25/03/2025
1. Tổng quan về áo Trực lĩnh và áo Trực lĩnh Đại Khâm
1.1. Áo Trực lĩnh
Trực lĩnh (直領), hay Trực khâm (直衿), là tên gọi chung cho một dạng thức trang phục, một dạng cổ áo được sử dụng trong hệ thống Trang phục vùng Đông á, cũng như đại đa số các nền văn hóa trên thế giới. Dạng áo này có kết cấu đúng với cái tên của nó, cổ áo được may bằng một giải vải thẳng (trực直: thẳng; lĩnh領: cổ áo). Tên gọi Trực lĩnh (直領) là một từ hán việt bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng là nơi khai sinh, hội nhập nhiều kiểu thức Trực lĩnh điển hình để từ đó làm nền tảng tiếp nhận bởi các khối đồng văn, trong đó có Việt Nam.
Sách Thích danh - Thích y phục 釋名 釋衣服 của Lưu Hy thời Đông Hán, giải nghĩa: “直領。邪直而交下亦如丈夫服袍方也。” (Trực lĩnh, cổ thẳng mà giao ở dưới, cũng như vạt áo vuông đàn ông vậy). Như vậy có thể thấy, cái tên Trực lĩnh đã xuất hiện từ rất sớm, giai đoạn Tần- Hán hoặc sớm hơn. Riêng về cấu tạo, lại không khó khi tìm thấy kiểu thức Trực lĩnh hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới từ thời xa xưa.
Trong dân gian, kể từ sau giai đoạn Bắc thuộc, đã khá phổ biến các dạng thức Trực lĩnh, bao gồm 2 dạng: Đại khâm Trực lĩnh (Giao lĩnh); Đối khâm Trực lĩnh (Tứ thân, Phi phong, Bán tí, Bù long (Bổ long)...)
Sách Văn hiến thông khảo文獻通考 chép “婦人多皙,與男子絕異,好著綠寬袖直領,皆以皂裙束之” (Phụ nữ nhiều người trắng trẻo, khác hẳn đàn ông, thích mặc áo trực lĩnh màu lục thụng tay, đều thắt bằng thường đen)
Sách Phủ Biên Tạp Lục 撫邊雜錄 chép: "男婦直領短袖衣,其袖口或濶或狹隨意所便” (Đàn ông đàn bà dùng áo trực lĩnh ngắn tay, ống tay rộng hẹp cho được tùy tiện). Lại chép rõ: “礼服用直領長袖衣....” (Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài....)
Sách Gia Định thành thông chí 嘉定城通志 cũng có đề cập đến chi tiết trang phục thời Lê: “男女皆直領短袖衣,合縫兩腋,無裙袴”(Nam nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lại hai bên nách, không có quần). Sách này cũng chép thêm về nghi chế dành cho bậc quan chức: “官職者,戴高山巾,服披風衣,穿皮拖鞋” (Kẻ quan chức, đội khăn cao sơn, mặc áo phi phong, mang dép da)
Như vậy, có thể thấy áo Trực lĩnh là thuật ngữ chỉ chung các dạng áo cổ thẳng, phân ra thành nhiều loại dựa vào các đặc điểm khác trên áo như giao lĩnh (loại áo cổ thẳng có vạt cả ghép bằng cách may thêm các vạt con thành 5 thân 6 thân (ảnh 1)), đối khâm (loại áo cổ thẳng 4 thân, không ghép thân con, hai vạt buông song song phía trước (ảnh 2)), bán tí (loại áo cổ thẳng, có thể đối khâm hoặc đại khâm, tay áo cộc, không ghép thêm vải để tăng độ dài tay áo (ảnh 3)). Có thể tạm kết luận đa phần các tư liệu thời Lê gọi dạng áo có cổ áo là một dải vải thẳng, bao gồm cả đối khâm và đại khâm là trực lĩnh.
1.2. Áo trực lĩnh đại khâm
Trực lĩnh đại khâm直領大衿 là dạng áo khá phổ biến và có thể mặc được cả bên trong lẫn bên ngoài với nhiều kiểu phối. Đây là dạng áo được sử dụng phổ biến từ tầng lớp trên như vua – chúa đến những tầng lớp thấp như dân thường, chủ yếu sự khác biệt là nằm ở kích thước, hoa văn, chất liệu, phụ kiện và cách phối với các trang phục khác, còn về kết cấu thì gần như tương đồng.
