8 SÀI GÒN

Call Contact the organization

8 SÀI GÒN Trang là diễn đàn để mọi người chia sẻ cảm xúc ở mọi khía cạnh của cuộc sống và hoài niệm về Sài Gòn xưa và nay.

Thư từ, bài viết gửi: qua email: [email protected]

HOÀNG TỬ BẢO THĂNG - NGƯỜI CON ÚT CỦA VUA BẢO ĐẠI VÀ NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU…Giữa những biến động dữ dội của lịch sử Việt N...
26/07/2026

HOÀNG TỬ BẢO THĂNG - NGƯỜI CON ÚT CỦA VUA BẢO ĐẠI VÀ NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU…

Giữa những biến động dữ dội của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, có những con người bước qua thời cuộc một cách lặng lẽ. Không tranh đoạt, không để lại dấu ấn ồn ào, nhưng chính sự lặng im ấy lại khiến người ta nhớ mãi. Hoàng nam Bảo Thăng là một trong những nhân vật như thế.

Ông tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Bảo Thăng, sinh ngày 30/9/1943 tại Đà Lạt, là con trai út của vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu. Ông chào đời khi triều Nguyễn đã bước vào buổi xế chiều, khi những nghi lễ cung đình vẫn còn, nhưng quyền lực thực sự đã không còn như xưa.

Tuổi thơ của ông không gắn với Kinh thành Huế lâu dài. Khi chưa đầy 5 tuổi, ông theo gia đình sang Pháp. Từ đó, cuộc đời ông gắn liền với châu Âu – nơi ông lớn lên, học tập và trưởng thành như một công dân phương Tây, hơn là một hoàng nam của một triều đại phương Đông.

Ông từng theo học tại trường Stanislas ở Cannes, sau đó là École des Roches tại Normandie – những ngôi trường danh tiếng đào tạo theo mô hình giáo dục hiện đại. Nhưng sau vài năm, thông tin về cuộc sống và học tập của ông gần như không còn được ghi nhận rõ ràng. Ông sống kín đáo, tránh xa sự chú ý của công chúng, ngay cả khi sau này trở thành người đứng đầu danh nghĩa của hoàng tộc nhà Nguyễn sau khi Thái tử Bảo Long qua đời.

Cuộc đời của Bảo Thăng mang một nét rất đặc biệt ông là người mang dòng máu hoàng tộc, nhưng lại trưởng thành trong một thế giới không còn ng*i vàng. Một bên là ký ức về cung đình Huế với Ngọ Môn, điện Thái Hòa, những nghi lễ xưa cũ; một bên là cuộc sống hiện đại nơi đất Pháp. Hai dòng chảy ấy tồn tại song song, tạo nên một cảm giác vừa thuộc về, vừa xa cách.

Không giống nhiều nhân vật hoàng tộc khác, ông không tham gia chính trị, cũng không xuất hiện trong các hoạt động công chúng. Ông chọn cho mình một cuộc sống lặng lẽ, gần như ẩn dật. Học vấn giúp ông thích nghi với xã hội phương Tây, nhưng không thể xóa đi hoàn toàn dấu ấn của một nguồn cội đã lùi vào dĩ vãng.

Ông sống độc thân suốt đời. Ngày 15/3/2017, ông qua đời tại Paris, hưởng thọ 72 tuổi. Tang lễ được tổ chức tại nhà thờ Saint-Ferdinand-des-Ternes.

Sau đó, gia đình đưa ông về Chabrignac để an táng cùng mẹ – Hoàng hậu Nam Phương. Ông là người đầu tiên trong các con được nằm cạnh bà.

Sự ra đi của Bảo Thăng không tạo nên những nghi lễ lớn hay biến động dư luận. Nhưng với những ai còn nhớ về triều Nguyễn, đó là một dấu lặng rất đặc biệt – như một sợi dây nối cuối cùng giữa quá khứ và hiện tại vừa khép lại.

• (Nguồn: Social Network).

TẠI SAO ĐỌC SÁCH NGOÀI TRỜI LẠI MANG ĐẾN TRẢI NGHIỆM KHÁC BIỆT?…Liệu việc đọc sách dưới bầu trời rộng mở có thể cải thiệ...
26/07/2026

TẠI SAO ĐỌC SÁCH NGOÀI TRỜI LẠI MANG ĐẾN TRẢI NGHIỆM KHÁC BIỆT?…

Liệu việc đọc sách dưới bầu trời rộng mở có thể cải thiện khả năng tập trung, tâm trạng và trí tưởng tượng? Hãy cùng khám phá vẻ đẹp và những cơ sở khoa học đằng sau thói quen đọc sách ngoài trời.

Khi Claude Monet ngắm nhìn ánh sáng dịu dàng phủ lên thành phố cảng Le Havre mờ sương và lưu giữ khoảnh khắc ấy bằng những nét cọ mềm mại trong bức tranh Impression, Sunrise (Ấn tượng, Mặt trời mọc), ông không hề biết mình đang khởi đầu cho một cuộc cách mạng nghệ thuật. Tác phẩm này nhanh chóng trở thành mục tiêu công kích của nhà phê bình Louis Leroy, người đã chế giễu nó trong bài viết The Exhibition of the Impressionists và mỉa mai đặt ra thuật ngữ “Chủ nghĩa Ấn tượng” (Impressionism). Theo Leroy, bức tranh quá sơ sài, chưa hoàn thiện và đi ngược lại những chuẩn mực cổ điển về nghệ thuật “đích thực”.

