8 SÀI GÒN

8 SÀI GÒN Trang là diễn đàn để mọi người chia sẻ cảm xúc ở mọi khía cạnh của cuộc sống và hoài niệm về Sài Gòn xưa và nay.

Thư từ, bài viết gửi: qua email: [email protected]

“BÀ CON LỐI XÓM”…Chị Hai tui mất hôm sáng sớm 6/6/2026. Người thân vĩnh viễn ra đi thì ai cũng tiếc thương, nhất là chị ...
10/06/2026

“BÀ CON LỐI XÓM”…

Chị Hai tui mất hôm sáng sớm 6/6/2026. Người thân vĩnh viễn ra đi thì ai cũng tiếc thương, nhất là chị đi quá đột ngột. Nhưng chúng tui cũng vừa thương vừa mừng cho chị. Chị năm nay 85 tuổi, đang điều trị ung thư giai đoạn cuối. Bác sĩ nói, chị sắp chuyển qua giai đoạn bị đau (hiện nay chỉ khó thở, chưa bị đau mà yếu dần).

Nhưng sáng hôm ấy, chị thức dậy, cô y tá trực hỏi, bác nhớ tên cháu không, chị còn nói đúng tên, vậy mà 30 phút sau, chị ra đi, như vừa chợp mắt ngủ quên. Thật an lành, nhẹ nhàng.

Nhà chị ở cuối hẻm, trổ ra bờ kè Hoàng Sa. Nhà chật, hẻm càng chật. Nhưng trước khi quan tài về, lối xóm đã phụ con cháu của chị dựng “rạp” trước hai căn nhà bên cạnh, che bạt cẩn thận. Và phòng khi khách viếng tang không có chỗ để dựng xe gắn máy, khoảng sân căn nhà đầu hẽm được chủ nhà dẹp gọn và lối xóm cử người phụ giữ xe suốt mấy ngày đêm tang lễ.

Con cháu quyết định không mời kèn trống, các thầy tụng kinh cũng nhè nhẹ (không như kiểu bắc loa khi tụng kinh). Tui ngồi lặng im “nhận mặt” người đến viếng. Hầu hết bà con trong xóm đều đến đốt nhang. Tui về ở xóm nghèo này từ lúc mới 5 tuổi. Sau khi có gia đình, tôi dời đi nhiều nơi, nhưng cuối cùng, vẫn theo yêu cầu cố hữu của má tui, khi có điều kiện là dời nhà về ở gần cha mẹ.

Bây giờ, chị lớn nằm xuống càng thấy má tui sáng suốt. Tui tham gia ngay từ đầu việc chuẩn bị liệm thì tất cả chị em đã tề tựu đủ. Mấy đúa nhỏ điểm danh, má Ba, má Tư, má Sáu, má Bảy, cậu Tám đều túc trực và các con cháu (cháu nội, ngoại, cháu cố) của chị đã có mặt đủ.

Trong số khách đến, tui nhận ra còn có mấy người hơi quen, tức là đã thường thấy khi về xóm cũ nhưng không nhớ rõ lắm. Cô em tui nói nhỏ vào tai tui về từng người. Chị này bán bánh tráng, anh kia đang chạy xe ôm, chị mới vô bán chè. Hai cô đi giày rất cao, vô con hẽm sũng nước lồi lõm thấy hơi ngán, là nhân viên ngân hàng cũ chị Hai làm. Hả, chị Hai nghỉ hưu mấy chục năm rồi mà. Họ là học trò của mấy người thay chị Hai khi chị Hai nghỉ hưu, mấy năm trước, cũng có tới nhà thăm chi Hai cùng với sếp của họ.

Tui ngồi uống nước suối suông, chuyện trò về từng gia đình trong xóm. Lứa cùng thời tui đã già đi nhiều, vẫn lam lũ nhưng vẫn nhớ “mấy chị con gái bác Khánh tốt bụng”. Ba tui hồi đó hay giúp bà con nhưng được nhớ nhất có lẽ vì tính hay đùa và… khoe con. Khuya, thấy chị Tám chè thưng đi ngang, ông hay kêu, Chè ơi, còn không? Dạ còn chú, hết thì con dìa ngủ rồi. Còn hả, đem lên Sài Gòn bán đi con! Vậy mà Tết là bà con lối xóm đi chúc Tết nhau cũng ghé ngang thăm các “con bác Khánh” và thắp nhang cho bác…

Tui thấy đứa cháu kêu tui là ngoại Ba thút thít khóc nho nhỏ cạnh ba nó, thằng Mạnh cháu rể. Tui hỏi, nó than phiền gì vậy? Mạnh nói, tại cái chị gì điều khiển động quan của nhà đòn kể lể quá dài, quá ồn, trái ý bà ngoại con, nó khóc vì biết bà ngoại không có thích tang lễ ồn ào.