*Về thân áo- vạt áo:
Dạng áo này thường có 5 thân áo hoặc 6 thân, vạt trước bên trái gọi là vạt ngoài đắp trùm lên vạt trước bên phải gọi là vạt trong. Sở dĩ gọi là “đại khâm” là bởi thân áo phía trước được ghép thêm một tấm vải gọi là “chéo áo” để mở rộng bề ngang vạt áo (ảnh 4), đường ghép thân áo với thân con gọi là “trung phùng”. Độ dài- rộng của thân áo, vạt áo; độ thụng- hẹp của tay áo, chất liệu, hoa văn, kiểu dáng, cách phối; đều rất đa dạng và thường biến đổi tùy theo tính chất trang phục cùng với đối tượng mặc trang phục. Song nhìn chung các áo trực lĩnh thời Lê đều có thân áo rất rộng, ngang ngực áo thường trên 70cm, dạng áo may kín không xẻ tà rất phổ biến, 2 vạt trước thường chỉ đắp hờ lên nhau, không che kín bề rộng thân áo.
*Về cổ áo:
Cổ áo trực lĩnh đại khâm直領大衿 thời Lê theo các hiện vật thường thấy phổ biến dạng cổ áo may găm vào phần khoét trên vạt áo, không dư ra ngoài (tạm gọi là cổ áo âm vạt), đoạn cuối cổ áo thường thấy lượn cong (ảnh 5), độ cong của các hiện vật lại không giống nhau.
Cổ áo trực lĩnh đại khâm thường có thêm tấm hộ lĩnh được ghép hoặc nối 1 tấm vải (ảnh 6). Tấm hộ lĩnh này có thể cùng màu- khác màu, cùng hoa văn hoặc khác hoa văn, thậm trí có thể khác loại vải so với vải may áo (ảnh 7). Đôi khi có thể thấy trên các hiện vật khai quật có kiểu ghép- nối cổ áo bằng nhiều tấm vải (ảnh 8 ) hoặc cổ áo được may lót bằng tấm vải khác loại (ảnh 9).
*Về tay áo:
Tay áo dựa vào các hiện vật khai quật có thể thấy khá trùng khớp với các ghi chép về việc sử dụng áo ngắn tay làm tiện phục (ảnh 10), khi có việc thì dùng áo dài tay (ảnh 11). Độ rộng ống tay của các hiện vật không quá lớn, thường thấy dạng trực tụ hoặc quảng tụ với độ thụng ống tay không nhiều, tuy nhiên do nách áo (kể cả áo tay hẹp) đều rất rộng (ảnh 12) nên độ rộng tay áo cũng khá thoải mái, như hiện vật áo đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh là khoảng 41cm đến 44cm (ảnh 13), có lẽ phù hợp với quy định về độ rộng ống tay áo ghi trong Thiện Chính. Loại áo tay hẹp cũng có phần hạ nách rất rộng, cửa tay áo không bó sát cổ tay người mặc, thường rộng khoảng 14 đến 16cm (ảnh 14)
Cửa tay áo (điểm ngoài cùng của ống tay) thường thấy có 3 dạng: dạng để mở hoàn toàn (ảnh 15), dạng bo tròn điểm dưới cùng nhưng không may kín (ảnh 16) và dạng may kín chỉ để hở khoảng hơn 20cm để luồn ống tay qua (ảnh 17).
A) Trực lĩnh đối khâm
Trực lĩnh đối khâm (對襟直領) là 1 dạng thuộc nhóm trực lĩnh, loại áo này khá phổ biến và thường dùng để mặc ngoài, có 4 thân áo, cổ áo là 1 dải vải thẳng buông song song trước ngực. Như vậy những dạng áo có 4 thân, cổ áo may bằng một dải vải thẳng, 2 vạt áo buông song song trước ngực như phi phong, hay cả nhật bình thời Nguyễn sau này đều có thể xếp vào nhóm trực lĩnh đối khâm. Do 2 vạt áo buông song song ở phía trước, áo đối khâm xuất hiện 2 kiểu mặc phổ biến là kiểu buông tự do và kiểu cài (buộc) hai vạt áo vào nhau ở khoảng vị trí giữa ngực gọi là Hợp Lĩnh (合領), ngoài ra có thể có kiểu kéo vạt nọ đắp lên vạt kia. Độ dài- rộng của thân áo, vạt áo; độ thụng- hẹp của tay áo, chất liệu, hoa văn, kiểu dáng, cách phối; đều rất đa dạng và thường biến đổi tùy theo tính chất trang phục cùng với đối tượng mặc trang phục. Tên gọi “đối khâm” được ghi chép không nhiều bằng “trực lĩnh” nhưng dựa vào các tư liệu tranh- tượng, hiện vật có thể thấy một số kiểu áo cùng cách phối trang phục với áo đối khâm như sau: