10/08/2026
Lớp Phật Pháp Buddhadhamma
Môn học: TƯƠNG ƯNG BỘ – SAṂYUTTANIKĀYA
Ngày 8.10.2026
SAN SẺ CÁI MÌNH THÍCH
Kinh Thức Ăn (Annasuttaṃ)
Chương 1: Tương Ưng Chư Thiên – Phẩm Thiêu Cháy – SN 1.43
Thưởng thức ẩm thực là khoái lạc có trong cả hai thế giới nhân loại và chư thiên. Một vị thiên đã hỏi Đức Phật có “Hạng thần thánh nào mà không thích chuyện khoái khẩu?”. Câu trả lời của Đức Phật thoạt nghe như lạc đề: Có những người (tuy thích ăn uống) nhưng không keo kiết mà biết chia sẻ. Những người ấy cho với niềm tin nhân quả và tâm thành. Đặc biệt là không bị “sự ô nhiễm của xan tham (hay bỏn sẻn) vấy bẩn nội tâm. Từ thức ăn được yêu thích chuyển thành phước báu nâng đời cuộc sống đời nầy và đời sau là một “nghệ thuật chuyển hoá” giữa dòng sinh tử vốn thường bị che mờ bởi vô minh.
Kinh Văn
“Annābhinandino sabbe,
sabbe bhatte patiṭṭhitā;
Atha ko nāma so yakkho,
yo annaṃ nābhinandatī”ti.
“Ye naṃ dadanti saddhāya,
vippasannena cetasā;
Tameva annaṃ bhajati,
asmiṃ loke paramhi ca.
Tasmā vineyya maccheraṃ,
dajjā dānaṃ malābhibhū;
Puññāni paralokasmiṃ,
patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
(Vị thiên):
Cả chư thiên, nhân loại;
Ai cũng thích thức ăn,
Vậy có chúng sanh nào,
Chẳng ưa thích vật thực?
(Đức Thế Tôn):
Biết cho với niềm tin
Với tâm thành tịnh tín;
Chính vật thực cho ấy,
Theo đời này, đời sau.
Do vậy, trừ keo kiết,
Thắng cấu uế, nên thí;
Phước hộ trì chúng sanh,
Khi sanh cảnh giới khác.
Chú thích
Annābhinandino / Bhatte patiṭṭhitā (Vui thích thực phẩm)
Mọi chúng sanh trong tam giới đều lấy dưỡng tố như đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực làm nền tảng sinh tồn. "Bhatte patiṭṭhitā" theo Sớ giải, nhấn mạnh đến đoàn thực (kabaḷīkārāhāra) — thức ăn nuôi sống sắc thân tứ đại chỉ cho chúng sanh với năm uẩn.
Yakkha (Dạ-xoa / Chúng sanh / chúng sanh có uy lực)
Trong văn mạch Pāḷi cổ và các sớ giải, từ yakkha không chỉ ám chỉ dạ-xoa thuộc hàng phi nhân quỷ thần, mà còn là một danh từ chung chỉ cho hữu tình, hay một cá thể (satta/puggala). Vị thiên nêu câu hỏi với ý niệm: liệu có chúng sanh nào hoàn toàn không đoái hoài, hoan hỷ nơi thức ăn? Trong văn phong tiếng Việt có thể dịch là “Có hạng thần thánh nào mà chẳng thích thức ăn? Tương tự văn phong trong câu “Hiền nhân quân tử ai mà chẳng?”
Saddhāya vippasannena cetasā (Với đức tin và tâm thành)
Yếu tố quyết định sự thù thắng của phước báu. Bố thí vật thực không đơn thuần là sự xả bỏ tài sản, mà phải đi kèm niềm tin sâu sắc vào nghiệp báo (kamma-vipāka) cùng tâm ý trong sạch, hoan hỷ trước, trong và sau khi thí (tam thời thanh tịnh).
Tameva annaṃ bhajati (Chính vật thực ấy nâng đỡ)
Định luật nhân quả tương ứng: người trao tặng sự sống và sức lực qua thực phẩm cho kẻ khác thì chính dòng nghiệp quả thiện lành ấy sẽ nuôi dưỡng, bảo bọc người đó bằng quả báo sung túc, không bao giờ rơi vào cảnh đói khát, khốn cùng ở đời này cũng như đời sau.