Tui cũng thở dài, cô ấy làm trọn "lớp Nam Ai" kể lể thảm thiết quá, nhắc tên công ty dịch vụ mai táng nhiều lần quá, bà chị Hai của tui chắc không ưng rồi.

Bà con lối xóm nối đuôi nhau đến thắp nhang, nhiều cậu thanh niên đến khuân đồ, don dẹp cũng lặng lẽ, trật tự. Có mấy người tới “đố vui” tôi: cô Diệu (tên gọi tui ở nhà hồi nhỏ) lên ”ti di” hoài tui kêu không trả lời, bửa nay mới về nha. Cô Diệu nhớ tui không? Chèn, sao không nhớ, hồi đó, có lần “người yêu” chị say rượu, rượt chị chạy vô kêu cứu bác Khánh, tui nhớ mà…

Chuyến xe đưa chị Hai tui lên Bình Hưng Hòa rất đông. Động quan 2g30 chiều, thấy mấy cô em tui chuẩn bị mấy chục ổ bánh mì và nước suối, tui thắc mắc, giờ này vừa ăn cơm xong còn đưa bánh mì sợ dư không, thì em tui giải thích, là mình cám ơn bà con, họ không ăn liền thì chiều họ ăn, chị Ba, một chút quà là tấm lòng nhớ ơn của mình.

Người ra đi nhẹ nhàng. Bà con lối xóm thân tình gắn bó chăm lo như bao lâu nay.. Xóm Lách nhà tôi, khi tui ra đi là một xóm nghèo, nay có giàu lên đôi chút (nhà cửa sửa sang khang trang hơn) nhưng tình thương lối xóm vẫn “nguyên bản”, giản dị, ấm áp. Tui nói đùa với chị Hai Xẩm bán hủ tiếu đầu hẽm, nè bà, tui thấy đám ma vầy “êm” mà ấm lắm. Tui sợ lễ nghi rườm rà với kèn trống ồn ào. Mai mốt tui cũng ưng được cái đám ma yên tĩnh thân tình vậy, bà nhớ đến thăm tui khi đó nha. Bả cười. Tui cúng cô Diệu tô hủ tiếu nóng không bỏ ngò!

VŨ KIM HẠNH

NGUYỄN HỮU ĐANG [1913-2007]…Đây là mấy tấm hình anh Nguyễn Đình Toán chụp nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang những năm đầu 19...
10/06/2026

NGUYỄN HỮU ĐANG [1913-2007]…

Đây là mấy tấm hình anh Nguyễn Đình Toán chụp nhà cách mạng Nguyễn Hữu Đang những năm đầu 1990s, sau gần 20 năm bị quản thúc ở Thái Bình [1973-1992]

Ông Nguyễn Hữu Đang không phải "đi theo cách mạng" mà đi "làm cách mạng". Ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, hoạt động trong lĩnh vực báo chí và là một trong những người sáng lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ. Trong những ngày chuẩn bị Cách mạng tháng Tám, ông là 1 trong 15 ủy viên Ủy ban Giải phóng Dân tộc do Hồ Chí Minh đứng đầu. Và, được biết đến nhiều nhất với tư cách Trưởng ban Tổ chức Lễ Tuyên bố Độc lập 2-9-1945.

Năm 1958 ông nhận án tù 15 năm trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Sau khi ra tù ông bị quản thúc ở Thái Bình. Từ 1990 ông được hưởng lương hưu, năm 1993 được cấp một căn hộ 20m2 ở Kim Mã Thượng, Hà Nội, tiêu chuẩn của "cách mạng lão thành"[trước đó, khi được lên Hà Nội ông ở nhà người cháu ở Nghĩa Đô].

Hai tấm ảnh dưới đây [1 và 2], anh Toán chụp ông Nguyễn Hữu Đang ngày 15-7-1992 khi ông đang đi bán một con rắn nước vừa bắt được. "Sử gia bằng ảnh" Nguyễn Đình Toán vừa gửi mấy tấm ảnh này sau khi có bạn cmt nói, "Không thấy báo Tuổi Trẻ đăng hình anh Toán chụp ông Nguyễn Hữu Đang".