Thế nhưng, thay vì cảm thấy xấu hổ hay nản lòng, nhóm họa sĩ bị từ chối ấy đã làm một điều bất ngờ: họ chấp nhận chính cái tên đó. Danh xưng tưởng như mang tính chế nhạo lại trở thành sợi dây gắn kết họ, trao cho họ một bản sắc chung, vừa đủ để thuộc về một cộng đồng, vừa đủ để mỗi người tự do theo đuổi cách diễn giải nghệ thuật riêng.

Triển lãm Ấn tượng đầu tiên được tổ chức vào năm 1874 trên đại lộ Boulevard des Capucines, quy tụ các nghệ sĩ từng bị loại khỏi Salon de Paris danh giá. Trong số đó có những cái tên ngày nay được tôn vinh trong lịch sử mỹ thuật như Paul Cézanne, Edgar Degas, Pierre-Auguste Renoir và dĩ nhiên là Claude Monet.

Hội họa ngoài trời: Khi thiên nhiên trở thành xưởng vẽ

Một trong những điểm táo bạo và khác biệt nhất của trường phái Ấn tượng là việc vẽ tranh en plein air – tức là sáng tác trực tiếp ngoài trời.

Thay vì ngồi trong phòng vẽ và quan sát người mẫu hay đồ vật, các họa sĩ mang giá vẽ ra thiên nhiên, cố gắng ghi lại “ấn tượng” thoáng qua của một khoảnh khắc. Họ say mê theo đuổi cách ánh sáng xuyên qua tán lá, phản chiếu trên mặt nước hay thay đổi chỉ trong vài phút ngắn ngủi.

Điều họ muốn nắm bắt không phải là sự hoàn hảo, mà là cảm giác sống động của một khoảnh khắc đang trôi qua.

Ảnh hưởng Của Nhật Bản: Thiên nhiên như một triết lý sống

Nghệ thuật Nhật Bản có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào Ấn tượng Pháp. Ngày nay, nhiều du khách vẫn dành một ngày rời Paris để đến Giverny tham quan khu vườn mang phong cách Nhật Bản nổi tiếng của Monet.

Từ lâu, người Nhật đã dành sự tôn kính đặc biệt cho thiên nhiên. Tình yêu ấy không chỉ thể hiện trong nghệ thuật, thơ ca hay kiến trúc mà còn trong cách họ nhìn nhận sức khỏe tinh thần và chất lượng sống. Chính vì thế, từ những năm 1980, nhiều nghiên cứu khoa học tại Nhật Bản bắt đầu tìm hiểu tác động của việc dành thời gian trong thiên nhiên đối với mức độ căng thẳng của con người.

Kết quả gần như không gây bất ngờ: thiên nhiên không chỉ là một thú vui mang lại cảm giác dễ chịu mà còn có ảnh hưởng tích cực rõ rệt đến sức khỏe tinh thần và tâm lý.

Shinrin-yoku sức chữa lành của thiên nhiên

Năm 1982, thuật ngữ shinrin-yoku ra đời, có thể hiểu là “tắm rừng” (forest bathing).

Đây vừa là một triết lý sống vừa là một phương pháp trị liệu, nhắc nhở chúng ta rằng con người cần thiên nhiên. Khoa học cho thấy chúng ta hạnh phúc hơn khi dành nhiều thời gian ở ngoài trời, kết nối với thế giới tự nhiên.

Khác với nhịp sống kỹ thuật số căng thẳng và quá tải thông tin ngày nay, khu rừng âm thầm cho phép chúng ta thở chậm lại. Ta bắt đầu chú ý đến cành cây gãy dưới chân, những vệt nắng len qua tán lá, tiếng chim hót hay tiếng gió khẽ lướt qua.

Đọc sách ngoài trời: Một hình thức “tắm rừng” hiện đại

Nhiều người trong chúng ta đang cố gắng tìm lại mối liên kết đã phần nào bị đứt gãy với thiên nhiên. Điều đó không nhất thiết phải bắt đầu bằng những thay đổi lớn lao. Đôi khi, chỉ cần một cuốn sách.

Chúng ta đều biết đọc sách mang lại vô số lợi ích. Nó kích thích trí tuệ, nuôi dưỡng sự đồng cảm và giúp giảm nồng độ cortisol – loại hormone liên quan đến căng thẳng.

Vì vậy, mang theo một cuốn tiểu thuyết, tập thơ hay cuốn sách yêu thích ra ngoài trời, ngồi đọc dưới ánh nắng dịu nhẹ hoặc những đám mây lững lờ, có lẽ chính là cách đơn giản nhất để mỗi người tìm thấy shinrin-yoku của riêng mình.

Ngay cả với những độc giả nhỏ tuổi nhất, việc đọc sách ngoài trời cũng được cho là giúp tăng cường khả năng tiếp nhận thông tin và nâng cao mức độ thấu hiểu câu chuyện. Thói quen ấy từng chút một vun đắp mối quan hệ giữa chúng ta với thế giới bên ngoài, giúp ta cảm thấy gắn bó hơn với đời sống thực.

Tình yêu dành cho thiên nhiên không tự nhiên mà có. Nó cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và thực hành một cách có chủ đích.

Chúng ta không nhất thiết phải bước vào những khu rừng sâu mới có thể tận hưởng lợi ích của thiên nhiên. Mỗi người đều có thể tìm cho mình một cách riêng: mang theo một cuốn sách trong túi đi làm để tranh thủ vài phút trên ghế đá công viên, hay tạo cho mình một nghi thức buổi sáng giản dị với một tách đồ uống nóng và vài trang sách dưới ánh mặt trời.

Trở về với thế giới tự nhiên

Mỗi khi dành quá nhiều thời gian nhìn vào màn hình máy tính, tôi lại nhắc mình thực hành shinrin-yoku theo cách riêng.

