.

🙏 Trong phép này, người hành lễ phải thấu suốt rằng cảnh giới của Chư Phật đều tùy tâm hiện bày, nên lạy một Ðức Phật, tức là lạy tất cả Chư Phật, lạy một lạy, tức là lạy tất cả Pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.

b) 🩷 Biến nhập pháp giới lễ.
Trong pháp này, người hành lễ phải tự quán thân, tâm cùng tất cả các pháp, từ hồi nào đến giờ đều không rời pháp giới.

c) 🩷 Chánh quán lễ.

Trong pháp này, người hành lễ lạy Ðức Phật ngay nơi tự tâm của mình, chứ không duyên với Ðức Phật nào khác, vì tất cả chúng sanh từ xưa đến nay, đều sẵn có Phật tánh viên mãn, bình đẳng và chân giác.

d)🩷 Thật tướng bình đẳng lễ.

Trong pháp lễ này, người hành lễ không thấy có tự, có tha; người và mình là một, phàm và Thánh nhứt như, thể và dụng không hai.

Do đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồtát có nói:

🙏 “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là người lạy, và đấng mình lạy, thể tánh đều vẳng lặng.
Như thế mới thấu đáo và hợp lý Bát Nhã.

🙏🙏🙏 Bốn phép lễ này, lý cao khó nghĩ bàn, nếu chẳng phải bực thượng căn, thượng trí, thì không thấu nổi và khó làm theo được.

Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa ( 1918-1973 ) .
Trích trong : Phật Học Phổ Thông .

01/16/2025

QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ CHỮ " TU ".

Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

Chữ “ TU ” có lẽ là một chữ đã có từ lâu lắm trong danh từ của người Trung Hoa và Việt Nam.
Thế mà cho đến ngày nay còn không biết bao nhiêu người, cả trong giới Phật tử lẫn người ngoài còn quan niện chữ “Tu” một cách sai lầm, chật hẹp, mập mờ...

❤️ Ít ai hiểu được một cách đúng đắn, toàn diện chữ “Tu”.

Người đứng ở khía cạnh này của chữ “Tu” công kích người đứng ở khía cạnh kia, người cho mình tu như thế này là đúng, kẻ khác bảo như thế là sai.
Người này chấp chặt quan niệm thế này là phải, kẻ nọ chấp chặt quan niệm trái ngược lại, cuối cùng không ai biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là chánh, đâu là tà, đâu là hay, đâu là dở.
Những quan niệm sai lầm hay chật hẹp của người đời về chữ “Tu” không thể kể xiết được.
Dưới đây chúng tôi chỉ xin nêu lên một số quan niệm sai lầm hay chật hẹp thông thường nhất, cần đả phá mà thôi.
Đại loại chúng ta thường nghe phát biểu những ý kiến sau đây:

1.🍁 Trong thời khoa học, văn minh và vật chất này mà tu cái gì?

Người nói như thế là có ý nghĩ rằng, chỉ trong thời đại dã man, lạc hậu người ta mới tu, chứ không ngờ rằng càng văn minh, người ta càng tu và càng tu người ta càng tiến bộ.
Cũng có thể những người phát biểu ý kiến như trên, nghĩ lầm rằng thời đại này là thời đại chỉ để dành cho vật chất, là thời đại độc quyền của vật chất chứ tinh thần không có chỗ đứng nữa.
Nhưng xét cho đúng, thì không có thời đại nào có thể gọi là văn minh mà không chú trọng đến tinh thần.
🌷Vật chất càng phát triển mạnh, thì tinh thần càng phải được đề cao, để giữ cán cân thăng bằng cho xã hội nhân loại, nếu không thì sự sụp đổ không thể tránh khỏi được.

2. 🍁Già mới tu, chứ còn trẻ mà tu cái gì?

Những người thốt ca câu nói này đã hiểu lầm chữ “Tu”.
Họ xem nhà chùa như một nhà dưỡng lão, dành riêng cho ông già, bà cả không còn đủ sức để vật lộn với đời, nhựa sống sắp héo khô, hay mùi đời đã nếm trải, chán chường rồi, không còn thấy có sinh thú nữa.
Họ cho rằng tu hành là một cách an hưởng cảnh già trong khi chờ chết, chứ người trẻ trung ai lại đi tu.
Còn hạng thanh niên thì phải tranh đấu với đời, để tận hưởng những lạc thú, chứ sao lại lo chuyện tu hành?
Họ không ngờ rằng, người già hay trẻ gì cũng cần phải tu, và sự trẻ trung hăng hái cũng cần cho sự tu hành như cho bao nhiêu việc khác ở đời.
🍂 Vả lại, chắc gì chúng ta còn có một tuổi già để tu hành hay tử thần đã tàn nhẫn đến gõ cửa ngay khi chúng ta còn ở tuổi hoa niên?

3. 💜 Những người tật nguyền, bệnh hoạn, côi cút mới tu, chứ còn khỏe khoắn lành mạnh, làm ăn được mà tu cái gì?

Nói như thế là quan niệm rằng, nhà chùa cũng giống như một bệnh viện, một dưỡng đường, một nhà thương điên hay một nhà tế bần để cho những kẻ bị đời sa thải, vào chùa để nương nhờ tấm thân.
Họ không ngờ rằng tu cũng rất cần cho những người khỏe mạnh, có năng lực, có tài ba lỗi lạc, chứ không riêng cho hạng người tật nguyền, yếu đuối, côi cút...

4.🩷 Tu là phải xuất gia như chư Tăng, ni, chứ ở tại gia, vợ còn, con đủ mà tu cái gì?
Những người nói như thế là vì đã quan niệm một cách sai lầm rằng, tu là nhiệm vụ của những người thoát trần, lìa tục, dành riêng cho những hạng Tăng, ni là những người chán đời, yếm thế.
Họ không hiểu rằng:
Tu không phải chỉ có một hình thức là bỏ nhà đi ở chùa, mà chính ở đâu cũng tu được, và cũng không phải chỉ dành riêng cho hạng Tăng, ni mà tất cả mọi người đều cần phải tu.

5. ❤️ Tu phải ở núi, ở non, ở am, ở cốc, chứ ở chùa cao, Phật lớn, ngay giữa thành thị, đâu có phải là chơn tu?

Người nói như thế, vì tưởng rằng tu là phải xa lánh đời, trốn đời, không còn liên lạc gì với xã hội nữa.

Tu như thế là đứng về phương diện tiêu cực, chỉ lo riêng phần mình.
🙏 Chứ còn tu một cách tích cực, thì phải nhập thế, độ sanh, hoằng truyền chánh pháp.

6. 🤎 Tu là phải ép xác, ăn chay nằm đất, ăn ngọ, ngủ ngồi... vv, mới là chơn tu?
Nói như thế là hiểu chữ tu một cách phiến diện, hình thức, lấy những hình tướng không quan trọng hay sai lạc mà cho là chính yếu.
🙏 Phật đâu có dạy tu là phải ép xác?
Chính ngài là người đầu tiên bài xích lối tu này nhất.

🍁 Ăn chay như phái Đại thừa là một hình thức tu đã đành, nhưng không ăn chay, như phái Tiểu thừa, đâu phải là không tu.
Ăn ngọ thì tốt, nhưng không ăn ngọ cũng không phải là không tu được. Còn ngồi để tham thiền, niệm Phật thì mới quý, chứ ngồi mà ngủ, thà là nằm ngủ còn khỏe hơn.
🍁 Luật của Phật đâu có cấm nằm và bắt ngủ ngồi?

Nếu ngủ ngồi mà thành Phật được, thì hóa ra những kẻ ngủ gật đều thành Phật cả hay sao?

7.💜 Có người nói: “Những người tuyệt cốc, chỉ ăn hoa quả, khoai, chuối mới là chơn tu?”

Nếu cho người chỉ ăn hoa quả là chơn tu, thì những người ăn cơm là không chơn tu hay sao?
Thế thì đức Phật khi còn tại thế, mỗi ngày đều mang bình bát đi khất thực, làm sao thành Phật được?
Và tất cả các đệ tử của Ngài, từ Tổ Ca-diếp trở xuống, có một vị nào cử cơm đâu?
Vả lại xét cho cùng, ăn cơm hay ăn hoa quả cũng giống nhau cả, vì lúa cũng là một giống quả, cũng là loài thảo mộc.
Cử một thứ quả này mà ăn một thứ quả khác, thì cũng chẳng khác gì nhau.
Những người làm như hình thức trên, chẳng qua vì thiếu học, không biết nên tu như thế nào, vả lại có tánh lập dị, muốn cho những kẻ hiếu kỳ chú ý, nên mới làm như vậy.

