ĐIỀU ĐỒNG XOÀI

ĐIỀU ĐỒNG XOÀI ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH PHƯỜNG ĐỒNG XOÀI

🌟18 ĐIỂM MỚI, ĐỘT PHÁ CỦA DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG🌅 Kỷ nguyên mới, tầm nhìn mới! Đại hội XIV của Đảng không...
19/01/2026

🌟18 ĐIỂM MỚI, ĐỘT PHÁ CỦA DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
🌅 Kỷ nguyên mới, tầm nhìn mới! Đại hội XIV của Đảng không chỉ là một kỳ đại hội, mà là dấu mốc cho bước nhảy vọt về tư duy phát triển của Đảng ta. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng chắt lọc, cập nhật những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các quyết sách chiến lược, hình thành 18 đột phá lớn, tạo “đòn bẩy” cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hãy cùng Tuổi trẻ Việt Nam điểm qua 03 đột phá đầu tiên mở đường cho tư duy đổi mới của Đảng trong nhiệm kỳ mới 👉 👉 👉

🇻🇳 ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG 🇻🇳🌻Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện c...
13/01/2026

🇻🇳 ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG 🇻🇳
🌻Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; là dịp tổng kết sâu sắc chặng đường đã qua, định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
☘️Trải qua hơn 95 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức 13 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội diễn ra trong những điều kiện lịch sử khác nhau, song đều để lại dấu ấn sâu đậm về tư duy chiến lược, đường lối lãnh đạo và bản lĩnh chính trị của Đảng; góp phần quyết định những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
🌻Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nêu cao niềm tin, niềm tự hào, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
👉 Tuổi trẻ Đồng Nai quyết tâm rèn luyện, cống hiến, sáng tạo; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

🌐🌐🌐KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (06/01/1946 – 06/01/2026)🌐🌐🌐⚡️⚡️⚡️Ngày 06/01/1946 là...
07/01/2026

🌐🌐🌐KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (06/01/1946 – 06/01/2026)🌐🌐🌐
⚡️⚡️⚡️Ngày 06/01/1946 là mốc son lịch sử trọng đại của dân tộc Việt Nam – Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử, Nhân dân Việt Nam được thực hiện đầy đủ quyền công dân, trực tiếp lựa chọn những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
🌻🌻🌻Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên là dịp để ôn lại truyền thống vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, khẳng định giá trị to lớn của dân chủ, của quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn thể Nhân dân trong việc tham gia xây dựng Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

LAN TOẢ ÁNH SÁNG VĂN HOÁ HỒ CHÍ MINH: BÁC VẪN SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG CON ĐINửa thế kỷ đã qua nhưng ánh sáng văn hóa của Ngư...
05/01/2026

LAN TOẢ ÁNH SÁNG VĂN HOÁ HỒ CHÍ MINH: BÁC VẪN SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG CON ĐI
Nửa thế kỷ đã qua nhưng ánh sáng văn hóa của Người, từ tầm vóc tư tưởng, quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa, cho đến tình yêu thương con người, tấm gương đạo đức, văn hóa ứng xử, nhân cách của Người, vẫn lan tỏa, soi rọi đến mọi người, mọi nhà, mọi miền đất nước, không chỉ ở dân tộc Việt Nam mà bao trùm cả nhân loại.
1. Không chỉ là một nhà chính trị lỗi lạc, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà văn hóa kiệt xuất.
Con đường hình thành Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh là một con đường hiếm thấy, vừa kết hợp nhuần nhị, hài hòa giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn đời sống, vừa kế thừa, phát huy những giá trị, cốt cách, bản sắc văn hóa, truyền thống bốn nghìn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam và tiếp thu tinh hoa nhân loại. Ngay từ tháng 8-1943, Người đã đúc kết quan điểm của mình về văn hóa như sau: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của tâm hồn”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung đóng vai trò quan trọng, tạo nên sức mạnh trong tư duy và hành động cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột có thể giải phóng mình, chiến thắng ngoại xâm theo tinh thần “văn minh chống bạo tàn”. Từ quan điểm này, Người đã đem ánh sáng văn hóa mới của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức khác trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng con người - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đối với Hồ Chí Minh, văn hóa còn có tác dụng “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, sửa xã hội cũ, xây xã hội mới”. Thế nên, sau khi giành được chính quyền, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Người đã phát động phong trào “diệt giặc dốt”, bởi “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người cũng khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, “phải đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường dân tộc”, “phải xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho kháng chiến kiến quốc”.
2. Ngay từ khi tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng một xã hội tương lai, trong đó việc xây dựng một nền văn hóa mới đóng vai trò quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Người cho rằng, văn hóa là tinh hoa của dân tộc, văn hóa phải góp phần khẳng định vị thế của dân tộc, và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa mới, dựa trên cơ sở gốc là văn hóa dân tộc, lấy đó làm điều kiện, cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại. Vì vậy, để xây dựng nền văn hóa mới phải thực hiện ba nhiệm vụ chính: Thứ nhất là củng cố, bảo tồn, phát huy những giá trị của văn hóa truyền thống của dân tộc, thứ hai là khắc phục những thiếu hụt của văn hóa truyền thống, và cuối cùng là tạo ra những giá trị văn hóa tương lai, hoàn thiện nhân cách, hướng con người tới chân - thiện - mỹ. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam (tháng 2-1951), Người chỉ rõ: "Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”.
Văn hóa phụng sự nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân là quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nhắc nhở giới cầm bút: Viết cái gì, viết cho ai, viết như thế nào. “Nói ít, nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn”. Người khẳng định: “Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có một nhiệm vụ nhất định, đó là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”. “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng - nội dung văn hóa phải có ý nghĩa giáo dục...”. Để văn hóa trở thành sức mạnh làm nên thắng lợi trong kháng chiến kiến quốc, giành độc lập tự do cho dân tộc, hòa bình thống nhất cho đất nước, Người căn dặn văn nghệ sĩ: “Văn hóa cũng là một mặt trận. Anh chị em là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ... cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Trước lúc “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê nin và các vị cách mạng đàn anh khác”, Người vẫn đau đáu căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
Có thể thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lĩnh vực văn hóa và phát triển văn hóa luôn có tầm quan trọng ngang với kinh tế và phát triển kinh tế. Kinh tế có tác dụng nâng cao đời sống vật chất, còn văn hóa nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Đây là hai lĩnh vực liên kết biện chứng, gắn bó mật thiết trong đời sống xã hội. Theo GS.TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), “đây là trách nhiệm rất lớn của Đảng cầm quyền, để thể hiện sự ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm cho mọi người được ấm no, tự do, hạnh phúc”.
3. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt khi nói về Đảng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Vốn đặc biệt đề cao văn hóa đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định con người phải có “tứ đức” (cần, kiệm, liêm, chính), “thiếu một đức thì không thành người” và cho rằng cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh của một dân tộc: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”. Từ quan điểm này Người chỉ rõ đạo đức cách mạng là các giá trị cụ thể như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, cần được thể hiện ở phẩm chất của từng đảng viên. Những giá trị đạo đức cao cả này sẽ theo suốt quá trình hoạt động, chiến đấu, công tác của người đảng viên. Đây chính là văn hóa Đảng, được xây dựng từ đội ngũ cán bộ đảng viên trong sạch, vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước...
Là người sáng lập, tổ chức, lãnh đạo Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm ý thức được nguy cơ nếu đội ngũ cán bộ, đảng viên không thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Vì vậy, Người nhắc nhở: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”, “chớ xa dân, chớ vác mặt quan cách mạng để làm hại dân”, “quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người đặc biệt yêu cầu cán bộ, đảng viên phải khắc phục những căn bệnh quan liêu, lãng phí, tham ô và những tiêu cực khác mà Người gọi đó là “giặc nội xâm”...
4. Không chỉ đưa ra các quan điểm lý luận mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người “nói luôn đi đôi với làm”. Cuộc đời hoạt động của Người là tấm gương sáng ngời về thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho các thế hệ sau noi theo. “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”, cả cuộc đời Bác chỉ có một tâm nguyện duy nhất, như Người gọi là “ham muốn tột bậc”, đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Có lẽ chẳng có dẫn chứng nào thuyết phục hơn những vần thơ viết về một CON NGƯỜI vĩ đại, cao quý mà rất đỗi giản dị, khiêm nhường: “Bác để tình thương cho chúng con/ Một đời thanh bạch chẳng vàng son/ Mong manh áo vải hồn muôn trượng/ Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.
Không chỉ là một tấm gương đạo đức sáng ngời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một điển hình mẫu mực về văn hóa ứng xử. Ứng xử của Người chu đáo, ân cần, lịch thiệp và tinh tế, giàu lòng nhân ái, vị tha, có sức mạnh cảm hóa, lôi cuốn và thúc đẩy mọi người làm điều hay điều tốt, khơi dậy ý thức tự tu dưỡng, gieo niềm tin vào mọi điều tốt đẹp của cuộc sống và hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ...
Văn hóa Hồ Chí Minh, thấm sâu trong mọi lĩnh vực hoạt động của Người, từ tầm vóc tư tưởng, quan điểm về văn hóa cho đến tình yêu thương con người, tấm gương đạo đức, văn hóa ứng xử, nhân cách..., sau nửa thế kỷ vẫn mãi lan tỏa, soi rọi đến mọi người, mọi nhà, không chỉ ở dân tộc Việt Nam mà bao trùm cả nhân loại. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò ưu tú của Người - lúc sinh thời đã khái quát: "Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu mà ai cũng cảm thấy thân thiết từ lâu”./.
Báo Hà Nội mới