Malābhibhū (Bậc chiến thắng cấu uế)
Cấu uế (mala) ở đây chính là vết nhơ của lòng bỏn xno, keo kiệt (macchariya-mala). Kẻ chiến thắng vết nhơ này là người dám từ bỏ sự bám víu tài sản, mở rộng tâm lượng để trao ban.
Puññāni paralokasmiṃ patiṭṭhā honti pāṇinaṃ (Phước đức là nơi nương tựa đời sau)
Khi nhắm mắt lìa đời, mọi của cải, danh vọng, quyến thuộc đều phải bỏ lại; chỉ có phước báu (puñña) đã tích lũy là tài sản chân thật, đi theo người như bóng với hình, làm nền tảng (patiṭṭhā) bảo đảm sự tái sanh an vui nơi các cõi thiện thú.
Sớ Giải
Tatiye annābhinandinoti āhārābhiratā. Sabbe bhatte patiṭṭhitāti sabbe sattā bhattena dhāriyamānā ṭhitā, kabaḷīkārāhārūpatthambhitāti attho. Yakkhoti satto. Yo naṃ dadantīti ye taṃ annaṃ denti. Tameva annaṃ bhajatīti taṃ dāyakaṃ tadeva dānaṃ bhajati sevati upaṭṭhāti; idha vā bhogakkhandhasaṅkhātaṃ, parattha vā dibbannapānasaṅkhātaṃ hutvā nibbattatīti attho. Malābhibhūti maccheramalaṃ abhibhavitvā abhimadditvā dānaṃ dajjāti attho. Tatiyo.
43. Trong bài kinh thứ ba:
“Annābhinandino — Vui thích vật thực”: nghĩa là say mê, hoan hỷ nơi đồ ăn thức uống.
“Sabbe bhatte patiṭṭhitā — Hết thảy an trú trên bữa ăn”: nghĩa là tất cả chúng sanh được duy trì và đứng vững nhờ vào bữa ăn; ý nói họ được chống đỡ, bảo bọc bởi đoàn thực (vật thực được vo thành từng nắm, từng miếng).
“Yakkho — Dạ-xoa”: ở đây mang ý nghĩa là một chúng sanh (satta).
“Ye naṃ dadanti — Những ai cho vật thực ấy”: nghĩa là những người bố thí phần thức ăn ấy.
“Tameva annaṃ bhajati — Chính vật thực ấy tìm đến/nâng đỡ”: nghĩa là chính sự bố thí ấy sẽ phục vụ, theo hầu và nâng đỡ người thí chủ ấy; ý chỉ rằng ở đời này vật thực ấy hiện khởi dưới hình thức đống của cải tài sản dồi dào, còn ở đời sau sẽ trổ quả thành đồ ăn thức uống chốn chư thiên.
“Malābhibhū — Bậc chiến thắng cấu uế”: nghĩa là sau khi đã chế ngự, nghiền nát vết nhơ của sự bỏ xẻo keo kiệt, người ấy mới thực hành bố thí. (Hết phần giải kinh thứ ba).
Tỳ-khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu
Đại Tạng Kinh Việt Nam Nam Truyền – Tương Ưng Bộ Tập I
Thiên Có Kệ – Chương I: Tương Ưng Chư Thiên – V. Phẩm Thiêu Cháy (S.i,32)
III. Vật Thực
(Vị thiên):
Mọi loài thích đồ ăn,
Mọi loài sống nhờ ăn,
Vậy Dạ-xoa tên gì,
Không hoan hỷ đồ ăn?
(Thế Tôn):
Ai với lòng tin tưởng,
Với tâm ý sáng suốt,
Bố thí đồ ăn ấy,
Đời này và đời sau,
Đồ ăn đến người ấy.
Do vậy, trừ xan tham,
Nhiếp phục mọi cấu uế,
Hãy bố thí cúng dường,
Công đức đời sau này,
Là chỗ dựa chúng sanh