Phap Luan Buddhist Culture Center Inc

Phap Luan Buddhist Culture Center Inc Phap Luan Buddhist Culture Center is a Buddhist temple. Sunday service begins at Noon. Service will be in Vietnamese.

06/15/2026

Lop Phat Phap Buddhadnamma

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: Thắng Pháp Bài học thứ hai  15.6.2024ĐẦU ĐỀ TAM(TIKAMĀTIKĀ) XIII. TAM ĐỀ CẢNH HY THIỂ...
06/15/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: Thắng Pháp

Bài học thứ hai 15.6.2024
ĐẦU ĐỀ TAM
(TIKAMĀTIKĀ)

XIII. TAM ĐỀ CẢNH HY THIỂU -PARITTĀ _RAMMAṆATTIKA
Tam đề cảnh hy thiểu là đầu đề chiết bán _ hữu dư.
Tam đề cảnh hy thiểu có ba pháp là:
a. Các pháp có cảnh hỷ thiểu (parittārammaṇā dhammā)
b. Các pháp có cảnh đáo đại (mahaggatārammaṇā dhammā)
c. Các có cảnh vô lượng (appamāṇārammaṇā dhammā)

a. Các pháp có cảnh hỷ thiểu (parittārammaṇā dhammā) là thế nào?
Các pháp tâm và tâm sở nào sanh khởi nhắm đến pháp hy thiểu, tâm và tâm sở nầy được gọi là các pháp có cảnh hy thiểu.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy có hai phần: phần pháp biết cảnh hy thiểu nhất định, và phần pháp biết cảnh hy thiểu bất định.
Pháp nhất định biết cảnh hy thiểu là 23 tâm quả dục giới với 33 thuộc tánh tương ưng; 1 tâm khai ngũ môn với 10 thuộc tánh tương ưng; 1 tâm sinh tiếu với 12 thuộc tánh tương ưng.
Pháp không nhất định biết cảnh hy thiểu là 8 tâm thiện dục giới với 38 thuộc tánh tương ưng, 8 tâm tố dục giới hữu nhân với 35 thuộc tánh tương ưng, 12 tâm bất thiện với 27 thuộc tánh tương ưng, 1 tâm khai ý môn với 11 thuộc tánh tương ưng, 2 tâm thiền thông.
Chú giải: Pháp hy thiểu làm cảnh cho những tâm nào, thì những tâm và tâm sở ấy được gọi là các pháp có cảnh hy thiểu, tức là biết cảnh hy thiểu.
Những pháp nhất định biết cảnh hy thiểu nghĩa là những pháp sanh khởi luôn luôn biết cảnh hy thiểu. Những pháp biết cảnh hy thiểu bất định nghĩa là những pháp ấy có thể biết cảnh hy thiểu, và có thể không biết.

b. Các pháp có cảnh đáo đại (mahaggatārammaṇā dhammā) là thế nào?
Các pháp tâm và tâm sở nào sanh khởi nhắm đến pháp đáo đại. Tâm và tâm sở nầy gọi là các pháp có cảnh đáo đại.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy có hai phần: phần pháp biết cảnh đáo đại nhất định và phần pháp biết cảnh đáo đại bất định.
Pháp nhất định biết cảnh đáo đại là 3 tâm thức vô biên xứ và 3 tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ với 30 thuộc tánh tương ưng.
Pháp không nhất định biết cảnh đáo đại là 12 tâm bất thiện với 27 thuộc tánh, 8 tâm thiện dục giới với 38 thuộc tánh, 8 tâm tố dục giới hữu nhân với 35 thuộc tánh, 1 tâm khai ý môn với 11 thuộc tánh, 2 tâm thiền thông.
Chú giải: pháp đáo đại làm cảnh cho những tâm nào thì những tâm và tâm sở ấy được gọi là các pháp có cảnh đáo đại, tức là biết cảnh đáo đại.
Tâm vô sắc thức vô biên xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ nhất định biết cảnh đáo đại vì chúng lấy tâm thiền chứng (không vô biên xứ hay vô sở hữu xứ) làm đề mục để tu chứng; còn những tâm khác biết cảnh đáo đại bất định là khi phản khán hay xét lại tâm thiền đã đắc.

c. Các pháp có cảnh vô lượng (appamāṇārammaṇā dhammā) là thế nào?
Các pháp tâm và tâm sở nào sanh khởi nhắm đến pháp vô lượng, tâm và tâm sở nầy gọi là các pháp có cảnh vô lượng.
Chi pháp trong ý nghĩa nầy có hai phần: pháp biết cảnh vô lượng nhất định và pháp biết cảnh vô lượng bất định.
Pháp nhất định biết cảnh vô lượng, là 4 hoặc 20 tâm đạo, 4 hoặc 20 tâm quả siêu thế với 36 thuộc tánh.
Pháp không nhất định biết cảnh vô lượng là 4 tâm thiện dục giới hợp trí, với 33 thuộc tánh (trừ giới phần và vô lượng phần); 4 tâm tố dục giới hữu nhân hợp trí, với 33 thuộc tánh (trừ vô lượng phần); 1 tâm khai ý môn với 11 thuộc tánh; 2 tâm thiền thông.
Chú giải: pháp vô lượng làm cảnh cho những tâm nào thì những tâm và tâm sở ấy được gọi là các pháp có cảnh vô lượng, tức là biết cảnh vô lượng.
Tâm đạo quả siêu thế biết cảnh vô lượng là níp bàn.
Các tâm hiệp thế bất định biết cảnh vô lượng là đạo, quả, và níp bàn, trong tường hợp phản khán (xét lại).
Phụ giải: 4 thiện sắc giới thọ lạc, 4 tố sắc giới thọ lạc, 5 quả sắc giới, 3 tâm không vô biên xứ, 3 tâm vô sở hữu xứ, là những pháp không thể nói là biết cảnh hy thiểu, biết cảnh đáo đại, hay biết cảnh vô lượng.
Sắc pháp và níp bàn là vô cảnh (anārammaṇā), không biết cảnh.