CÁN BỘ “5 CÓ” TRONG THỜI KỲ TỰ CƯỜNG QUỐC GIATrong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tự cư...
29/12/2025

CÁN BỘ “5 CÓ” TRONG THỜI KỲ TỰ CƯỜNG QUỐC GIA

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tự cường quốc gia và tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, vấn đề cán bộ tiếp tục được Đảng ta đặt ở vị trí “then chốt của then chốt”. Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 14 (khóa XIII) về xây dựng đội ngũ cán bộ “5 có” không chỉ là định hướng lựa chọn nhân sự cấp chiến lược mà còn là sự phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng đối với công tác cán bộ.

Cán bộ “5 có”:
(1) Có tầm nhìn chiến lược quốc gia, có khả năng giữ tự chủ của đất nước.
(2) Có năng lực lãnh đạo, chỉ huy ở quy mô quốc gia.
(3) Có uy tín chính trị, liêm chính ở mức biểu tượng để mọi người noi theo, học tập. (4) Có khả năng triển khai Nghị quyết thành kết quả, thành quả có thể đo đếm được.
(5) Có đủ sức bền, cả về tinh thần và thể chất, để chịu được áp lực, cường độ công việc... Đây là những tiêu chí năng lực phản ánh yêu cầu của thời đại, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

“CHƯA SÁP NHẬP TIẾP, 34 TỈNH, THÀNH SẼ KHÔNG THAY ĐỔI TRONG NHỮNG NĂM TỚI”----Cả nước hiện có 34 đơn vị hành chính cấp t...
27/12/2025

“CHƯA SÁP NHẬP TIẾP, 34 TỈNH, THÀNH SẼ KHÔNG THAY ĐỔI TRONG NHỮNG NĂM TỚI”
----

Cả nước hiện có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, 3.321 đơn vị cấp xã. Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định con số này sẽ không thay đổi trong những năm tới và chưa có chủ trương tiếp tục sáp nhập.