TRƯƠNG HUY SAN

NỮ ĐƯA THƯ DA ĐEN ĐẦU TIÊN CỦA MỸ…Mary Fields (khoảng 1832 – 5 tháng 12 năm 1914), còn được biết đến với tên gọi Stageco...
10/06/2026

NỮ ĐƯA THƯ DA ĐEN ĐẦU TIÊN CỦA MỸ…

Mary Fields (khoảng 1832 – 5 tháng 12 năm 1914), còn được biết đến với tên gọi Stagecoach Mary và Black Mary, là một người đưa thư người Mỹ, người phụ nữ da đen đầu tiên được tuyển dụng làm người đưa thư theo tuyến đường đặc biệt (star route) tại Hoa Kỳ.

Fields nắm giữ hợp đồng tuyến đường đặc biệt để vận chuyển thư tín của Hoa Kỳ từ Cascade, Montana, đến Saint Peter's Mission. Bà lái xe trên tuyến đường này trong hai hợp đồng bốn năm, từ năm 1895 đến năm 1899 và từ năm 1899 đến năm 1903. Tác giả Miantae Metcalf McConnell đã cung cấp tài liệu được phát hiện trong quá trình nghiên cứu của bà về Mary Fields cho Nhà sử học Lưu trữ Dịch vụ Bưu chính Hoa Kỳ vào năm 2006. Điều này cho phép USPS xác nhận đóng góp của Mary Fields là người đưa thư nữ da đen đầu tiên theo tuyến đường đặc biệt tại Hoa Kỳ.

Cuộc sống và sự nghiệp thời thơ ấu

Fields sinh ra trong cảnh nô lệ ở Quận Hickman, Tennessee vào khoảng năm 1832. Sau khi Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc năm 1865, bà được giải phóng và tìm được việc làm người hầu phòng trên tàu Robert E. Lee, một tàu hơi nước trên sông Mississippi. Tại đó, bà gặp Thẩm phán Edmund Dunne và cuối cùng làm người hầu trong gia đình ông. Sau khi vợ của Dunne qua đời, ông đã gửi Fields và năm người con của người vợ quá cố đến sống với em gái ông, Mẹ Mary Amadeus ở Toledo, Ohio, nơi bà là Mẹ Bề trên của một tu viện Ursuline.

Năm 1884, Mẹ Amadeus được cử đến Lãnh thổ Montana để thành lập một trường học cho các cô gái người Mỹ bản địa tại Giáo xứ St. Peter, phía tây Cascade. Khi biết tin Amadeus bị viêm phổi, Fields vội vã đến Montana để chăm sóc bà. Amadeus bình phục, và Fields ở lại St. Peter. Fields đảm nhận nhiều công việc được coi là "việc của đàn ông" vào thời đó như bảo trì, sửa chữa, lấy đồ dùng, giặt giũ, làm vườn, vận chuyển hàng hóa, trồng rau, chăm sóc gà và sửa chữa các tòa nhà, và cuối cùng trở thành quản đốc.

Người Mỹ bản địa gọi Fields là "Quạ Trắng" vì "bà ấy cư xử như người da trắng nhưng lại có làn da đen". Cuộc sống trong tu viện khá yên bình, nhưng tính khí nóng nảy và thói quen chửi thề của Fields khiến cộng đồng tôn giáo cảm thấy không thoải mái. Năm 1894, sau một số lời phàn nàn và một vụ việc với một cấp dưới nam bất mãn liên quan đến việc dùng súng, giám mục đã cấm bà vào tu viện. Fields chuyển đến Cascade và mở một quán rượu, nhưng lợi nhuận giảm sút do cho phép người nghèo ăn uống miễn phí. Quán đóng cửa do phá sản khoảng 10 tháng sau đó.

Sự nghiệp bưu chính

Đến năm 1895, ở tuổi 64, Fields kiếm được việc làm người đưa thư trên tuyến đường Star Route, sử dụng xe ngựa để giao thư trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt và địa hình đá hiểm trở của Montana, với sự giúp đỡ của các nữ tu Ursuline gần đó, những người dựa vào sự giúp đỡ của Đức Mẹ Maria tại trạm truyền giáo của họ. Điều này khiến bà trở thành người phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên làm việc cho Bưu điện Hoa Kỳ. Đúng với bản tính gan dạ của mình, bà mang theo nhiều vũ khí, đáng chú ý nhất là khẩu súng lục Smith & Wesson .38 giấu dưới tạp dề để bảo vệ bản thân và thư từ khỏi chó sói, kẻ trộm và bọn cướp, lái xe trên tuyến đường bằng ngựa và một con la tên là Moses. Bà ấy chưa bao giờ nghỉ một ngày nào, và sự đáng tin cậy của bà đã mang lại cho bà biệt danh "Stagecoach Mary" (Mary xe ngựa) do phương tiện di chuyển ưa thích của bà. Nếu tuyết quá dày đối với ngựa của bà, Fields sẽ giao thư bằng giày trượt tuyết, vác các bao thư trên vai.