Tôi thực sự tin rằng gần như bất kỳ trạng thái tinh thần nào cũng có thể được xoa dịu bằng nửa giờ ở ngoài trời và mười phút đọc sách. Dù gọi đó là sự trốn thoát khỏi thực tại hay đơn giản chỉ là niềm vui thuần túy, thói quen này đã trở thành một phần quan trọng trong triết lý sống và cách tôi chăm sóc sức khỏe tinh thần của mình.

Cuộc sống hiện đại ngày càng phụ thuộc vào thiết bị số và màn hình. Chính vì thế, chúng ta cần chủ động giành lại quyền được ngắt kết nối.

Xét cho cùng, dù thông minh đến đâu, chúng ta vẫn là những sinh vật sống. Và giống như mọi sinh vật khác, chúng ta cần những điều cơ bản nhất: thức ăn, nước uống và ánh nắng mặt trời.

Chúng ta đã quen xem thế giới kỹ thuật số là tiêu chuẩn của cuộc sống hiện đại, nhưng có lẽ cũng nên tự hỏi: liệu một thực tại buộc con người dành gần như toàn bộ cuộc đời giữa bốn bức tường có thực sự là điều tự nhiên?

Với tôi, bước ra ngoài cùng một cuốn sách trên tay không chỉ là cách trở về với bản chất con người, mà còn là một hành trình nhẹ nhàng để trở về với chính mình.

Theo: Vincent Phan (1000 Libraries)

TRẠM ĐỌC

LINH XUÂN TỪ TRANSIT À SÀI GÒN ĐẾN ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA…Bức chân dung mà các bạn đang nhìn thấy là hình ảnh của nữ diễn viê...
26/07/2026

LINH XUÂN TỪ TRANSIT À SÀI GÒN ĐẾN ĐÔI MẮT NGƯỜI XƯA…

Bức chân dung mà các bạn đang nhìn thấy là hình ảnh của nữ diễn viên Linh Xuân vào năm 1963, đăng trên báo Kịch Ảnh.

Sau nhiều năm lưu lạc cùng thời gian, tấm ảnh gốc đã bị xuống cấp nặng bởi hạt in báo, bụi bẩn, trầy xước và bạc màu. Việc phục hồi bức chân dung này không nhằm làm đẹp hay hiện đại hóa hình ảnh, mà chỉ cố gắng đưa người xem trở về gần hơn với diện mạo nguyên thủy của bức ảnh khi vừa được in trên báo năm 1963. Qua đó, gương mặt Linh Xuân hiện lên với vẻ đẹp rất riêng của một nữ diễn viên điện ảnh Việt Nam đầu thập niên 1960: đôi mắt trầm, nét mặt đằm thắm, mái tóc bồng tự nhiên và thần thái nhẹ nhàng, đúng với phong cách của một thời kỳ điện ảnh còn mang đậm ảnh hưởng của nghệ thuật Pháp.

Vào năm 1963, trên các tờ báo Kịch Ảnh, Màn Ảnh, đăng rất nhiều hình ảnh của một gương mặt nữ diễn viên Pháp gốc Việt, người đó chính là Linh Xuân.

Tuy thời gian hoạt động tại Việt Nam không quá dài, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, cái tên Linh Xuân đã xuất hiện liên tục trên mặt báo. Báo chí lúc bấy giờ đặc biệt chú ý đến một nữ diễn viên trẻ đến từ Pháp, mang vẻ đẹp hiện đại nhưng vẫn đậm nét Á Đông. Chính sự kết hợp ấy đã khiến Linh Xuân trở thành một gương mặt mới đầy triển vọng của màn bạc Sài Gòn.

Linh Xuân được quảng cáo rầm rộ khi bộ phim Transit À Sài Gòn được trình chiếu tại Việt Nam. Phim do Pháp thực hiện tại Việt Nam với đạo diễn là Leduc Jean. Khi phát hành toàn thế giới, phim có tựa tiếng Anh là Incident In Saigon.

Transit À Sài Gòn với sự tham gia của các diễn viên nổi tiếng của Pháp và Việt Nam gồm: Odile Versois, Linh Xuân, Pierre Massimi, Rene Laporte, Simone Cúc, Lê Quỳnh, Thu Hiền…

Đây là một tác phẩm hợp tác quốc tế hiếm hoi được thực hiện ngay trên bối cảnh thật của Sài Gòn đầu thập niên 1960. Những đại lộ trung tâm, khu Chợ Lớn, bến cảng và nhiều địa điểm quen thuộc đã trở thành bối cảnh sống động của bộ phim, đồng thời lưu giữ một phần diện mạo đô thị Sài Gòn trước khi chiến tranh leo thang.

Một câu chuyện tình yêu giang hồ đầy nghĩa khí của anh chàng Jean (Massimi) được lồng vào một vụ buôn lậu táo bạo diễn biến qua những khung cảnh, những cuộc rượt đuổi, chạm súng khốc liệt diễn ra ngay trên chính đường phố Sài Gòn, Chợ Lớn và những vùng phụ cận.

Không chỉ mang yếu tố hành động và tình cảm, bộ phim còn được đánh giá cao vì đã đưa hình ảnh Việt Nam xuất hiện trên màn bạc quốc tế với quy mô khá lớn vào thời điểm đó. Đối với khán giả trong nước, đây cũng là dịp hiếm hoi được thưởng thức một tác phẩm có sự kết hợp giữa nghệ sỹ Việt Nam và điện ảnh Pháp với quy trình sản xuất hiện đại.

Đây là một trong những bộ phim được cho là: “Đã đánh dấu một kỷ nguyên mới cho những công trình sản xuất hỗn hợp giữa điện ảnh Sài Gòn và điện ảnh quốc tế” (Theo báo Kịch Ảnh số 257, xuất bản tại Sài Gòn trong tuần lễ từ 16/3/1963 đến 22/3/1963 nhân dịp phim trình chiếu tại miền Nam Việt Nam ở các rạp lớn nhất: Rex, Đại Nam). Bản gốc phim này vẫn còn được lưu giữ tại Pháp.

Thành công về mặt truyền thông của Transit À Sài Gòn đã giúp tên tuổi Linh Xuân được đông đảo công chúng biết đến. Các tờ báo điện ảnh thời đó liên tục đăng hình, giới thiệu tiểu sử và những hoạt động nghệ thuật của bà như một trong những gương mặt mới đáng chú ý nhất của điện ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Cũng trong thời gian phim được trình chiếu rầm rộ, Linh Xuân được mời vào vai chính trong Đôi Mắt Người Xưa.

Phim do hãng Liêm Phim sản xuất, dựa theo tiểu thuyết cùng tên của cố nhà văn Ngọc Linh. Phim màu do đạo diễn Nguyễn Văn Liêm thực hiện với sự trợ giúp của các chuyên gia, quay phim và ê kíp của Makino Nhật Bản cùng với Thanh Mỹ, lúc bấy giờ là một nhà quay phim trẻ đầy tài năng.

Đôi Mắt Người Xưa được kỳ vọng sẽ là một trong những bộ phim màu tiêu biểu của điện ảnh miền Nam giai đoạn đầu, khi các hãng phim trong nước bắt đầu mạnh dạn đầu tư kỹ thuật mới và hợp tác với các chuyên gia nước ngoài để nâng cao chất lượng sản xuất.

Bộ phim lúc đầu vai Lệ giao cho nữ diễn viên Linh Xuân đóng và Thanh Nga vai cô em cùng cha khác mẹ, nhưng khi quay hơn ½ bộ phim, trước ý kiến của khán giả và giới báo chí, ê kíp làm phim đã quay lại, đổi vai Thanh Nga vào vai Lệ.

Đó là một quyết định khá đặc biệt trong lịch sử điện ảnh miền Nam. Việc thay đổi diễn viên chính khi bộ phim đã hoàn thành hơn một nửa khối lượng quay là điều rất hiếm gặp, bởi nó đồng nghĩa với việc phải thực hiện lại nhiều phân đoạn, phát sinh thêm thời gian và kinh phí. Tuy vậy, đoàn làm phim vẫn chấp nhận quay lại nhằm đáp ứng kỳ vọng của công chúng và giới báo chí, thể hiện sự cầu thị của nhà sản xuất trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn.

Dẫu không tiếp tục gắn bó với vai Lệ cho đến khi bộ phim hoàn thành, Linh Xuân vẫn để lại một dấu ấn đáng nhớ trong giai đoạn đầu của dự án cũng như trong ký ức của khán giả yêu điện ảnh. Cùng với Transit À Sài Gòn, tên tuổi của bà đã trở thành một phần của thời kỳ điện ảnh Sài Gòn đang từng bước hội nhập với nền điện ảnh quốc tế, ghi dấu hình ảnh một nữ diễn viên Việt kiều mang vẻ đẹp thanh lịch, hiện đại nhưng vẫn rất gần gũi với công chúng Việt Nam đầu thập niên 1960.

Ngày nay, mỗi bức ảnh còn lưu lại của Linh Xuân trên các số báo Kịch Ảnh hay Màn Ảnh không chỉ là chân dung của một nữ diễn viên, mà còn là những tư liệu quý phản ánh một giai đoạn phát triển sôi động của điện ảnh miền Nam. Việc phục hồi những hình ảnh này góp phần lưu giữ ký ức về các nghệ sỹ, đồng thời giúp thế hệ hôm nay có cơ hội nhìn lại chân thực hơn diện mạo của một thời kỳ điện ảnh từng có tồn tại trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

LÊ QUANG THANH TÂM

Thư giãn cuối tuần:TIỀN MẤT, LE TAN….Bỏ tiền mua hột lấy le,Ai ngờ hột giả, hết le... hóa lề!Tưởng đâu ra dáng chủ đề,Xo...
25/07/2026

Thư giãn cuối tuần:

TIỀN MẤT, LE TAN….

Bỏ tiền mua hột lấy le,
Ai ngờ hột giả, hết le... hóa lề!

Tưởng đâu ra dáng chủ đề,
Xoay qua xoay lại, ê xề đôi tay.
Lúc mua hứa hẹn "chất nầy",
Đeo vô mới biết... hàng bày bến xe!

Người ta lúng liếng mắt xoe,
Mình đây nhột nhạt, né phe bạn bè.
Tiền rơi, le mất, cay xè,
Rút kinh nghiệm sống: chớ khoe hột xoè!

DỰ ÁN CỦA DUNSANY…Người ta từng gọi ông là kẻ ngốc, là nỗi xấu hổ của dòng họ, thậm chí có người còn cho rằng ông chỉ là...
25/07/2026

DỰ ÁN CỦA DUNSANY…

Người ta từng gọi ông là kẻ ngốc, là nỗi xấu hổ của dòng họ, thậm chí có người còn cho rằng ông chỉ là một kẻ vô dụng không xứng với di sản tổ tiên để lại. Nhưng Randal Plunkett, nam tước Dunsany đời thứ 21 của Ireland, chưa bao giờ để những lời ấy làm lung lay quyết định của mình.

Bảy năm trước, trong khi ai cũng nghĩ một quý tộc sở hữu lâu đài sẽ tiếp tục khai thác đất đai để sinh lợi, ông lại chọn một con đường hoàn toàn trái ngược: để 300 hecta trong tổng số 650 hecta đất của gia sản trở về trạng thái hoang dã nguyên bản. Không còn chăn thả gia súc, không còn cắt cỏ, không còn trồng trọt hay nhổ bỏ những thứ bị gọi là “cỏ dại”. Ông chỉ đơn giản để mảnh đất ấy được tự do, không còn bàn tay con người can thiệp.