8. 🖤 Có người nói: “Tu như ông đạo ớt, đạo sả... kia mới thật là chơn tu, vì chỉ độ ớt, ăn muối tiêu, muối sả... chứ tu gì mà còn ăn đồ ngon bổ?”

Những người nói như thế, cũng như những người tu như thế, rõ ràng là không hiểu gì về chữ “Tu” hết.
Nếu ăn ớt chẳng hạn là chơn tu, thì những con chim sáo, chim nhồng chắc đã thành Phật cả rồi.

9. 💔 Có người nói: “Tu sao còn đau, còn uống thuốc?”

🍂 Nói như thế là hiểu lầm đạo Phật với đạo Tiên.
Người tu theo đạo Tiên thường phô trương rằng họ có phép thuật trường sanh, dùng sức nội công, luyện thần khí làm cho thân không già, không bệnh.
Những điều ấy chúng ta nghe cho biết vậy, chứ chưa có thể chứng thực được.
Nhưng theo giáo lý đạo Phật thì thân này là giả tạm, vô thường chỉ tạm dùng trong một thời gian để tu hành, cũng như chiếc thuyền tạm dùng để đưa người qua sông, rốt cuộc rồi cũng phải hư hoại.

🙏Mọi sinh vật trên đời đều phải tuân theo luật vô thường: Sanh, già, bệnh, chết.
Chính xác thân của đức Phật cũng không vượt ra ngoài bốn trạng thái ấy, huống chi là những người thường như chúng ta?

10.❤️ Những người đi khất thực, đầu không đội nón, che dù, chân không đi giày dép, không ngồi ghế, chẳng nằm ván... vv, mới thật là chơn tu.
Về việc tu hành, Phật chế có đến 84.000 pháp môn, mà khất thực chỉ là một trong các hạnh.
Nếu chỉ có hành khất là chơn tu, thì còn vô số pháp môn khác không phải là chơn tu hay sao?
Còn che dù, đội nón, mang giày, guốc, ngồi ghế nằm ván, Phật đâu có ngăn cấm?
Trong 10 giới Sa-di,hai trăm năm mươi giới Tỳ-kheo, năm mươi tám giới Bồ-tát, không có một giới nào Phật cấm che dù, đội nón, mang guốc, ngồi ghế và nằm ván cả.
Chỉ trừ khi vào Phật điện hay nghe pháp.

11.🧡 Ngoài ra còn có một số người hẹp hòi, chấp chặt pháp môn của mình tu là đúng, còn bao nhiêu pháp môn của người khác là sai.

🩵 Người tu pháp môn tịnh độ, họ cho chỉ có mình là theo đúng chánh pháp và tu như thế mới thành Phật được, ngoài ra những người tu theo bao nhiêu pháp môn khác hay làm các Phật sự khác đều cho là lạc đường, là không phải tu.

💛Người trì giới cho rằng trì giới mới là tu, còn các pháp môn khác đều không có hiệu quả.
🩷 Người tu thiền chỉ cho có tu thiền mới chứng được Phật quả, còn bao nhiêu pháp môn khác đều vô bổ, chẳng đưa đến đâu cả.

💙 Người tu theo hạnh Bồ-tát làm việc lợi tha, từ thiện xã hội,... vv, cho như thế mới là tu, và bài xích các lối tu khác.

Các quan niệm, thái độ trên đều là hiểu phiến diện hẹp hòi, vì chưa hiểu rốt ráo toàn diện chữ “Tu”.
Tình trạng này, trong Nhiếp Đại Thừa luận có thí dụ, như người mù rờ voi, rờ được phần nào thì cho phần ấy là con voi.
Nếu tu chỉ có một pháp môn như họ chấp, thì đức Phật nói Tam tạng kinh điển, Ngũ thừa Phật giáo và 84.000 pháp môn để làm gì?

12.💔 Cuối cùng, có người cho rằng tu sẽ làm cho con người nhu nhược, dễ bị người lấn áp, bóc lột, nếu tất cả dân chúng trong nước đều tu, thì nước sẽ mất.

Nói như thế thì quan niệm người tu hành chẳng khác gì một cục đất, mặc tình cho ai muốn lăn đi đâu thì lăn, bóp méo vo tròn như thế nào cũng được.
Thật ra, tu đâu có phải là khiếp nhược, đầu hàng, yếu đuối, mà trái lại là hùng lực, là dõng mãnh, là tinh tấn, không sợ đau, không sợ chết, không sợ hy sinh.
Đức Phật Thích-ca đã dám rũ bỏ tất cả để theo chí nguyện của mình, xuất gia tìm đạo, trải bao gian khổ, vượt bao trở ngại, đâu có nhu nhược, có bị ai lấn át được đâu?