Tỳ kheo Tuệ Siêu biên soạn.

06/14/2026

Chùa Pháp Luân

06/14/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: Phật Pháp Cơ Bản

Bài học ngày 14.6.2026

Phần VII: NHỮNG ẨN DỤ TỪ KINH ĐIỂN
TRÙNG TRÙNG NHÂN QUẢ KHỞI TỪ Ý NIỆM NHỎ
Dụ Ngôn Cây Đa Và Hạt Giống

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: Phật Pháp Cơ Bản Bài học ngày  14.6.2026 Phần VII: NHỮNG ẨN DỤ TỪ KINH ĐIỂNTRÙNG TRÙN...
06/14/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: Phật Pháp Cơ Bản

Bài học ngày 14.6.2026

Phần VII: NHỮNG ẨN DỤ TỪ KINH ĐIỂN
TRÙNG TRÙNG NHÂN QUẢ KHỞI TỪ Ý NIỆM NHỎ
Dụ Ngôn Cây Đa Và Hạt Giống

Con người thường bị mê hoặc bởi những thành tựu lớn lao nên dễ xem thường những việc thiện nhỏ nhặt. Chúng ta ngưỡng mộ một bậc Thánh với giới đức thanh tịnh, tâm từ vô lượng và trí tuệ siêu việt, nhưng ít ai nhớ rằng không có vị Thánh nào xuất hiện từ hư không. Các Ngài cũng từng bắt đầu bằng những bước chân nhỏ bé trên con đường thiện pháp: một lần bố thí, một lần giữ giới, một lần chiến thắng cơn sân hận, một lần phát khởi lòng từ đối với chúng sinh. Từng hạt giống thiện ấy được gieo xuống, được tưới tẩm, được bảo vệ qua vô số năm tháng, để rồi cuối cùng kết thành cây đại thọ giác ngộ. Nếu nhìn thấy được tiến trình ấy, chúng ta sẽ hiểu rằng mọi sự vĩ đại trong thế gian đều bắt đầu từ những điều rất nhỏ.

Dưới đây là nguyên văn đoạn đối thoại và dụ ngôn này trong Milindapanha được dịch từ bản tiếng Pāḷi, thuộc phần về saṃsāra (Các câu hỏi về luân hồi)
Dụ Ngôn
"Rājā āha — ‘Kathan-ti? Upamaṃ karohī’ti." "Theroti āha — ‘Yathā mahārāja, kañci puriso opuñjitvā nyagrodhabījaṃ pathaviyā ropeyya, taṃ anupubbena vaḍḍhitvā mahānyagrodho assa paripūro sākhāpallavo, kiṃ nu kho mahārāja, taṃ bījaṃyeva so mahānyagrodho’ti?" "‘Na hi bhante’ti."
"‘Na ca so mahārāja, taṃ bījaṃ, tato pana taṃ bījamūlakaṃ tammūlakaṃ so mahānyagrodho uppanno, evameva kho mahārāja, imasmiṃ nāmā rūpe jīvamāne aññaṃ nāmā rūpaṃ paṭisandahati, tena ca nāmā rūpena na mutto pāpakehi kammehi’ti."
Nhà vua hỏi: "Như thế nào? Xin cho một ví dụ." Tôn giả đáp: "Tâu Đại vương, ví như có người đem gieo hạt giống cây đa xuống đất, hạt giống ấy theo thứ tự lớn lên thành cây đa vĩ đại, cành lá sum suê. Tâu Đại vương, cây đa vĩ đại ấy có phải chính là hạt giống đó chăng?" Nhà vua đáp: "Bạch không phải, thưa Ngài."
Tôn giả nói: "Tâu Đại vương, cây đa ấy tuy không phải là hạt giống, nhưng nó lại bắt nguồn từ hạt giống ấy, do duyên hạt giống ấy mà sinh ra. Cũng vậy, tâu Đại vương, khi danh sắc này chấm dứt, một danh sắc khác sẽ tái sanh nối tiếp; và danh sắc mới ấy không thoát khỏi các nghiệp (thiện hay ác) do danh sắc trước đã tạo."