Nhiều người cười nhạo, cho rằng ông đang phá hủy cơ nghiệp tổ tiên. Thế nhưng trong lúc những lời chỉ trích vang lên, thiên nhiên lại lặng lẽ trở về mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nơi từng chỉ có ba loại cỏ, giờ đây đã xuất hiện hơn hai mươi ba loài thực vật khác nhau. Chim trời mang theo hạt giống đến, để những cây sồi, tần bì, dẻ g*i và dương đen tự mọc lên mà không cần bất kỳ ai trồng. Côn trùng quay trở lại với số lượng lớn, kéo theo cú lợn, diều hâu, chồn ermine, sóc đỏ và cả những loài chim quý hiếm vốn gần như biến mất khỏi vùng đất ấy.

Điều kỳ diệu nhất là tất cả đều diễn ra mà không cần con người “sửa chữa” thiên nhiên. Thiên nhiên chỉ cần một thứ duy nhất: được yên để tự chữa lành chính mình.

Ngày nay, Dunsany đã trở thành dự án rewilding tư nhân đầu tiên của Ireland gia nhập Mạng lưới Rewilding châu Âu, thu hút các nhà khoa học và thực vật học đến nghiên cứu. Một vùng đất từng bị cho là đang bị bỏ hoang giờ lại trở thành minh chứng sống cho sức mạnh hồi sinh đáng kinh ngạc của tự nhiên.

Thế nhưng hành trình ấy chưa bao giờ dễ dàng. Randal phải đối mặt với săn trộm, thợ săn, những lời đe dọa trên mạng và cả sự phẫn nộ của những người không thể chấp nhận việc một nam tước sở hữu lâu đài lại để đất đai biến thành “rừng cỏ dại”. Dù vậy, ông vẫn kiên định. Từng là một người mê tập gym và ăn rất nhiều thịt, giờ đây ông trở thành một trong những tiếng nói mạnh mẽ nhất cho thiên nhiên hoang dã ở Ireland.

Điều đáng nói là phần đất ấy không tạo ra lợi nhuận. Gia sản vẫn tồn tại nhờ trồng ngũ cốc và cho thuê bối cảnh quay phim, còn khu vực hoang dã kia chỉ đơn giản là được sống đúng với bản chất của nó.

Trong thời đại khủng hoảng khí hậu và sự tuyệt chủng đang tăng tốc, lựa chọn của Randal không còn chỉ là một hành động nổi loạn với truyền thống gia đình. Nó trở thành một lời nhắc nhở rất sâu sắc rằng đôi khi điều can đảm nhất con người có thể làm không phải là xây thêm, trồng thêm hay kiểm soát thêm, mà là biết lùi lại một bước.

Để đất được thở. Để thiên nhiên tự nhớ lại hình hài ban đầu của mình. Và cũng để con người học lại cách sống khiêm nhường hơn giữa thế giới này.

Đôi khi, điều đẹp nhất chúng ta có thể làm cho Trái Đất không phải là thay đổi nó, mà là ngừng phá vỡ nó.

CHUYỆN TUỔI XẾ CHIỀU

MỘT NGÀY CÒN BA…Tôi sinh ra và lớn lên ở Biên Hòa (BH). Đến năm mười hai tuổi, thế giới của tôi chỉ gói gọn trong con đư...
25/07/2026

MỘT NGÀY CÒN BA…

Tôi sinh ra và lớn lên ở Biên Hòa (BH). Đến năm mười hai tuổi, thế giới của tôi chỉ gói gọn trong con đường đến trường và khu phố nhỏ quen thuộc. Còn Sài Gòn (SG), trong trí tưởng tượng của một đứa trẻ ngày ấy, là một miền đất xa xôi và đầy mê hoặc – "Hòn Ngọc Viễn Đông" mà người lớn vẫn nhắc đến với niềm tự hào. Tôi luôn ao ước một lần được đặt chân đến nơi ấy.

Ba tôi là một công chức tận tụy với công việc và hết lòng vì gia đình. Biết được ước mong của tôi, Ba hứa sẽ đưa hai anh em lên thăm SG vào một ngày thích hợp. Ba bảo, muốn cảm nhận SG thì phải thong thả bước đi giữa lòng phố, hòa vào nhịp sống của người dân nơi đây, chứ không thể chỉ ngồi trên xe nhìn qua khung cửa như “cưỡi ngựa xem hoa”.

Rồi ngày ấy cũng đến.

Một sáng Chủ nhật đầu tháng 12 năm 1971, lời hứa của Ba trở thành hiện thực.

Ba đưa hai anh em tôi lên SG bằng xe lửa. Chuyến tàu rời ga BH lúc chín giờ sáng, lần lượt đi qua Dĩ An, Sóng Thần, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp trước khi đến ga SG. Trên suốt hành trình, Ba kể cho chúng tôi nghe về tuổi trẻ của mình, về chuyện học hành, về cách sống và cách làm người. Ba dặn các con phải chăm học, đọc nhiều sách và biết học hỏi từ thực tế cuộc sống.

Lần đầu tiên, hai anh em cũng mạnh dạn tâm sự với Ba nhiều điều mà ngày thường ít có dịp nói ra. Bây giờ nhìn lại, tôi mới hiểu điều quý giá nhất của chuyến đi hôm ấy không phải là nơi chúng tôi đến, mà là những giờ phút được ngồi cạnh Ba, được nghe giọng nói thân quen và cảm nhận sự gần gũi của một người cha.

