25/07/2026
TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: ĐI BUÔN MẤT VỐN…
Bài viết của một nhà văn Hà Nội, Nghiêm Đa Văn đăng trên một tạp chí do nhà văn Nhật Tuấn (1) chủ biên. Tựa bài do chúng tôi đặt lại. Merci.
Mẹ tôi (Nghiêm Đa Văn - Tôi Nhớ chú thích) là con gái út cụ Cử Tiết - Nguyễn Đức Tiết. Ông ngoại tôi đỗ Tiến sĩ đời Vua Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè Tiết, vì ông không nhận mũ mãng vinh quy của ông vua mới này và do Tây dựng lên, mà chỉ gọi theo hịch của ông vua cũ là Hàm Nghi, thời ông đỗ Cử nhân. Ông ngoại tôi có 3 người bạn đồng khoa: Cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am. Ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền và tình bằng hữu của các cụ nhà nho gốc Kinh Bắc này từ ngày xưa đã rất đặc biệt.
Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật, làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ Hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện - Dân gian gọi chủ tướng ấy là Đề Hẹn, và gọi quân sư (Tức ông ngoại tôi) là Đốc Tít. Còn cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu thì bỏ quan đi dạy học. Cụ Cử làng Hành Thiện theo quân triều đình làm Tham tán Quân vụ. Cụ Cử làng Cổ Am thì đi làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến Tổng đốc nhưng vẫn nhận các con bạn "làm giặc" về nuôi làm con mình, cho ăn học thành tài.
Mẹ tôi kể: Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu... Khi cụ Cử Cổ Am trị nhậm ở Thái Bình - Nam Định, tất cả các bác, các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ vài người đỗ vào trường Bảo Hộ, tức trường Bưởi Hà Nội.
Người sớm có chí lo việc "quốc sự" là cậu Tú Dzư, tức Trần Dzư. Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu Bổ, chuyên đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý bố, cậu Tú Dzư bị cắt hết trợ cấp. Cậu ấm con quan bị đẩy ra cuộc đời với hai bàn tay trắng khi tuổi đời chưa tới hai mươi.
Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải Phòng tìm bạn cùng chí hướng. Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin được một chân thư ký cho một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, nằm trên Quốc lộ nối liền Hà Nội - Hải Phòng. Tại nơi này, Tú Dzư gặp một người bạn là dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo cuộc chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết, cả nhà ở lại. Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em là Lân và Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết vài ba bài báo in trong tạp chí của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học.
Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có nhiệt huyết hồi đó. Vì ý nguyện yêu nước, cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần, tự ý bỏ cách đặt tên “Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, và lại tự đặt cho mình cái tên lót "Khánh" để trở thành Trần Khánh Dzư. Cậu lấy việc bán dầu hỏa đem so sánh giống với việc bán than chờ thời của ông Trần Khánh Dư ngày xưa thật, để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.
Làm thư ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian, Tú Dzư cùng 3 anh em Tam, Lân, Long lên Hà Nội, góp tiền mở một hiệu ảnh trước cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên là hiệu ảnh Hương Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng ấy cùng muốn cái việc chớp hình của mình sẽ ghi lại được những gì đẹp nhất của tục vật, làm hương hoa của đời. Để thêm người làm việc, cậu Tú Dzư vào Nam Định, rủ thêm Cảnh là em nuôi, rồi Tiêu là em ruột lúc bấy giờ bị đuổi khỏi trường Thành Chung vì tham gia bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh.
Mấy anh em tập trung, vừa làm thầy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hương Ký nhỏ bé. Cánh Nam Đồng Thư Xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo... cùng tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hương Ký. Cậu Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng Thư Xã vốn đi theo chủ nghĩa Tam Dân: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên bên Tầu đề xướng. Còn anh em trong nhóm Hương Ký lại rất mê văn chương dạng Thế kỷ Ánh sáng của các triết gia châu Âu.
Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông nên được cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, được giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và được cử vào học lớp chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cốt 7 người ở số nhà 5D Hàm Long, Hà Nội.