🍁Đời Lý, đời Trần, mà toàn dân đều theo Phật giáo, có phải là những thời đại yếu hèn đâu?
🍁 Nước Nhật Bản ngày nay mà phần lớn dân chúng là Phật tử lại là một nước đứng trong hàng ngủ những nước hùng cường nhất thế giới.

🙏🙏🙏 Tóm lại, tất cả các quan niệm sai lầm hay chật hẹp nói trên, đều do ở chỗ chưa rõ biết một cách đầy đủ, chính xác toàn diện chữ “TU”.

Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa ( 1918- 1973)
Trích trong : CHỌN ĐƯỜNG TU.

01/16/2025

UY NGHI KHI LỄ LẠY , TỤNG KINH .

Cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh .

🙏 Không nên đứng ở khoảng giữa trước bàn thờ mà lễ lạy, vì đó là chỗ của vị thủ tọa.

🍁 Khi có người đang lạy, không đi ngang qua trước mặt người ấy.

🍁 Khi muốn thực tập lễ lạy, nên vào sớm trước khi có chuông báo giờ tọa thiền của chúng, hoặc sau khi đại chúng đã xong buổi công phu để tránh gây trở ngại cho những người khác đang đi lại trong thiền đường.

🙏 Chắp tay phải ngay ngắn, các ngón tay không so le, tay không cầm vật gì.

🪷Nếu quán tưởng hai bàn tay là búp sen, thì có thể có chỗ trống giữa lòng hai bàn tay.

🍁 Không đụng các ngón tay vào cằm hoặc vào lỗ mũi.

❤️ Thở nhẹ và sâu ba hơi rồi quán tưởng trước khi lạy.

🙏 Khi lạy, đưa búp sen hai tay lên ngang trán, rồi hạ xuống ngang ngực trước khi xòe hai tay sang hai bên để lạy xuống.

🩷 Đưa tay lên ngang trán và đi ngang qua bình diện trái tim ngụ ý đem cả tim và óc mình mà lễ lạy.

❤️ Khi lạy xuống, năm vóc phải thực sự sát đất.

🧡Trong tư thế năm vóc sát đất, ngửa hai bàn tay ra hai bên đầu, tỏ ý trình bày hết con người thật của mình lên Bụt, không dám dấu diếm một điều gì.

🙏Lạy xuống, phải buông bỏ hoàn toàn ý niệm về ngã. 🙏

💜 Mình không là gì cả, mình không có gì cả, tất cả cơ thể, sức khỏe, tài năng, thông minh, kiến thức của mình đều là những gì của tổ tiên tâm linh và huyết thống trao truyền lại.

❤️ Lạy như thế nào mà hòa nhập được vào dòng sống của tổ tiên và các thế hệ hậu lai, để không thấy mình còn một cái ta riêng rẽ và khổ đau. ❤️

🙏Trong tư thế năm vóc sát đất, nên thở thật thoải mái ba lần, để cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng và không lo lắng gì trong giờ phút ấy.
Đây là một phép thực tập quay về nương tựa nơi dòng sống bất diệt của tổ tiên.
Nếu Phật đường đông người quá thì có thể chọn những lúc vắng người để lễ lạy.

🙏Nên thực tập năm cái lạy, ba cái lạy hoặc Sám pháp địa xúc mỗi ngày, vì lạy như thế giúp ta chuyển hóa khổ đau và trị liệu tâm lý cô đơn và giải trừ những mặc cảm.

🩷 Tụng kinh, nên để tâm ý vào lời kinh, đừng nên chỉ chú trọng vào kỹ thuật tán tụng và âm điệu.

🙏 Niệm Bụt đừng niệm suông bằng miệng, phải tiếp xúc với nội dung đại từ, đại bi, đại trí và đại nguyện của Bụt.
Nên biết sử dụng mười danh hiệu Bụt để làm sống dậy trong tâm những chất liệu ấy của Bụt.

🍁 Xướng tụng không nên bắt giọng quá cao hay quá thấp.

🍂 Không nên sử dụng bùa phép, xem tướng, bói quẻ, chủ trương đốt vàng mã và tiền giấy, không cúng giải trừ sao hạn, thực tập đồng bóng, trừ tà yếm quỷ.

💜 Không nên biến sự thực tập hộ niệm thành nghề cúng bái, đưa ra giá cả cho những đám tang hoặc những buổi cầu siêu.

Cố Thiền Sư Thích Nhất Hạnh ( 1926-2022) .
Trích trong : Các thiên uy nghi .

01/11/2025

Huynh trưởng Tâm Kiểm – Bạch Hoa Mai, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1939 tại làng An Cư Đông, Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế, trong một gia đình thâm tín đạo Phật. Từ nhỏ, anh đã được nuôi dưỡng trong môi trường thấm nhuần giáo lý Phật-đà, tạo nền tảng vững chắc cho hành trình phụng sự đạo pháp và dân tộc sau này. Sau biến cố năm 1975, anh định cư tại Hoa Kỳ và trở thành một trong những huynh trưởng tiên phong xây dựng nền móng cho tổ chức tại đây, rồi lan rộng hải ngoại – thế Giới. Anh từng đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPTVN tại Hoa Kỳ.

Trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam đối mặt với nhiều thử thách, đặc biệt là những áp lực và hạn chế từ chính quyền, anh Tâm Kiểm đã thể hiện tinh thần lãnh đạo kiên định và dũng cảm. Anh không những xây dựng và củng cố tổ chức GĐPTVN tại Hoa Kỳ, mà còn góp phần duy trì và phát triển GHPGVNTN, đặc biệt chi phần hải ngoại trong giai đoạn khó khăn. Sự “xả thân” của anh, vừa là bổn phận cá nhân, vừa đại diện cho tinh thần hy sinh của tập thể Lam viên.

Từ sau năm 1975, Phật giáo Việt Nam bước vào một giai đoạn khó khăn chưa từng có. Những giới hạn và áp lực từ chính quyền khiến cho sự hành hoạt của GHPGVNTN – một tổ chức độc lập và có truyền thống lâu đời – gặp muôn vàn khó khăn. Trong đó, tổ chức Gia Đình Phật Tử, một bộ phận của Giáo hội, cũng chịu sự kiểm soát và sách lược phân hóa của chính quyền.

Anh Tâm Kiểm, người đã sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị truyền thống của GĐPTVN và GHPGVNTN, đã không quản ngại gian nan để giữ vững ngọn đuốc sáng của đạo pháp. Tại hải ngoại, nơi Phật giáo Việt Nam cần phải thích nghi với môi trường mới đồng thời luôn phải đối mặt với nguy cơ mai một, anh đã kiên định hành động, đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài của GĐPTVN tại Hoa Kỳ.

Khái niệm “xả thân” trong đạo Phật mang ý nghĩa sâu xa, là sự dâng hiến toàn bộ tâm huyết và trí lực để phụng sự những giá trị cao đẹp. Đối với anh Tâm Kiểm, “xả thân”vừa là bổn phận cá nhân, vừa là trách nhiệm của tập thể GĐPTVN. Anh xem sự tồn tại và phát triển của GĐPT không đơn thuần chỉ là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên mà còn là sự bảo vệ cốt lõi của đạo Phật Việt Nam trước cơn bão của thời đại.

Dấn thân trong giai đoạn đầy biến động, anh không ngần ngại đón nhận những hy sinh cá nhân, từ bỏ đời sống ổn định để dành trọn tâm huyết vào công cuộc bảo vệ và phát triển GĐPTVN tại Hoa Kỳ. Những cống hiến này là hành động cá nhân, cùng lúc mang tính biểu tượng cho sự kiên cường của Phật giáo Việt Nam trong lòng pháp nạn.

Và trong bối cảnh pháp nạn và quốc nạn dai dẳng, hành hoạt của anh Tâm Kiểm minh chứng cho tinh thần lãnh đạo vượt lên trên mọi khó khăn. Anh không chọn con đường dễ dàng, không tô vẽ mình như một anh hùng hoàn hảo, mà sống một cách chân thật, bền bỉ với lý tưởng.

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động như vậy, “xả thân” không còn là sự hy sinh cá nhân, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về việc đặt tập thể lên trên lợi ích riêng. Với cố Huynh trưởng Tâm Kiểm – Bạch Hoa Mai, tinh thần “xả thân” ấy đã được thể hiện rõ nét qua việc GĐPTVN tại Hoa Kỳ, sẵn sàng đánh đổi sự toàn vẹn và ổn định của tập thể để đáp ứng ý chỉ cao cả của cố Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN.