Chiều 24/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua về nguyên tắc Nghị quyết về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và Nghị quyết về phân loại đô thị.

💥"Không phải tiếp tục chia tách, sáp nhập đơn vị hành chính"

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, đơn vị hành chính được tổ chức thành 2 cấp với 5 loại hình, gồm: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, xã, phường và đặc khu.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 6 thành phố và 28 tỉnh; 3.321 đơn vị hành chính cấp xã (2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu).

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định khẳng định việc ban hành hai nghị quyết này rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, chứ không phải để tiếp tục sắp xếp, chia tách, sáp nhập đơn vị hành chính.

Ông đồng thời nhấn mạnh số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã trên trong những năm tới sẽ không thay đổi. “Đảng và Nhà nước chưa có chủ trương sắp xếp, sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính tiếp”, ông Định nói.

Trình bày tờ trình về dự thảo Nghị quyết tiêu chuẩn của đơn vị hành chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình nhấn mạnh sau sắp xếp, số lượng và quy mô của đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã “có biến động lớn”. Vì thế, các tiêu chuẩn của đơn vị hành chính hiện hành không còn phù hợp, cần được điều chỉnh.

💥Đề xuất điều chỉnh quy mô dân số ở thành phố lên 2,5 triệu người

Theo dự thảo nghị quyết, với đơn vị hành chính nông thôn (tỉnh, xã), tiêu chuẩn về quy mô dân số, diện tích tự nhiên giữ như quy định hiện hành, nhưng bổ sung tiêu chuẩn mới về định hướng phát triển kinh tế - xã hội, để hướng tới nông thôn hiện đại, văn minh và bền vững.

Với thành phố trực thuộc Trung ương, dự thảo nghị quyết quy định theo hướng điều chỉnh tiêu chuẩn quy mô dân số từ 1 triệu lên 2,5 triệu người trở lên, và diện tích tự nhiên từ 1.500km² lên 2.500km².

Tiêu chuẩn với phường dự kiến cũng được điều chỉnh quy mô dân số tăng gấp 2-3 lần so với trước sắp xếp. Diện tích tự nhiên tối thiểu 5,5km² được giữ nguyên, nhưng dự thảo nghị quyết bổ sung tiêu chuẩn về vị trí, chức năng của đô thị.

Ngoài ra, dự thảo nghị quyết đã bổ sung tiêu chuẩn về tỷ lệ dân số đô thị từ 50% trở lên; quy định thống nhất tiêu chuẩn của phường thuộc tỉnh, không quy định tiêu chuẩn về loại đô thị của phường, để phù hợp với quan điểm chỉ đạo “không giới hạn đô thị là một đơn vị hành chính”.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhấn mạnh thêm, việc thành lập đặc khu thực hiện theo chủ trương, định hướng của cấp có thẩm quyền trong từng giai đoạn. Tại dự thảo nghị quyết lần này, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định “đặc khu được công nhận loại đô thị phải đạt 50% mức tối thiểu của tiêu chuẩn tỷ lệ dân số đô thị, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của phường”.

Bên cạnh đó, dự thảo nghị quyết quy định cụ thể thẩm quyền, thời hạn thẩm định, thẩm tra Đề án thành lập, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính, cũng như trách nhiệm của cơ quan liên quan trong việc đảm bảo tính chính xác của số liệu.

Từ góc độ của cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng đề nghị quy định rõ về việc sử dụng kết quả phân loại đô thị loại I khi xem xét, đánh giá tiêu chuẩn thành lập thành phố để tránh việc trùng lặp về nội dung, thủ tục.

Theo ông, việc không quy định rõ nguyên tắc sử dụng kết quả phân loại đô thị khi đánh giá tiêu chuẩn của thành phố có thể dẫn đến trường hợp có tỉnh đã đáp ứng tiêu chuẩn để thành lập thành phố nhưng chưa có kết quả được công nhận là đô thị loại I.

Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cũng đề nghị cân nhắc tính hợp lý của một số tiêu chuẩn vì chưa phù hợp với thực tế và khó bảo đảm tính khả thi, như tiêu chuẩn thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn mức bình quân cả nước từ 0,7 lần trở lên; tiêu chuẩn tỷ lệ dân số đô thị trên quy mô dân số với phường ở hải đảo bằng 50% mức quy định./.

Tác giả: Hoài Thu
Nguồn: Báo Dân trí

❤️Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI diễn ra trong 2 ngày 26 và 27/12/2025 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (H...
26/12/2025

❤️Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI diễn ra trong 2 ngày 26 và 27/12/2025 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội).

💥Dự Đại hội có 2.223 đại biểu, gồm 198 đại biểu khách mời và 2.025 chính thức. Đại hội là sự kiện chính trị-xã hội quan trọng của đất nước, được tổ chức trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.💯🇻🇳

Theo TTXVN

VỀ TÍNH CHÍNH DANH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIVHơn 95 năm qua, Đảng lãnh đạo cách m...
25/12/2025

VỀ TÍNH CHÍNH DANH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG DỰ THẢO CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV

Hơn 95 năm qua, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam dành được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và thời đại trên tất cả các lĩnh vực; tạo cơ đồ, vị thế, uy tín quốc gia chưa từng có. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam, với mục đích làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Để bảo vệ và khẳng định tính chính danh của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, cần tích cực đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng các giải pháp phù hợp, góp phần tăng cường sự đồng thuận và niềm tin lý tưởng xã hội chủ nghĩa, khẳng định tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Chính danh” được hiểu là sự phù hợp, tương xứng giữa “danh” (tên gọi, danh xưng, chức vị, địa vị) và “thực” (thực chất, bản chất, trách nhiệm, vai trò, hành động tương ứng). “Tính chính danh” của một chủ thể trong đời sống chính trị là kết quả dựa trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn, phản ánh tính chính đáng sâu sắc; bao gồm sự thừa nhận, ủng hộ của xã hội đối với chủ thể chính trị. Với một tổ chức chính trị cầm quyền, tính chính danh xác lập vai trò đại diện xã hội, đại diện thể chế; thực hiện chức năng lãnh đạo, dẫn dắt, định hướng xây dựng và phát triển xã hội, thể chế chính trị.

Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là lựa chọn tất yếu của lịch sử, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân; không một thế lực phản động, thù địch nào có thể phủ nhận tính chính danh của Đảng.

Cơ sở lý luận và lịch sử xác lập tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, đất nước Việt Nam và người dân bị tước đoạt quyền tự do, tài sản, nhân phẩm và văn hóa. Trong bối cảnh đen tối ấy, độc lập, tự do là khát vọng cháy bỏng của mỗi người dân Việt Nam; yêu cầu đặt ra cần một ngọn cờ lãnh đạo, một tổ chức đủ sức mạnh và uy tín để tập hợp toàn dân, đánh thức tinh thần quật cường, dẫn dắt cuộc đấu tranh giành lại độc lập, chủ quyền của quốc gia, tự do của người dân.

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước tiêu biểu như phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh và phong trào Đông Du của Phan Bội Châu hay các tổ chức chính trị như Việt Nam Quang phục hội (năm 1912) và Việt Nam quốc dân Đảng (tháng 12-1927)... đã hình thành. Mặc dù thể hiện tinh thần yêu nước và mang khuynh hướng tiến bộ nhất định, song các phong trào và đảng phái này đều thiếu một đường lối chính trị khoa học, đúng đắn để xác định con đường cứu nước phù hợp, phương pháp cách mạng hiệu quả, chưa nhận thức được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và không tập hợp được sức mạnh toàn dân.