Bước ra khỏi ga SG, trước mắt tôi là chợ Bến Thành đông đúc, nhộn nhịp với những bảng hiệu và hình ảnh quen thuộc của một thời. Ba chỉ cho chúng tôi những bức phù điêu gốm trên cổng chợ và kể rằng tác giả là nhà điêu khắc Lê Văn Mậu, một người con ưu tú của BH quê mình. Một chi tiết nhỏ thôi, nhưng qua đó, tôi cảm nhận được tình yêu quê hương luôn âm thầm hiện diện trong Ba.

Điểm dừng chân đầu tiên là nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do. Lần đầu tiên tôi bước vào một không gian đầy sách, nơi mọi người lặng lẽ chọn lựa, đọc sách với sự trân trọng và văn minh. Ba mua vài tạp chí tiếng Pháp, một cuốn truyện, rồi để hai anh em thong thả ngắm nhìn từng kệ sách. Có lẽ chính từ hôm ấy, tình yêu sách trong tôi đã bắt đầu được gieo mầm.

Rời Xuân Thu, Ba đưa chúng tôi dạo bộ trên đường Lê Lợi. Thành phố cuối tuần đông vui nhưng vẫn giữ nét thanh lịch. Những tà áo dài thấp thoáng giữa dòng người, những gánh hàng rong với đủ món quà vặt hấp dẫn khiến cậu bé mười hai tuổi như tôi vừa ngỡ ngàng vừa thích thú. Ba mỉm cười để hai anh em tự chọn những món mình thích. Đến tận hôm nay, tôi vẫn còn nhớ hương vị những cuốn bò bía nóng hổi và ly nước mía Viễn Đông ngọt mát của buổi trưa năm ấy.

Nhưng nơi để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất vẫn là nhà sách Khai Trí. Một thế giới sách rộng lớn mở ra trước mắt với những dãy kệ ngăn nắp và những độc giả say mê đọc trong yên lặng. Ba mua cho chúng tôi những bộ truyện tranh của Nhà xuất bản Sách Vàng như Tintin, Lucky Luke, Astérix, cùng vài số báo Thiếu Nhi mới phát hành. Những món quà giản dị ấy không chỉ đem lại niềm vui tuổi thơ, mà còn nuôi dưỡng trong tôi tình yêu sách suốt cả cuộc đời…

Gần đây, mỗi khi nghe lại bài hát Papa của Paul Anka, với giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng và phảng phất nỗi buồn, lòng tôi lại quay về với chuyến đi SG năm ấy. Tôi như nghe lại giọng Ba, nhìn thấy dáng Ba bên cạnh hai đứa con nhỏ, và cảm nhận một niềm hạnh phúc bình dị mà ngày ấy tôi chưa đủ lớn để hiểu hết.

Ba từng nói: “Các con cố gắng học giỏi, Ba sẽ thu xếp đưa các con đi chơi SG lần nữa.” Nhưng lời hẹn ấy mãi mãi không thành hiện thực. Hơn một năm sau, Ba rời xa chúng tôi về cõi vĩnh hằng, mang theo cả những chuyến đi còn dang dở.

Đến hôm nay, khi đã đi qua gần hết một đời người, tôi mới hiểu món quà lớn nhất Ba để lại không phải là chuyến đi SG, những cuốn truyện tranh hay những món quà năm ấy. Những điều ấy rồi cũng phai màu theo thời gian. Chỉ có tình thương của Ba là còn mãi — một ngày Ba dành trọn ven cho các con, bằng sự dịu dàng, kiên nhẫn và những bài học làm người không cần nói thành lời.

Con đường Tự Do đã đổi tên. Thương xá Tax không còn. Nhiều dấu tích của Sài Gòn năm xưa cũng đã lùi sâu vào ký ức.

Nhưng Ba thì vẫn còn.

Ba còn trong từng trang sách tôi đọc, trong cách tôi nhìn cuộc đời, và trong ký ức về một ngày tưởng như rất bình thường nhưng đã trở thành báu vật của cả một đời người.

Bởi đôi khi, một đời người không cần quá nhiều điều lớn lao. Chỉ cần có một ngày còn Ba… cũng đủ để thương nhớ suốt một đời.

(Ảnh sưu tầm)

Hiep Phan_Vacaville, CA_7/2026

XỨ TÉ…Những năm  80s  chay hết đường Hai Bà Trưng, Nguyện Kiệm, chạy tuốt xuống Hạnh Thông Tây, sẽ thấy cảnh này. Tôi có...
25/07/2026

XỨ TÉ…

Những năm 80s chay hết đường Hai Bà Trưng, Nguyện Kiệm, chạy tuốt xuống Hạnh Thông Tây, sẽ thấy cảnh này. Tôi có người học trò hỏi nó ỡ đâu? "Em ở xứ té_ sao té_em vấp thầy, sao lại vấp_ dạ xứ em nhiều gò"

Vùng đất này vốn là một gò đất cao, ngày xưa rất nhiều cây vắp (một loại cây thân gỗ cứng như lim, hoa màu trắng, tiếng Chăm gọi là cây Krai). Người dân gọi là Gò Vắp, lâu dần đọc trại âm thành Gò Vấp. Hiện tại, bạn vẫn có thể nhìn thấy những cây vắp cổ thụ này tại Thảo Cầm Viên Quận 1.

Điểm đặc biệt của Gò Vấp nằm trên địa hình tương đối cao và ổn định so với mặt nước biển (khoảng 11m). Do đó, khi cả Sài Gòn đối mặt với triều cường hay mưa lớn gây ngập, Gò Vấp thường là khu vực khô ráo nhất.