Ý nghĩa
Tiềm Năng Vô Hạn Của Nghiệp (Kammavega)
Một hành động (nghiệp) dù thiện hay ác, khi mới khởi sinh thường rất nhỏ nhặt, giống hệt hạt cây đa. Một ý niệm sân hận thoáng qua, một lời nói bất thiện vô tình, hay một việc làm bố thí khiêm tốn – tất cả ban đầu dường như vô hại, dễ bị khinh thường. Nhưng một khi được gieo vào “vườn tâm” – mảnh đất của ý thức – nó mang theo năng lượng tiềm tàng (Kammavega), một sức mạnh vô hình nhưng mãnh liệt.
Theo Abhidhamma, nghiệp không phải là hành động chết cứng mà là cetana (tư – ý chí hướng dẫn). Tư này như chất dinh dưỡng bên trong hạt giống, quyết định toàn bộ quá trình phát triển. Khi đủ duyên (đất tốt, nước mưa, ánh nắng – tức là các paccaya như hetu-paccaya, ārammaṇa-paccaya), năng lượng ấy sẽ vận hành:
• Tích lũy và lớn mạnh: Giống như hạt đa nảy mầm, đâm rễ, vươn thân, đâm chồi, sum suê lá. Một nghiệp thiện nhỏ (như niệm Phật một câu, giữ giới một ngày) có thể tích tụ thành phước báo to lớn: sức khỏe, trí tuệ, hoàn cảnh thuận lợi, thậm chí tái sinh vào cõi lành.
• Quả báo dị thục (Vipāka): Khi chín muồi, nó “trổ quả” ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh. Một ác nghiệp nhỏ nếu lặp lại nhiều lần có thể dẫn đến đại họa; ngược lại, thiện nghiệp nhỏ kiên trì có thể thay đổi cả kiếp sống.
Tôn giả Nagasena nhấn mạnh: Đừng khinh thường hạt giống nhỏ. Trong Dhammapada, Đức Phật dạy: “Người ngu nghĩ ác nhỏ không hại, nhưng khi ác đầy bình thì chịu khổ”. Ngược lại, thiện nghiệp dù nhỏ cũng như giọt nước tích tụ thành biển cả phước đức.
Trong đời sống hiện đại, dụ ngôn này nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm với từng khoảnh khắc. Một suy nghĩ tiêu cực lặp lại có thể trở thành thói quen stress, bệnh tật; một thói quen thiền định hàng ngày có thể dẫn đến giác ngộ. Tâm ta chính là mảnh đất phì nhiêu – gieo gì, gặt nấy. Đó là Kamma-vega: sức mạnh đẩy đưa của nghiệp, không phải định mệnh mù quáng mà là quy luật tự nhiên của nhân-quả.
Tiến Trình Liên Tục Không Có “Cái Tôi” Cố Định (Vô Ngã)
Nhà vua hỏi tiếp, với óc logic sắc bén: “Cây đa lớn lên có phải chính là hạt cây đa ban đầu không?”
Tôn giả Nagasena đáp một cách thâm thúy: Không phải là một, cũng không phải là hai khác biệt hoàn toàn.
• Hạt giống đã thối rữa, biến mất – cây đa to lớn không phải là “cái ta” của hạt.
• Nhưng nếu không có hạt ấy, cây đa không thể sinh ra. Cây là sự tiếp nối (santati) của dòng năng lượng từ hạt.
Tương tự, chúng sanh ở kiếp sau không hoàn toàn là chúng sanh kiếp trước (vì ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức – thay đổi từng khoảnh khắc, không có thực thể cố định), nhưng cũng không phải là người hoàn toàn xa lạ. Đó là một tiến trình tương tục của nghiệp lực. Năng lượng của nghiệp dẫn truyền từ dòng tâm thức này sang dòng tâm thức khác, giống như dòng chảy từ hạt thành mầm, thành cây, thành quả, rồi hạt mới – không gián đoạn, không có “cái tôi” di chuyển như một linh hồn.
Đây chính là Anattā – giáo lý vô ngã sâu sắc của Phật giáo. Chúng ta thường bám víu vào “cái tôi” như một thực thể bất biến, dẫn đến tham-sân-si. Nhưng qua dụ ngôn, Tôn giả Na-tiên cho thấy: tất cả chỉ là danh-sắc (nāma-rūpa) nối tiếp nhau theo duyên khởi (paṭiccasamuppāda). Không có ai “chết đi” hay “sinh ra” một cách độc lập; chỉ có sự diệt sinh liên tục của các pháp hữu vi.
Dụ ngôn này bác bỏ hai cực đoan:
• Thường kiến: Tin có linh hồn vĩnh hằng di chuyển (như hạt biến thành cây mà không thay đổi).
• Đoạn kiến: Tin chết là hết, không nhân quả (như cây mọc mà không từ hạt).
Trung đạo là dòng chảy nghiệp: Liên tục nhưng vô ngã, nhân quả rõ ràng nhưng không có người chịu quả cố định.
Ý Nghĩa Thực Tiễn Và Ứng Dụng Trong Tu Tập
Dụ ngôn cây đa không chỉ là triết lý suông mà là kim chỉ nam cho thực hành:
1. Chánh niệm gieo nghiệp: Mỗi ngày, chúng ta đang gieo hàng ngàn hạt giống qua thân-khẩu-ý. Hãy dùng Tứ Niệm Xứ để quán sát, chọn gieo thiện thay vì ác.
2. Tích lũy ba-la-mật: Như cây đa cần thời gian phát triển, tu tập đòi hỏi kiên trì. Bố thí, trì giới, thiền định – những hạt giống nhỏ sẽ trở thành đại thụ giải thoát.
3. Hồi hướng và chuyển hóa: Ngay cả nghiệp quá khứ cũng có thể được chuyển hóa bằng thiện nghiệp hiện tại, giống như chăm bón đất để hạt giống tốt lấn át hạt xấu.
4. Vô ngã trong đời sống: Giảm bớt chấp ngã giúp ta sống nhẹ nhàng hơn, tha thứ dễ dàng hơn, và hướng tới Niết-bàn – nơi dòng chảy nghiệp lực dừng lại.
Gieo Hạt Giống Tâm Và Tỏa Bóng Cuộc Đời
Dụ ngôn cây đa trong Milindapañha là một lời nhắc nhở sâu sắc, vượt thời gian: Đừng khinh thường một hành động nhỏ (dù thiện hay ác), vì tâm ta chính là mảnh đất phì nhiêu, và mỗi ý nghĩ, lời nói, việc làm là một hạt giống mang tiềm năng vô hạn, chờ ngày “tỏa bóng” xuống cuộc đời của chính chúng ta và muôn loài.
Dụ ngôn cây đa trong Milindapañha mở ra một chân lý vừa đơn giản vừa sâu thẳm: số phận của một đời người không được quyết định bởi những biến cố lớn lao hiếm hoi, mà bởi những hạt giống nhỏ bé được gieo vào tâm thức mỗi ngày. Không ai nhìn vào một hạt đa nhỏ xíu mà có thể hình dung được bóng mát rộng lớn của cây đại thọ trong tương lai. Thế nhưng chính trong hạt giống ấy đã tiềm tàng cả một khu rừng của cành lá, hoa trái và sự sống. Cũng vậy, nghiệp không nên được đánh giá bằng kích thước của hành động lúc khởi đầu, mà bằng sức tăng trưởng vô hạn của nó trong dòng nhân duyên. Một niệm thiện tuy mong manh như tia nắng sớm, nhưng khi được nuôi dưỡng bằng chánh kiến, chánh niệm và thiện duyên, nó có thể trở thành nền tảng cho phước báu, trí tuệ và giải thoát trong nhiều đời nhiều kiếp.
Dụ ngôn này cũng là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ đối với người học Phật. Nhiều người mong cầu an lạc, trí tuệ và giải thoát, nhưng lại bỏ qua những cơ hội tu tập đang hiện hữu trong từng ngày sống. Họ chờ một dịp đặc biệt để làm việc thiện, một hoàn cảnh thuận lợi để hành thiền, một môi trường lý tưởng để tu học. Nhưng sự thật là tương lai luôn được kiến tạo từ hiện tại. Một lời nói chân thật hôm nay là hạt giống của niềm tin ngày mai. Một hành động từ bi hôm nay là hạt giống của tình thương ngày mai. Một giờ hành thiền hôm nay là hạt giống của định tĩnh và tuệ giác trong tương lai. Không có cây đa nào mọc lên nếu hạt giống chưa được gieo xuống đất; cũng không có giác ngộ nào xuất hiện nếu thiện nghiệp chưa được vun bồi từ những điều bình dị nhất.
Vì thế, ý nghĩa sâu xa nhất của dụ ngôn cây đa chính là niềm hy vọng và trách nhiệm. Hy vọng, bởi dù hiện tại còn nhiều khiếm khuyết, mỗi người đều đang mang trong mình những hạt giống của sự thánh thiện. Trách nhiệm, bởi mỗi ý nghĩ, lời nói và hành động đều là những hạt giống đang được gieo vào cánh đồng tâm thức. Ngày mai sẽ trở thành khu vườn hay bụi g*i, bóng mát hay bóng tối, không phải do ngẫu nhiên, mà do những gì chúng ta đang gieo trồng trong từng khoảnh khắc hiện tại. Và biết đâu, một niệm thiện rất nhỏ phát khởi hôm nay lại chính là "hạt đa" đầu tiên của con đường đưa đến giác ngộ trong một tương lai xa rộng không thể nghĩ bàn.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