Vào thời điểm đó, GĐPTVN tại Hoa Kỳ đã phát triển thành một thực thể ổn định, có tôn chỉ rõ ràng và hệ thống vận hành tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, ý chỉ của cố Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã đặt ra một nhiệm vụ mới, vượt lên trên khuôn khổ nội bộ: phục vụ cho sự phục hoạt của GHPGVNTN. Điều này không chỉ đòi hỏi sự thay đổi về tổ chức mà còn buộc GĐPT phải hy sinh sự ổn định vốn có để hòa mình vào dòng chảy đấu tranh chung.

Anh Tâm Kiểm, với vai trò lãnh đạo, không ngần ngại chấp nhận những thách thức và nguy cơ từ quyết định này. Anh hiểu rằng, GĐPT thực sự là một chi phần của Giáo hội, thì tổ chức cần sẵn sàng từ bỏ sự thoải mái và an toàn trong khuôn khổ hiện hữu. Đây là một hành động xả thân mang tầm chiến lược và biểu tượng, thể hiện lòng trung kiên và ý chí phụng sự đạo pháp bất chấp những khó khăn có thể xảy ra.

Ý chỉ của cố nhị vị Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ không đơn thuần là một lời kêu gọi, mà chính là sự khẳng định vai trò thiết yếu của GĐPT trong công cuộc bảo vệ và phục hoạt Giáo hội. Để hiểu được ý nghĩa sâu xa này, Anh chị em Huynh trưởng cần phải đặt mình vào dòng chảy vận mệnh chung của đạo pháp và quốc nạn. Đây không phải là một sứ mệnh mang tính tôn giáo mà còn là sự bảo tồn di sản tinh thần của dân tộc Việt Nam trước những biến động của thời đại.

Trong những giai đoạn lịch sử đầy thử thách của GHPGVNTN, ý chỉ của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã trở thành kim chỉ nam cho các Phật tử và những thành viên trung kiên của Giáo hội. Đặc biệt, lời nhắn nhũ thâm thiết: “Giáo hội cần có một BHDTƯ GĐPT…”, cùng với sự nhấn mạnh từ Hòa thượng Thích Quảng Độ về vai trò của GĐPT như một nguồn lực quan trọng bảo vệ và phục hoạt đạo pháp, đã đặt lên vai anh Tâm Kiểm và các đồng sự một trách nhiệm lớn lao.

Anh Tâm Kiểm đã thấu hiểu điều đó. Với anh, sự tồn tại của GĐPT không phải để nuôi dưỡng tâm hồn cho thế hệ trẻ, mà còn phải bảo vệ những giá trị cốt lõi của Phật giáo Việt Nam. Sự hy sinh của GĐPTVN tại Hoa Kỳ vào thời điểm ấy cần phải được nhìn nhận từ vị thế lịch sử khốc liệt như vậy, để chúng ta không những tồn tại, mà còn tồn tại một cách ý nghĩa, đồng thời “nếu có chết, cũng phải chết trong danh dự.”* Tồn tại trong ý nghĩa này chính là một phần không thể thiếu trong công cuộc phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại quê nhà.

Bấy giờ, ý chỉ của Hòa thượng là sự chỉ đạo, là lời hiệu triệu khơi dậy tinh thần hy sinh cao cả trong hàng ngũ lãnh đạo GĐPT. Để thực hiện ý chỉ ấy, GĐPTVN tại Hoa Kỳ đã phải vượt qua nhiều thử thách, thậm chí chấp nhận hy sinh tính toàn vẹn và ổn định của tổ chức, để hòa mình vào dòng chảy đấu tranh và xây dựng Giáo hội trong bối cảnh đầy khó khăn.

Hành động “xả thân” của anh Tâm Kiểm và GĐPTVN tại Hoa Kỳ trong giai đoạn đó, chính là minh chứng cho tinh thần hy sinh cao cả. Đó không chỉ là việc hy sinh cá nhân hay tập thể mà còn là sự hy sinh để giữ gìn lý tưởng. Sự “xả thân” này đã đặt nền móng cho một tổ chức GĐPT luôn tồn tại, không chỉ trong lòng cộng đồng Phật tử Việt Nam hải ngoại mà còn trong dòng chảy của lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Chỉ khi, thực sự đặt mình vào vận mệnh chung của đạo pháp mới có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa của sự hy sinh này. Đó là sự sẵn sàng chấp nhận mất mát, sẵn sàng từ bỏ sự an toàn để tiếp tục nuôi dưỡng ngọn lửa lý tưởng. Chính hành động ấy đã làm nên bản lĩnh của anh Tâm Kiểm, một lãnh đạo đích thực trong lòng pháp nạn và quốc nạn.