Nhóm Nam Đồng Thư Xã tại Việt Nam đã hoàn chỉnh học thuyết của mình, thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái gây chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương thì phát động phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh. Cả hai phong trào đều bị dìm trong bể máu.
Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi danh theo thể thức Dự thính là Lễ, một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca, cách mạng văn chương, cách mạng lối sống. Vũ khí họ chọn là ngòi bút và lịch sử suốt từng ấy năm đã cho rằng, họ thiếu dũng khí nên không dám cầm súng. Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh; hoặc tiền công làm gia sư, công chức hạng bét. Họ là những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi, hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường, chưa hề viết một bài thơ hay một đoản thiên nào.
Họ góp tiền lại mua một măng-sét (Tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh: Báo Phong Hóa. Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới, xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Chàng sinh viên học dự thính Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành “con hổ nhớ rừng” và là một chủ soái Thế Lữ của phong trào Thơ Mới. Anh chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu, người tình muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt và là một kỹ sư Canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận.
Anh cử nhân Toán Lý tên Tam thành nhà văn Nhất Linh và nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, “tự mê hoặc" mình bằng cái tên Khánh Dzư đã thành Khái Hưng - Cả hai cùng trở thành hai cây đại thụ, góp phần đặt nền móng cho nền tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam. Cậu Long, sinh viên khoa Luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý luận của nhóm, cũng là nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền thống "Trần Cộc" không tên đệm đã thành nhà văn Trần Tiêu, người đầu tiên đi mô tả cái hồn của đời sống nông thôn trong tiểu thuyết Việt. Thầy ký sở Phi-năng (Finance) tên Hiếu, họ Hồ, đệm Trọng trở thành nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Mỡ, nối nghiệp Tú Xương.
Nhóm Phong Hóa lập nên Tự Lực Văn Đoàn, đã không nhận tài trợ của bất cứ ai, nhưng vẫn lập giải văn chương, giải thưởng để khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn. Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày Nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phần lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, và do nhà xuất bản Ngày Nay in sách.
Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào như đã kể ở đầu bài, riêng Khóa Cảnh là Nguyễn Đức Cảnh, bí thư Cộng sản đầu tiên của Hải Phòng, Quảng Ninh, lãnh đạo phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, bị tử hình - Ông cũng là một nhà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết giao với nhà xuất bản Tân Dân và Tiểu Thuyết Thứ Bẩy đã trở thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiều, khóa Khu là Đặng Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng. Riêng Đặng Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ thì ký tên Sóng Hồng.
Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bốn người bạn đồng khoa như đã nói, mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ của các bậc khoa bảng Bắc Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng "đẻ" ra quan - Dân gian vì thế có câu: "Vú Đồ Sơn, L... Cổ Am". Ba người bạn đồng khoa như đã kể, đều lấy con gái nhà họ Trần, một họ lớn của làng Cổ Am.
Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười: “Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu "nhật trình" Phong Hóa, các bác, các cậu đã "ăn dỗ" đám các chị em gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng, một bộ xà-tích vàng... hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao vẫn mất cả vốn lẫn lời”.
Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả những người thân của mẹ tôi, những người lập nên Tự Lực Văn Đoàn đều mất cả vốn lẫn lời như chính bà. Chỉ có nền văn hóa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này, những người khác xây lâu đài trên nền móng đó vẫn chưa thực sự công nhận, những viên gạch đó là nền móng văn chương thực sự.
Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út của tất cả những người anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi tên là Thừa, Nguyễn Thị Thừa. Mẹ tôi đã kể những chuyện này.
Nguồn: Văn học & Dư Luận số 5/1992 do Nhật Tuấn chủ biên / Blog Thời 2D - blog Nhật Tuấn, ngày 20/6/2012.
Photos: 1/ Nhà văn Nhất Linh, thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn, đi dạo với 2 cháu nhỏ trong Vườn Tao Đàn, 1954. Cháu gái là Trương Kim Anh, con của nhà văn Nguyễn Thị Vinh (Chúng tôi đã giới thiệu). 2/ Nhất Linh chụp ảnh cùng gia đình tại Đà Lạt, 1956
NGUYỄN MARTHA
_____
(1) Em ruột của nhà văn Nhật Tiến