06/12/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma​
Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG

Bài học ngày 12.6.2026

Duyên hệ theo Thắng Pháp
VÔ GIÁN DUYÊN (ANANTARAPACCAYO)

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma​Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG Bài học ngày 12.6.2026 Duyên hệ theo Thắng PhápVÔ GIÁN DUYÊN (A...
06/12/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma​
Môn học: THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG

Bài học ngày 12.6.2026

Duyên hệ theo Thắng Pháp
VÔ GIÁN DUYÊN (ANANTARAPACCAYO)


Vô Gián Duyên (Anantarapaccayo) cùng với duyên tương tự là Liên Tiếp Duyên (Samanantarapaccayo) chỉ rõ tại sao dòng tâm thức tồn tại liên tục, theo tuyến tính, và vô ngã. Vô Gián Duyên không chỉ đơn thuần là ý niệm tác động và bị tác động mang tính thời gian, mà nó là bản đồ mô tả thực tại tâm thức tạo nên bởi dòng chảy liên tục của các sát-na tâm pháp.
Vô Gián Duyên cần được hiểu trên cả ba bình diện: ngữ nghĩa, bản thể, cơ chế vận hành của diễn trình tâm (Cittavīthi), và ý nghĩa của duyên hệ nầy trong việc phá vỡ ảo tưởng về một "Cái Tôi" hằng hữu.
ĐỊNH NGHĨA
Thuật ngữ Anantara được cấu thành từ tiền tố phủ định An- (Không, không có) + Antara (Khoảng cách, khe hở, sự gián đoạn). Do đó, Anantara nghĩa là "không có khoảng cách", "liền kề tuyệt đối", "vô gián". Paccaya: Duyên, điều kiện trợ sanh, năng lực móc nối cấu trúc năng sở.
Anantarapaccayo (Vô Gián Duyên): Là năng lực tác động của một tâm vừa diệt đi, làm câu thông và bắt buộc một tâm tiếp theo sanh khởi ngay lập tức mà không có bất kỳ một tích tắc hay khoảng hở thời gian nào chen vào giữa.
Bộ Paṭṭhāna định nghĩa mối quan hệ này qua mệnh đề cốt lõi:
Purimā purimā cittacetasikā dhammā pacchimānaṃ pacchimānaṃ cittacetasikānaṃ dhammānaṃ anantarapaccayena paccayo.
Tâm và thuộc tánh sinh trước, làm duyên cho Tâm và thuộc tánh sinh sau bằng năng lực Vô Gián Duyên.
PHÁP BẢN THỂ
Năng duyên : Tâm (Citta) và các Tâm sở (Cetasika) tương ưng vừa diệt.
Sở duyên : Tâm và các Tâm sở tương ưng sanh khởi kế tiếp.
Sắc pháp (Rūpa) và Niết-bàn (Nibbāna) hoàn toàn đứng ngoài trục vận hành của Vô Gián Duyên. Sắc pháp hay vật chất không có đặc tính tự nhường chỗ theo chuỗi liên tục như tâm. Niết-bàn là pháp vô vi, không sinh không diệt nên không thuộc trục thời gian này.
Động lực học Sát-na và Cơ chế "Nhường chỗ"
Thắng Pháp Abhidhamma nêu rõ một định lý: Tại một thời điểm, chỉ có một tâm duy nhất tồn tại. Không bao giờ có hai tâm cùng sanh khởi song song. Tâm thức không phải là một khối đặc mà là một chuỗi các Sát-na tâm (Cittakkhaṇa) nối đuôi nhau sinh diệt với tốc độ khủng khiếp (hàng tỷ sát-na trong một cái chớp mắt).
Một sát-na tâm trải qua 3 vi sát-na: Sinh (Uppāda) rồi Trụ (Ṭhiti) rồi Diệt (Bhaṅga).
Tâm Năng Duyên di30tiệt (Bhaṅga) tạo nên Năng lực Vô Gián Duyên) khiến Tâm Sở Duyên sinh (Uppāda) Cơ chế vận hành của Vô Gián Duyên nói lên một nghịch lý của thực tại: Sự diệt đi của cái trước chính là điều kiện bắt buộc cho sự ra đời của cái sau. Nếu tâm trước đang ở trạng thái chưa diệt thì tâm sau không thể sanh. Chính sự hoại diệt của sát na trước tạo nên một tác động — đó là Vô Gián Duyên. Năng lực này đóng vai trò như một lực hút hoặc một sự "nhường chỗ" tuyệt đối. Giữa khoảnh khắc Tâm A biến mất và Tâm B xuất hiện, không có một kẽ hở nào tồn tại. Sự liên tục này tạo ra ảo giác về một dòng tâm thức hằng hữu.