Thực ra, câu nói đùa "Vấp Gò nên Té" hay "Xứ Té" của học trò không phải tự dưng. Trong lịch sử, khu vực này từng có một địa danh mang tên Gò Té thật 100%.

Năm 1980: Khi đi hết đường Hai Bà Trưng (đoạn qua cầu Kiệu là sang đường Phan Đình Phùng ngày nay) rồi chạy tiếp thẳng trục đường Nguyễn Kiệm để hướng về Gò Vấp, không gian lúc đó thay đổi rất đột ngột. Chỉ cần qua khỏi Phú Nhuận là nhịp sống đô thị sầm uất dừng lại, nhường chỗ cho những cánh đồng đồng ruộng bát ngát, rặng tre, cây cối rậm rạp và những lối đi đầy đất đá. Gò Vấp lúc bấy giờ đúng nghĩa là một vùng nông nghiệp ngoại thành chuyên cung cấp rau củ, lợn gà và hoa tươi cho cả trung tâm Sài Gòn, va dân Saigon gọi là ven đô.

Va tôi nhớ địa danh Hạnh Thông Tây bên trái có con đường chay tuốt vào trong, bên phai có một ngôi nhà thờ rất đẹp ngày xưa người dân hay gọi là đường quẹo xóm giáo hay đường vào làng hoa An Nhơn.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây là một trong những ngôi nhà thờ cổ và hiếm hoi tại Sài Gòn do một nhà tư sản người Nam Bộ (ông Lê Phát An, cậu ruột của Nam Phương Hoàng hậu) bỏ tiền ra xây dựng từ năm 1921. Nhờ kết cấu kiên cố theo kiến trúc Byzantine của Châu Âu, ngôi nhà thờ vẫn giữ nguyên vẹn hình dáng cũ, là "chứng nhân lịch sử" duy nhất còn sót lại đúng vị trí để chứng kiến những bước chân đi dạy năm xưa...

Những hình ảnh như những mãnh lắp ghép truy tìm trên mạng rồi nhờ mR Meta AI thân mến giúp phục dựng theo trí nhớ của tôi, tôi nhớ những con đường lầy lội bùn sình đỏ lòm những căn nhà mái tole, vách gỗ vá chằng vá đụp những hàng rào bằng tre, những hàng cây siêu vẹo, tôi nhớ những đêm mưa tã tơi ướt đẩm, nghêu ngao “Kiếp nghèo/Lam Phương“ và rất có thể MR META AI phục dựng không làm hai long tất cả, nhưng với tôi khơi gợi một dòng chảy trên 40 năm trôi qua mà chắc chắn thế hệ sau không bao giờ nhin thấy hình ảnh như vậy nơi đâu nữa… thanks — đang cảm thấy cảm kích.

ANDY LE

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: ĐI BUÔN MẤT VỐN…Bài viết của một nhà văn Hà Nội, Nghiêm Đa Văn đăng trên một tạp chí do nhà văn Nhật Tu...
25/07/2026

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN: ĐI BUÔN MẤT VỐN…

Bài viết của một nhà văn Hà Nội, Nghiêm Đa Văn đăng trên một tạp chí do nhà văn Nhật Tuấn (1) chủ biên. Tựa bài do chúng tôi đặt lại. Merci.

Mẹ tôi (Nghiêm Đa Văn - Tôi Nhớ chú thích) là con gái út cụ Cử Tiết - Nguyễn Đức Tiết. Ông ngoại tôi đỗ Tiến sĩ đời Vua Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè Tiết, vì ông không nhận mũ mãng vinh quy của ông vua mới này và do Tây dựng lên, mà chỉ gọi theo hịch của ông vua cũ là Hàm Nghi, thời ông đỗ Cử nhân. Ông ngoại tôi có 3 người bạn đồng khoa: Cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am. Ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền và tình bằng hữu của các cụ nhà nho gốc Kinh Bắc này từ ngày xưa đã rất đặc biệt.

Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật, làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ Hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện - Dân gian gọi chủ tướng ấy là Đề Hẹn, và gọi quân sư (Tức ông ngoại tôi) là Đốc Tít. Còn cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu thì bỏ quan đi dạy học. Cụ Cử làng Hành Thiện theo quân triều đình làm Tham tán Quân vụ. Cụ Cử làng Cổ Am thì đi làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến Tổng đốc nhưng vẫn nhận các con bạn "làm giặc" về nuôi làm con mình, cho ăn học thành tài.

Mẹ tôi kể: Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu... Khi cụ Cử Cổ Am trị nhậm ở Thái Bình - Nam Định, tất cả các bác, các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ vài người đỗ vào trường Bảo Hộ, tức trường Bưởi Hà Nội.

Người sớm có chí lo việc "quốc sự" là cậu Tú Dzư, tức Trần Dzư. Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu Bổ, chuyên đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý bố, cậu Tú Dzư bị cắt hết trợ cấp. Cậu ấm con quan bị đẩy ra cuộc đời với hai bàn tay trắng khi tuổi đời chưa tới hai mươi.

Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải Phòng tìm bạn cùng chí hướng. Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin được một chân thư ký cho một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, nằm trên Quốc lộ nối liền Hà Nội - Hải Phòng. Tại nơi này, Tú Dzư gặp một người bạn là dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo cuộc chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết, cả nhà ở lại. Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em là Lân và Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết vài ba bài báo in trong tạp chí của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học.

Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có nhiệt huyết hồi đó. Vì ý nguyện yêu nước, cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần, tự ý bỏ cách đặt tên “Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, và lại tự đặt cho mình cái tên lót "Khánh" để trở thành Trần Khánh Dz­ư. Cậu lấy việc bán dầu hỏa đem so sánh giống với việc bán than chờ thời của ông Trần Khánh Dư ngày xưa thật, để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.