Trước yêu cầu cấp bách, khách quan của thực tiễn Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập mùa Xuân năm 1930 là một bước ngoặt lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam. Sự kiện này không chỉ chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài trong nhiều thập kỷ trước đó, mà còn đánh dấu sự thống nhất của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo ra một lực lượng chính trị tiên phong, có khả năng lãnh đạo và tập hợp sức mạnh toàn dân tộc để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử Việt Nam.

Ngay sau khi Đảng được thành lập, từ trong thực tiễn, dân tộc Việt Nam đã thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và Đảng ta đã lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng tiếp tục lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và đế quốc Mỹ (1954 - 1975), hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Như vậy, từ thực tiễn, tính chính danh của Đảng được xác lập. Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam còn được khẳng định chính từ sự hy sinh và gắn bó máu thịt với dân tộc, bởi trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo, hàng triệu đảng viên, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì mục tiêu chính nghĩa: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Từ những hy sinh to lớn đó, cùng với đường lối của Đảng luôn đặt lợi ích của dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, đã tạo nên sự đồng thuận, đồng lòng; tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định tính chính danh của Đảng trong vai trò lãnh đạo, cầm quyền. Đặc biệt, niềm tin của nhân dân đối với Đảng chính là thước đo của sự xác lập, khẳng định tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải, đất nước từ thời chiến chuyển sang thời bình, việc áp dụng máy móc, rập khuôn mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, dẫn đến nền kinh tế - xã hội rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu liên quan đến vận mệnh của đất nước, của Đảng, đó là tất yếu phải đổi mới. Trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thực tiễn vận dụng, phát triển sáng tạo, Đảng đã thể hiện rõ trí tuệ, bản lĩnh trong hoạch định đường lối cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác. Đại hội đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; phải nắm vững quy luật khách quan, lấy dân làm gốc… Đại hội đánh dấu một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tạo ra bước đột phá lớn toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên”(1). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó đề cập đến 4 nội dung lớn, gồm: Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm; quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) làm rõ hơn mục tiêu tổng quát, các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Trải qua 40 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, “đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm”(2). Những thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại mà Việt Nam đạt được trong 40 năm đổi mới do Đảng lãnh đạo là minh chứng sâu sắc, thuyết phục nhất về năng lực lãnh đạo và tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu khách quan, đó là khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, giữ vững độc lập, chủ quyền; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh phải được hiện thực hóa bằng những mục tiêu cụ thể, trên tất cả các lĩnh vực. Bước vào kỷ nguyên mới, với những thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới, đất nước phải có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột phá, gắn với tính chính danh của Đảng ta ngày càng được khẳng định.

Tính chính danh của Đảng thể hiện ở chủ đề của Đại hội:

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng đã xác định chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(3).

“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” vừa minh chứng tính đúng đắn của con đường mà Đảng lựa chọn, vừa khẳng định tính chính danh của Đảng, bằng uy tín được xây dựng từ lịch sử hào hùng. Trong bối cảnh mới, “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” còn mang thông điệp về trách nhiệm cho tương lai, vừa gìn giữ sự “vẻ vang” của quá khứ đã tạo dựng bằng sự hy sinh của các thế hệ đi trước, vừa phát huy truyền thống đó ở hiện tại và tương lai; và với tính chính danh của mình, Đảng ta tự tin, tự chủ, tự cường dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, “vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”.

Để bảo đảm tính chính danh, Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn. V.I. Lênin nhấn mạnh: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”(4). Soi rọi thực tiễn hôm nay, với những nguy cơ, thách thức đang tồn tại, chúng ta càng thấm giá trị lời căn dặn đó, Đảng phải “tự cách mạng” - đó là quy luật sống còn của Đảng, là “mệnh lệnh” của cuộc sống.