VÔ GIÁN DUYÊN TRONG DIỄN TRÌNH TÂM (CITTAVĪTHI)
Để thấy rõ Vô Gián Duyên vận hành sống động như thế nào, hãy quan sát cấu trúc của một Lộ trí giác quan thông thường (ví dụ: Lộ ngũ môn khi có một cảnh sắc rất lớn đi qua nhãn môn):..➔ [Bhavanga (Tiềm thức)] ➔ [Kāmāvacaraara-vajjana (Khán ngũ môn)] ➔ [Cakkhuviññāṇa (Nhãn thức)] ➔ [Sampaṭicchana (Tiếp nhận)] ➔ [Santīraṇa (Kiểm tra)] ➔ [Votthapana (Xác định)] ➔ [Javana (Xử lý 1➔7)] ➔...
Trong chuỗi tiến trình này, Vô Gián Duyên là "sợi chỉ đỏ" bắt buộc trật tự của các tâm không bao giờ được phép hỗn loạn:
1. Tâm tiềm thức (Bhavaṅga) vừa diệt, làm vô gián duyên cho Tâm Khán ngũ môn (Pañcadvāravajjana) sanh khởi để hướng về đối tượng.
2. Tâm khán ngũ môn diệt, lập tức nhường chỗ cho Nhãn thức (Cakkhuviññāṇa) khởi lên để thực hiện chức năng nhìn.
3. Nhãn thức diệt, làm duyên vô gián cho Tâm Tiếp nhận (Sampaṭicchana)... và cứ thế tiến trình đẩy sâu vào 7 sát-na Tâm Xử lý (Javana) – công đoạn tạo tác nghiệp thiện hoặc ác.
Tính chất quyết định của nguyên lý tâm thức (cittaniyama): Nếu không có Vô Gián Duyên, trật tự này sẽ sụp đổ. Nhãn thức không thể tự dưng nhảy vọt lên tâm xử lý (Javana) nếu không đi qua các bước trung gian mang tính sinh học tâm thức. Vô Gián Duyên là luật pháp nghiêm khắc nhất thống trị thế giới nội tâm, đảm bảo rằng dòng tâm thức vận hành như một cỗ máy tự động chính xác đến từng phần tỷ giây.
ĐẬP TAN ẢO TƯỞNG VỀ TỰ NGÃ (ANATTĀ)
Vấn đề cốt lõi của vô minh (Avijjā) là khuynh hướng tổng hợp các hiện tượng rời rạc thành một chỉnh thể đặc hữu, từ đó dựng lên ảo tưởng về một "Cái Tôi" (Attā), một linh hồn bất tử xuyên suốt từ quá khứ đến tương lai. Tôi đang nghĩ, tôi đang vui, tôi đang đau khổ.
Vô Gián Duyên chính là điểm quan trọng giúp tuệ quán để đập tan ảo tưởng về thực thể liên tục: Khi ta nhìn một cuộn phim nhựa được chiếu trên máy chiếu với tốc độ cao, mắt ta thấy một dòng chuyển động mượt mà liên tục của nhân vật. Thực chất, đó là hàng ngàn bức ảnh tĩnh đứng độc lập được thay thế nhau liên tục.
Dòng tâm thức cũng chính là một cuốn phim như vậy. Vô Gián Duyên chứng minh rằng tâm thọ xả trước đó và tâm thọ hỷ sau đó là hai thực thể hoàn toàn khác biệt. Chúng không chung một bản chất, không có một "gã tài xế" nào ngồi sau tay lái điều khiển từ trạng thái vui sang trạng thái buồn. Chỉ có Tâm trước diệt đi, làm duyên cho Tâm sau sinh khởi theo luật Vô gián.
Khi Tuệ quán (Vipassanā) nhìn thấy sâu sắc Vô Gián Duyên, hành giả sẽ kinh ngạc nhận ra: Không có ai đang suy nghĩ cả, chỉ có các sát-na tâm đang sinh diệt nối đuôi nhau một cách tự động dưới sự chi phối của năng lực duyên hệ. Cái gọi là "Tôi" thực chất chỉ là một cái tên gọi ước quy ước đặt cho tiến trình chuyển dịch vô gián của danh pháp.
LÝ GIẢI QUAN TRỌNG VỀ SANH TỬ LUÂN HỒI
Một trong những ứng dụng tối quan trọng và ly kỳ nhất của Vô Gián Duyên được Abhidhamma mô tả chính là khoảnh khắc lâm chung — sự chuyển giao giữa kiếp sống cũ và kiếp sống mới.
Tại ranh giới của cái chết, sát-na tâm cuối cùng của một đời người được gọi là Tâm Tử (Cuti-citta). Ngay khi Tử tâm vừa diệt, năng lực Vô Gián Duyên lập tức vận hành mà không chậm trễ một sát-na, làm duyên cho sát-na tâm đầu tiên của kiếp sống kế tiếp sinh khởi, gọi là tâm tục sinh (Paṭisandhi-citta).
[KIẾP SỐNG CŨ] ➔ [Tử tâm (Cuti-citta)] (Vô Gián Duyên - Phi không gian/thời gian) [KIẾP SỐNG MỚI] ➔ [kiết sanh thức (Paṭisandhi-citta)] Năng lực này siêu việt không gian. Dù một người nhắm mắt ở Houston (Mỹ) và tái sanh làm một sinh linh ở một thế giới khác cách hàng triệu năm ánh sáng, thì khoảng cách vật lý ấy bằng không đối với Vô Gián Duyên. Không có một linh hồn hay hương linh nào bay lơ lửng trong không gian để đi tìm chỗ đầu thai; chỉ có tử tâm diệt ở đây và ngay lập tức tâm tục sinh khởi lên ở kia, khít khao, liên tục, vô gián. Đây cũng chính là nguyên lý giải thích tại sao không có hiện tượng “thân trung ấm” trong Tam tạng Pali.

Vô Gián Duyên (Anantarapaccayo) hàm chứa ý nghĩa quan trọng về một thế giới tâm thức không có chỗ cho sự ngẫu nhiên hay một đấng sáng tạo. Nó dựng lên một cấu trúc thời gian nội tại, nơi mỗi sát-na tâm là một mắt xích nhận lãnh toàn bộ di sản năng lượng từ quá khứ và mở đường cho tương lai. Hiểu sâu sắc về Vô Gián Duyên không chỉ giúp người học Thắng Pháp nhận rõ sự tinh vi của hệ thống duyên hệ, mà quan trọng hơn, cung cấp một nhãn quan tuệ quán thực tiễn: nhìn vạn vật như một tiến trình tuôn chảy liên tục, buông xả sự bám chấp vào một ản tưởng về “cái tôi”.
Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn giáo trình

Lớp Phật Pháp BuddhadhammaMôn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA Bài học ngày 11.6.2026MỘT SỐ KINH VỀ GIÁ TRỊ VÀ NHÂN TỐ...
06/11/2026

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA

Bài học ngày 11.6.2026

MỘT SỐ KINH VỀ GIÁ TRỊ VÀ NHÂN TỐ ĐƯA ĐẾN QUẢ DỰ LƯU
Kinh Giàu Có I (Paṭhamamahaddhanasuttaṃ)
Kinh Giàu Có II (dutiyamahaddhanasuttaṃ)
Kinh Phiên Bản Tóm Lược (Suddhakasuttaṃ)
Kinh Nandiya (Nandiyasuttaṃ)
Kinh Bhaddiya (Bhaddiyasuttaṃ)
Kinh Mahānāma (Mahānāmasuttaṃ)
Kinh Các Chi Phần (Các Nhân Tố) (Aṅgasuttaṃ)
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Phẩm Các Dòng Chảy Với Kệ Ngôn - SN 55.43 đến 50


Trong khi thế gian thường đánh giá giá trị một con người qua tài sản, địa vị hay danh tiếng, Đức Phật lại đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn khác. Người giàu nhất không phải là người sở hữu nhiều vàng bạc, mà là người sở hữu bốn Thánh tài: niềm tin bất động nơi Tam Bảo và giới đức thanh tịnh. Đây là những tài sản không ai có thể cướp đoạt, không bị lửa thiêu, nước cuốn hay thời gian hủy hoại. Đức Phật không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi bốn Thánh tài, mà còn tuyên bố rằng người thành tựu bốn pháp ấy chính là một vị Nhập Lưu, người đã bước vào dòng Thánh đạo. Điều này cho thấy giá trị của tín và giới trong Phật giáo không phải là những phẩm chất phụ thuộc hay hình thức tôn giáo, mà là những dấu hiệu của một sự chuyển hóa tận gốc trong tâm thức. Khi một người thật sự thấy được ánh sáng của Chánh Pháp, niềm tin nơi Tam Bảo không còn là sự tin tưởng vay mượn từ người khác, mà trở thành sự xác tín phát sinh từ kinh nghiệm nội tâm. Từ đó, giới hạnh không còn là sự gò bó ép buộc, mà trở thành biểu hiện tự nhiên của trí tuệ và lòng tôn kính chân lý. Bài kinh cuối cùng lại chỉ ra con đường dẫn đến kho tàng ấy bằng bốn nhân tố rất thực tiễn: thân cận thiện nhân, nghe Chánh Pháp, như lý tác ý và thực hành đúng theo Chánh Pháp. Đây là một tiến trình chuyển hoá hoàn chỉnh. Thiện hữu tri thức mở cánh cửa, Chánh Pháp soi sáng con đường, như lý tác ý giúp tránh lạc hướng, và thực hành là những bước chân đưa người học đi đến đích. Không có bước nào có thể thiếu. Một hạt giống dù tốt đến đâu cũng cần đất lành, nước tưới và ánh sáng mặt trời mới có thể đơm hoa kết trái.