Cuộc đời và sự nghiệp của anh Tâm Kiểm để lại một bài học lớn cho tất cả chúng ta. Trong những thời khắc khó khăn nhất, điều cần thiết không phải là sự an toàn hay ổn định, mà là tinh thần dấn thân vì lý tưởng chung. Tinh thần “xả thân” của anh, được thực hiện không vì bản thân mà vì toàn thể cộng đồng.

Xả thân, trong ý nghĩa sâu sắc của nó, chính là sự sống hết mình cho những giá trị mà chúng ta tin tưởng. Và qua từng hành động, anh Tâm Kiểm đã chứng minh rằng sự hy sinh ấy không bao giờ là vô nghĩa, bởi nó nuôi dưỡng niềm tin và sức mạnh để đạo pháp và dân tộc Việt Nam tiếp tục tồn tại và phát triển.

Vào thời điểm nói trên, GĐPTVN tại Hoa Kỳ đã phát triển thành một thực thể ổn định, có tôn chỉ rõ ràng và hệ thống vận hành tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, việc thực hiện ý chỉ của nhị vị trưởng lão Hòa thượng đòi hỏi tổ chức phải đối mặt với những thách thức mới, đòi hỏi không những sự hy sinh cá nhân mà còn là sự đánh đổi về tính toàn vẹn của cả một tập thể.

Giờ đây, những huynh trưởng đã trưởng thành trong nhận thức, nhìn lại quá trình lịch sử đã qua, có thể cảm nhận được thông điệp sâu sắc từ ý chỉ của nhị vị Hòa thượng và tấm gương của các bậc đại nhân thượng sỹ, như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, sẵn sàng đương đầu với bao khổ nhục để kế tục sự nghiệp giữ sáng ngọn đèn Chánh Pháp và mạng mạch Giáo Hội. Thông điệp ấy là lời nhắc nhở về trách nhiệm với tổ chức và là lời mời gọi mỗi cá nhân soi xét lại chính mình: liệu chúng ta đã làm đủ để hộ trì đạo pháp và tổ tiên dân tộc chưa?

Tưởng niệm cố Huynh trưởng Tâm Kiểm chính là dịp để chúng ta tự vấn và củng cố thêm ý chí phụng sự. Sự nghiệp của anh là một phần của quá khứ đồng thời là động lực để thế hệ hiện tại tiếp tục hành động. Đó là bảo vệ sự trường tồn của Giáo hội, gìn giữ tinh thần GĐPT và lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc của Phật giáo.

Tưởng niệm cố Huynh trưởng Tâm Kiểm không phải chỉ nhớ về một con người, mà là nhớ về những lý tưởng cao cả mà anh đã sống và phụng sự. Đó là tinh thần xả thân, đặt vận mệnh của tổ chức và đạo pháp lên trên mọi sự an toàn cá nhân; đó là sự hy sinh vì một Giáo hội được tự do và độc lập hoằng đạo, một tổ chức GĐPT mạnh mẽ và gắn bó với dân tộc mình.

Chúng ta không thể dừng lại ở việc tri ân, mà cần tiếp nối tinh thần ấy bằng hành động cụ thể. Đó là trách nhiệm với GHPGVNTN trong và ngoài nước, với tổ chức GĐPTVN trên thế giới, và trên hết là với vận mệnh của đạo pháp và tổ tiên Việt Nam. Hãy để tấm gương của anh Tâm Kiểm nhắc nhở chúng ta rằng, những gì chưa hoàn thành hôm nay là nhiệm vụ của chính chúng ta cần tiếp tục hoàn thành trong tương lai.

Hành trình này, dù đầy thử thách, nhưng như anh đã từng chứng minh: xả thân vì lý tưởng cao cả không bao giờ là vô nghĩa.

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

Phật lịch 2568, Sacramento, CA ngày 4 tháng 12 năm 2025

Quang Ngộ Đào Duy Hữu
Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Address

2625 SE 44th Street
Oklahoma City, OK
73129

Opening Hours

10am - 3:30pm

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when GĐPT MINH ĐỨC posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share