Làm thư­ ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian, Tú Dz­ư cùng 3 anh em Tam, Lân, Long lên Hà Nội, góp tiền mở một hiệu ảnh trước cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên là hiệu ảnh Hương Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng ấy cùng muốn cái việc chớp hình của mình sẽ ghi lại được những gì đẹp nhất của tục vật, làm hương hoa của đời. Để thêm ngư­ời làm việc, cậu Tú Dzư­ vào Nam Định, rủ thêm Cảnh là em nuôi, rồi Tiêu là em ruột lúc bấy giờ bị đuổi khỏi trường Thành Chung vì tham gia bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và để tang cụ Phan Chu Trinh.

Mấy anh em tập trung, vừa làm thầy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hư­ơng Ký nhỏ bé. Cánh Nam Đồng Thư­ Xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo... cùng tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hương Ký. Cậu Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng Thư­ Xã vốn đi theo chủ nghĩa Tam Dân: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên bên Tầu đề xướng. Còn anh em trong nhóm Hương Ký lại rất mê văn chương dạng Thế kỷ Ánh sáng của các triết gia châu Âu.

Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông nên được cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, được giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và được cử vào học lớp chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cốt 7 người ở số nhà 5D Hàm Long, Hà Nội.

Nhóm Nam Đồng Thư Xã tại Việt Nam đã hoàn chỉnh học thuyết của mình, thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái gây chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương thì phát động phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh. Cả hai phong trào đều bị dìm trong bể máu.

Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi danh theo thể thức Dự thính là Lễ, một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca, cách mạng văn chương, cách mạng lối sống. Vũ khí họ chọn là ngòi bút và lịch sử suốt từng ấy năm đã cho rằng, họ thiếu dũng khí nên không dám cầm súng. Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh; hoặc tiền công làm gia sư, công chức hạng bét. Họ là những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi, hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường, chưa hề viết một bài thơ hay một đoản thiên nào.

Họ góp tiền lại mua một măng-sét (Tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh: Báo Phong Hóa. Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới, xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Chàng sinh viên học dự thính Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành “con hổ nhớ rừng” và là một chủ soái Thế Lữ của phong trào Thơ Mới. Anh chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu, người tình muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt và là một kỹ sư Canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận.

Anh cử nhân Toán Lý tên Tam thành nhà văn Nhất Linh và nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, “tự mê hoặc" mình bằng cái tên Khánh Dzư đã thành Khái Hưng - Cả hai cùng trở thành hai cây đại thụ, góp phần đặt nền móng cho nền tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam. Cậu Long, sinh viên khoa Luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý luận của nhóm, cũng là nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thầy của thể loại truyện ngắn. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền thống "Trần Cộc" không tên đệm đã thành nhà văn Trần Tiêu, người đầu tiên đi mô tả cái hồn của đời sống nông thôn trong tiểu thuyết Việt. Thầy ký sở Phi-năng (Finance) tên Hiếu, họ Hồ, đệm Trọng trở thành nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Mỡ, nối nghiệp Tú Xương.

Nhóm Phong Hóa lập nên Tự Lực Văn Đoàn, đã không nhận tài trợ của bất cứ ai, nhưng vẫn lập giải văn chương, giải thưởng để khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn. Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày Nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phần lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, và do nhà xuất bản Ngày Nay in sách.

Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào như đã kể ở đầu bài, riêng Khóa Cảnh là Nguyễn Đức Cảnh, bí thư Cộng sản đầu tiên của Hải Phòng, Quảng Ninh, lãnh đạo phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, bị tử hình - Ông cũng là một nhà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết giao với nhà xuất bản Tân Dân và Tiểu Thuyết Thứ Bẩy đã trở thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiều, khóa Khu là Đặng Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng. Riêng Đặng Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ thì ký tên Sóng Hồng.

Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bốn người bạn đồng khoa như đã nói, mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ của các bậc khoa bảng Bắc Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng "đẻ" ra quan - Dân gian vì thế có câu: "Vú Đồ Sơn, L... Cổ Am". Ba người bạn đồng khoa như đã kể, đều lấy con gái nhà họ Trần, một họ lớn của làng Cổ Am.

Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười: “Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu "nhật trình" Phong Hóa, các bác, các cậu đã "ăn dỗ" đám các chị em gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng, một bộ xà-tích vàng... hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao vẫn mất cả vốn lẫn lời”.

Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả những người thân của mẹ tôi, những người lập nên Tự Lực Văn Đoàn đều mất cả vốn lẫn lời như chính bà. Chỉ có nền văn hóa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này, những người khác xây lâu đài trên nền móng đó vẫn chưa thực sự công nhận, những viên gạch đó là nền móng văn chương thực sự.

Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út của tất cả những người anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi tên là Thừa, Nguyễn Thị Thừa. Mẹ tôi đã kể những chuyện này.

Nguồn: Văn học & Dư Luận số 5/1992 do Nhật Tuấn chủ biên / Blog Thời 2D - blog Nhật Tuấn, ngày 20/6/2012.

Photos: 1/ Nhà văn Nhất Linh, thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn, đi dạo với 2 cháu nhỏ trong Vườn Tao Đàn, 1954. Cháu gái là Trương Kim Anh, con của nhà văn Nguyễn Thị Vinh (Chúng tôi đã giới thiệu). 2/ Nhất Linh chụp ảnh cùng gia đình tại Đà Lạt, 1956

NGUYỄN MARTHA

_____

(1) Em ruột của nhà văn Nhật Tiến

Address

Soc Trang

Telephone

+84903684799

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when 8 SÀI GÒN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to 8 SÀI GÒN:

Shortcuts

Share