Kinh Văn
Kinh Giàu Có I (Paṭhamamahaddhanasuttaṃ)
1040. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo’ti {mahābhogo mahāyasoti (syā. pī. ka.)} vuccati.
“katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti; dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo’ti vuccatī”ti. catutthaṃ.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp được gọi là người giàu có, có nhiều tài sản và của cải.362 Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định.
Một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này được gọi là người giàu có, có nhiều tài sản và của cải.”
Kinh Giàu Có II (dutiyamahaddhanasuttaṃ)
1041. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo mahāyaso’ti vuccati.
“katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako ‘aḍḍho mahaddhano mahābhogo mahāyaso’ti vuccatī”ti. pañcamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp được gọi là người giàu có, có nhiều tài sản, của cải, và có đại danh tiếng. Bốn pháp ấy là gì?”
(Phần còn lại giống như kinh số 44). [403]
Kinh Phiên Bản Tóm Lược (Suddhakasuttaṃ)
1042. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
“katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti. chaṭṭhaṃ.
“Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa vào ác đạo, định sẵn cõi thiện, quyết định hướng đến giác ngộ viên mãn. Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động vào Đức Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật Đà, là Thế Tôn.’ Vị ấy thành tựu lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng.… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị phá vỡ… đưa đến định.
Này các Tỳ khưu, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu… quyết định hướng đến giác ngộ viên mãn.”
Kinh Nandiya (Nandiyasuttaṃ)
1043. kapilavatthunidānaṃ. ekamantaṃ nisinnaṃ kho nandiyaṃ sakkaṃ bhagavā etadavoca — “catūhi kho, nandiya, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”.
“katamehi catūhi? idha, nandiya, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, nandiya, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti. sattamaṃ.
Tại Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu). Đức Thế Tôn liền nói với nam cư sĩ Nandiya người dòng họ Thích khi ông đang ngồi xuống một bên:
(Phần còn lại giống như Kinh Phiên Bản Tóm Lược ).
Kinh Bhaddiya (Bhaddiyasuttaṃ)
1044. kapilavatthunidānaṃ. ekamantaṃ nisinnaṃ kho bhaddiyaṃ sakkaṃ bhagavā etadavoca — “catūhi kho, bhaddiya, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
“katamehi catūhi? idha, bhaddiya, ariyasāvako buddhe ... pe ... dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhaddiya, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti. aṭṭhamaṃ.
(Giống như Kinh Nandiya nhưng dạy cho lời dạy cho nam cư sĩ Bhaddiya ).
Kinh Mahānāma (Mahānāmasuttaṃ)
1045. kapilavatthunidānaṃ. ekamantaṃ nisinnaṃ kho mahānāmaṃ sakkaṃ bhagavā etadavoca — “catūhi kho, mahānāma, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti ... pe ... sambodhiparāyaṇo”.
“katamehi catūhi? idha, mahānāma, ariyasāvako buddhe ... pe ... dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, mahānāma, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti. navamaṃ.
(Giống như Kinh Nandiya nhưng dạy cho lời dạy cho hoàng thân Mahānāma).
Kinh Các Chi Phần (Các Nhân Tố) (Aṅgasuttaṃ)
1046. “cattārimāni, bhikkhave, sotāpattiyaṅgāni. katamāni cattāri? sappurisasaṃsevo, saddhammassavanaṃ, yonisomanasikāro, dhammānudhammappaṭipatti — imāni kho, bhikkhave, cattāri sotāpattiyaṅgānī”ti. dasamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, có bốn nhân tố này đưa đến quả vị Dự lưu . Bốn nhân tố ấy là gì? Đó là: Thân cận bậc Chân nhân (bậc thiện trí thức), nghe diệu pháp, như lý tác ý, và hành trì đúng pháp. Đây là bốn nhân tố đưa đến quả vị Dự lưu.”
Chú Thích
KINH GIÀU CÓ 1 & 2
Sự hoán đổi hệ giá trị: Thông thường thế gian định danh sự giàu có bằng thước đo vật chất: vàng bạc, đất đai, gia sản hữu lậu. Đức Thế Tôn đã thực hiện một cuộc cách mạng tư duy khi tuyên bố: Bốn pháp Dự lưu (Tín bất động vào Tam Bảo và Giới) mới chính là "tài sản lớn" (Mahaddhana).
Tương tự như vậy. tiếng tăm thế gian có được do quyền lực hoặc tiền tài thường đi kèm với sự đố kỵ và cấu uế. "Đại danh tiếng" của một bậc Thánh đệ tử là hương thơm của đức hạnh và giới luật hữu lậu đã tịnh hóa, lan tỏa khắp cõi người và cõi trời, được chư thiên và các bậc đồng phạm hạnh tán dương, ái mộ.
KINH PHIÊN BẢN PHIÊN BẢN TÓM LƯỢC, NANDIYA, BHADDIYA, MAHĀNĀMA
Nandiya, Bhaddiya và Mahānāma đều là những nhà lãnh đạo, những cư sĩ quý tộc kiệt xuất của dòng họ Thích.Việc Đức Phật liên tục nhắc lại những chi phần của bậc dự lưu cho các vị cư sĩ quyền quý này nhằm khẳng định: Dù họ có đang nắm giữ vận mệnh của một vương quốc, bận rộn với vương quyền, thì cốt tủy của sự tu tập bảo hiểm mạng sống tâm linh vẫn không thay đổi: Giữ vững niềm tin bất động và duy trì giới hạnh nghiêm túc.
3. CHÚ THÍCH KINH CÁC CHI PHẦN (Aṅga Sutta )
Đây là bài kinh mang tính nền tảng thường được dịch là "Dự lưu chi phần" dễ gây nhầm lẫn trong Kinh tạng.
Đặc tính của bậc dự lưu (Sotāpannassa aṅgāni) gồm 4 pháp: tịnh tín bất động nơi Phật, Pháp, Tăng, và giới thanh tịnh.Thuật ngữ gọi là Sotāpannassa aṅgāni (Chi phần của bậc Dự lưu)
Pháp đưa đến quả dự lưu (Sotāpattiyaṅga) gồmm 4 pháp 1. Thân cận bậc Chân nhân (Sappurisasaṃseva), 2. Nghe diệu pháp (Saddhammassavana), 3. Như lý tác ý (Yonisomanasikāra), 4. Hành trì đúng pháp (Dhammānudhammappaṭipatti)