Tính chính danh của Đảng thể hiện tầm nhìn và khát vọng phát triển.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đề ra quyết tâm “… đưa đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; thiết thực kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và ước vọng của toàn thể dân tộc ta”(5). Như vậy, khả năng hoạch định đường lối chiến lược đúng đắn và khả năng lãnh đạo tổ chức thực hiện thành công các mục tiêu trọng đại của đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là thước đo trí tuệ, tầm nhìn và năng lực lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng là tiêu chí củng cố tính chính danh của Đảng trong kỷ nguyên mới gắn với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cần quán triệt quan điểm “dân là gốc”, “dân làm gốc”, giải quyết được những vấn đề mà người dân quan tâm nhất, qua đó củng cố niềm tin sắt son, quy tụ sự chung sức, đồng lòng của nhân dân. Tính chính danh bền vững nhất là tính chính danh xuất phát từ niềm tin của nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ, để phát triển nhanh và bền vững đất nước, cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm, đó là “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(6). Tất cả các yếu tố này phải được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ, không thể xem nhẹ bất kỳ yếu tố nào, hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng quốc gia hùng cường và thịnh vượng. Thông qua khả năng hoạch định đường lối chiến lược đúng đắn để hiện thực hóa khát vọng hùng cường của dân tộc, tính chính danh của Đảng được tiếp tục khẳng định và phát huy trong giai đoạn mới.

Tính chính danh của Đảng thể hiện ở quyết tâm chính trị.

Quyết tâm chính trị cao nhất của Đảng là vì hạnh phúc nhân dân. Uy tín của Đảng, tính chính danh của Đảng cũng đo bằng sự hùng cường, thịnh vượng của quốc gia và sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đó là minh chứng sống động, là niềm tin yêu mà nhân dân dành cho Đảng. Điều này đòi hỏi năng lực hoạch định (trí tuệ), năng lực tổ chức thực hiện (hành động). Năng lực này thể hiện ở việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, đủ năng lực, phẩm chất gánh vác nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mang ý nghĩa sống còn. Tham nhũng và sự suy thoái của cán bộ là một trở lực lớn ngăn cản việc “hiện thực hóa” đường lối của Đảng và trực tiếp đe dọa đến tính chính danh của Đảng.

Nội dung xây dựng Đảng về “đạo đức” và “văn minh” cũng là một trong những điểm mới quan trọng được đưa vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội được hiến định trong Hiến pháp. Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng phải thật sự “là đạo đức, là văn minh”(7), đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải phấn đấu thật sự vì dân, thể hiện vai trò, tiên phong gương mẫu, nêu gương về đạo đức. Trong thực thi nhiệm vụ phải luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc, đất nước lên trên hết, trước hết. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV là bước tiến mới trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng - yếu tố then chốt để giữ vững tính chính danh.

Trước những yêu cầu to lớn từ nhiệm vụ của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức sâu sắc trách nhiệm không ngừng củng cố và khẳng định mạnh mẽ tính chính danh. Điều này đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu bắt đầu từ quyết tâm, trách nhiệm, tâm huyết của mỗi đảng viên, cán bộ, thực sự đáp ứng được mong mỏi của nhân dân và khát vọng phát triển đất nước./.

Tạp chí Cộng sản
(1) Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 41 - 42
(2) GS, TS Tô Lâm: Rạng rỡ Việt Nam, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 2-2- 2025
(3) Xem: Công bố dự thảo các văn kiện Đại hội XIV để lấy ý kiến nhân dân, Tạp chí Cộng sản điện tử
(4) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátcơva, 1977, t. 37, tr. 145
(5) Xem: Công bố dự thảo các văn kiện Đại hội XIV để lấy ý kiến nhân dân, Tạp chí Cộng sản điện tử
(6) Xem: Công bố dự thảo các văn kiện Đại hội XIV để lấy ý kiến nhân dân, Tạp chí Cộng sản điện tử
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 403.

Address

Phường Đồng Xoài
Tỉnh Đồng Nai

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when ĐIỀU ĐỒNG XOÀI posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share