• Thân cận bậc Chân nhân (Sappurisasaṃseva): Bước đi đầu tiên của tu tập là phải tìm gặp và nương tựa vào các bậc thiện trí thức, những người đã có kinh nghiệm thực chứng pháp. Không có bước này, hành giả sẽ mò mẫm trong đêm tối của kiến thức tự ngã.
• Nghe diệu pháp (Saddhammassavana): Lắng nghe giáo lý chân chánh từ bậc Chân nhân nhằm thiết lập chánh kiến (sammādiṭṭhi) trên phương diện lý thuyết (Pháp học).
• Như lý tác ý (Yonisomanasikāra): Đây là chiếc chìa khóa bản lề của tâm lý học Phật giáo. Nghĩa là suy xét, nghiền ngẫm giáo pháp tận gốc rễ, nhìn vạn vật xuyên qua lăng kính của Nhân quả và Ba đặc tính thực tính (Vô thường - Khổ - Vô ngã) chứ không nhìn theo bề nổi khái niệm của thế gian.
• Hành trì đúng pháp (Dhammānudhammappaṭipatti): Bước quyết định tối hậu. Nghĩa là đem những điều đã nghe và suy xét ứng dụng trực tiếp vào công phu thực hành Tịnh chỉ (Samatha) và Tuệ quán (Vipassanā), sống phù hợp và thuận tòng theo Chánh pháp để chứng đắc Thánh Đạo, Thánh Quả.
Sớ Giải
1040. catutthe aḍḍho mahaddhanoti sattavidhena ariyadhanena aḍḍho ceva mahaddhano ca. teneva bhogena mahābhogo. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Trong kinh thứ tư [Kinh Giàu Có 1], cụm từ "aḍḍho mahaddhano" (người giàu có, có nhiều của cải/tài sản) có nghĩa là: vị ấy giàu có và có nhiều của cải chính là nhờ vào Bảy thứ Tài sản của bậc Thánh (Satta-ariya-dhana). Và cũng chính nhờ vào thứ tài sản/vật dụng thọ hưởng ấy mà vị ấy trở thành người có sự thọ hưởng vĩ đại (mahābhogo). Những phần còn lại trong toàn bộ bài kinh đều đã hoàn toàn rõ ràng rồi.
1048. chaṭṭhassa dutiye ayamadhippāyo — sotāpanno bhikkhu ettakena vosānaṃ anāpajjitvā tāneva indriyabalabojjhaṅgāni samodhānetvā vipassanaṃ vaḍḍhetvā sakadāgāmimaggaṃ pāpuṇissati, sakadāgāmī anāgāmimaggaṃ, anāgāmī arahattamagganti imamatthaṃ sandhāya bhagavatā imasmiṃ sutte sāsane tanti paveṇī kathitāti.
Trong bài thứ hai của phẩm thứ sáu, đây là ý nghĩa cốt lõi (ý định của Đức Phật): Một vị Tỳ khưu đã chứng đắc quả vị Dự lưu (sotāpanno) không có thói quen thỏa mãn hay dừng lại (vosānaṃ anāpajjitvā) ở ngang mức độ ấy; vị ấy gom tụ, hợp nhất chính các căn (indriya), lực (bala), và các chi phần giác ngộ (bojjhaṅga) đó để tiếp tục nuôi dưỡng, phát triển Tuệ quán (vipassanaṃ vaḍḍhetvā), nhằm chứng đạt đến Nhất Lai Đạo (sakadāgāmimaggaṃ); vị Nhất Lai lại tiếp tục hướng đến Bất Lai Đạo (anāgāmimaggaṃ); và vị Bất Lai hướng đến A-la-hán Đạo (arahattamaggaṃ). Nhắm đến ý nghĩa tối hậu này, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng trong bài kinh này về cái nhìn xuyên suốt (tanti), về mạng mạch (paveṇī) trong giáo pháp vậy.
1039. tatiye puññakāmoti puññatthiko. kusale patiṭṭhitoti maggakusale patiṭṭhito. bhāveti maggaṃ amatassa pattiyāti nibbānassa pāpuṇanatthaṃ arahattamaggaṃ bhāveti. dhammasārādhigamoti dhammasāro vuccati ariyaphalaṃ dhammasāro, adhigamo assāti dhammasārādhigamo, adhigataphaloti attho. khaye ratoti kilesakkhaye rato.
Trong kinh thứ ba [Kinh Các Dòng Chảy 3], từ "puññakāmo" (người mong cầu phước đức) có nghĩa là người tìm cầu lợi ích từ phước đức. Cụm từ "kusale patiṭṭhito" (an trú trong thiện pháp) có nghĩa là an trú vững chắc trong Thiện Đạo tâm (Maggakusala - Tâm Thiện thuộc Bốn tầng Thánh Đạo). Cụm từ "bhāveti maggaṃ amatassa pattiyā" (phát triển con đường để đạt đến cõi Bất Tử) có nghĩa là tu tập/phát triển Thánh Đạo Tối Thượng (Arahattamagga - Đạo quả A-la-hán) vì mục đích chứng đắc Niết-bàn. Cụm từ "dhammasārādhigamo" (người đã chạm đến cốt tủy của Chánh pháp): "Cốt tủy của Chánh pháp" (Dhammasāro) ở đây được gọi là các Thánh Quả (Ariyaphala); người có được sự chứng đắc ấy gọi là Dhammasārādhigamo, nghĩa là bậc đã chứng đắc các Thánh Quả vậy. Cụm từ "khaye rato" (hoan hỷ trong sự đoạn diệt) có nghĩa là hoan hỷ, vui thích trong việc đoạn diệt hoàn toàn các phiền não (Kilesakkhaya).
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
V. Phẩm Phước Ðức Sung Mãn Với Kệ
44. IV. Rất Giàu Hay Giàu (1) (S.v,402)
1) ...
2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn. Thế nào là bốn?
3) ... (như các kinh trước, nói về tịnh tín bất động đối với ba ngôi báu và các giới) ...
4) Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử được gọi là giàu, rất giàu, có tài sản lớn, có danh xưng lớn.
45. V. Rất Giàu Hay Giàu (2) (S.v,402).. (giống như kinh trước) ...
46. VI. Tỷ-Kheo Hay Thanh Tịnh (S.v,403)
1) ...
2) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?
3) ... (như các kinh trước, nói về tịnh tín đối với ba ngôi báu và các giới) ...
4) Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.
47. VII. Nandiya (S.v,403)
1) Nhân duyên ở Kapilavatthu.
2) Thế Tôn nói với họ Thích Nandiya đang ngồi một bên: "Thành tựu bốn pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu... giác ngộ. Thế nào là bốn?".
3) ... (thành tựu tịnh tín đối với Ba Ngôi Báu và các giới) ...
4) ... (như đoạn số 4, kinh trước) ...
48. VIII. Bhaddiya (S.v,403).. (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Bhaddiya ) ...
49. IX. Mahànàma (S.v,404).. (như kinh trước, chỉ khác, đây là họ Thích Mahànàma ) ...
50. X. Phần (S.v,404)
1) ...
2) -- Có bốn Dự lưu phần này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là bốn?
3) Thân cận bậc Chân nhân, nghe diệu pháp, như lý tác ý, thực hành pháp và tùy pháp.
4) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn Dự lưu phần.

Address

13913 S Post Oak Road
Houston, TX
77045

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phap Luan Buddhist Culture Center Inc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Phap Luan Buddhist Culture Center Inc:

Share