Bà không phải là nhân viên của Bộ Bưu chính Hoa Kỳ, vì bộ này không tuyển dụng người đưa thư cho các tuyến đường đặc biệt mà thay vào đó trao hợp đồng tuyến đường đặc biệt cho những người đưa ra giá thầu đủ điều kiện thấp nhất. Những người này, theo quy trình đăng ký của bộ, đã đặt cọc và bảo lãnh để chứng minh khả năng tài chính của họ cho tuyến đường. Sau khi hợp đồng được trao, nhà thầu có thể tự lái xe trên tuyến đường đó, cho thuê lại tuyến đường hoặc thuê một người lái xe có kinh nghiệm. Một số cá nhân đã nhận được nhiều hợp đồng tuyến đường đặc biệt và tiến hành hoạt động như một doanh nghiệp.

Cuộc sống

Bà là một nhân vật được kính trọng trong cộng đồng ở Cascade, và thị trấn đã đóng cửa trường học để kỷ niệm sinh nhật của bà mỗi năm. Khi Montana thông qua luật cấm phụ nữ vào quán rượu, thị trưởng Cascade đã miễn trừ cho bà. Năm 1903, ở tuổi 71, Fields nghỉ hưu khỏi công việc đưa thư đường dài. Tình cảm yêu mến của người dân thị trấn dành cho Fields thể hiện rõ khi ngôi nhà của bà được các tình nguyện viên xây dựng lại sau khi bị cháy vào năm 1912. Bà tiếp tục trông nom nhiều trẻ em ở Cascade và sở hữu kiêm điều hành một dịch vụ giặt là tại nhà.

Cái chết

Fields qua đời năm 1914 tại Bệnh viện Columbus ở Great Falls. Tang lễ của bà là một trong những tang lễ lớn nhất mà thị trấn từng chứng kiến. Bà được chôn cất bên ngoài Cascade.

TONY NGUYỄN

QUYỀN CỦA MỸ DƯỚI THỜI TRUMP…Những căng thẳng chính trị giữa Washington và Tehran đã khiến đội tuyển Iran dù được phép v...
10/06/2026

QUYỀN CỦA MỸ DƯỚI THỜI TRUMP…

Những căng thẳng chính trị giữa Washington và Tehran đã khiến đội tuyển Iran dù được phép vào Mỹ để thi đấu nhưng lại không được phép lưu trú trên đất Mỹ. Họ buộc phải đặt đại bản doanh tại Tijuana (Mexico) để đi đi về về thi đấu. Rất bất tiện.

Tiếp sau đó là việc trọng tài FIFA người Somalia Omar Artan bị từ chối nhập cảnh vào Mỹ mặc dù ông có visa hợp lệ và đã được FIFA chỉ định làm nhiệm vụ tại World Cup.

Ai cũng có quyền tham gia thi đấu thể thao, bất kể sự khác biệt về quốc tịch, màu da, tôn giáo hay chế độ chính trị của quốc gia mà họ mang quốc tịch. Nhưng cho phép nhập cảnh là quyền của quốc gia chủ nhà, tuỳ thuộc vào góc nhìn của họ về an ninh quốc gia.

Trong bối cảnh hiện tại của nước Mỹ dưới thời tổng thống Donald Trump, bất kỳ ai cũng có thể bị cấm nhập cảnh vào Mỹ. Và FIFA đành bất lực trước thẩm quyền của quốc gia chủ nhà.

LÊ QUANG HUY

10/06/2026

CHUYỆN VỀ TRẦN TRỌNG KHIÊM - NGƯỜI VIỆT NAM ĐẦU TIÊN SANG MỸ…

Ít ai biết rằng trước cả khi ông Bùi Viện đặt chân tới nước Mỹ để tìm đường bang giao với Hoa Kỳ dưới triều vua Tự Đức, đã có một người Việt Nam âm thầm phiêu bạt tới vùng đất xa lạ ấy từ nhiều năm trước. Cuộc đời người đàn ông đó đầy biến động, từ một nho sinh đất Tổ Phú Thọ trở thành thủy thủ viễn dương, sống giữa cơn sốt vàng California, làm báo trên đất Mỹ rồi cuối cùng quay về Nam Bộ dựng làng, chống Pháp cho tới khi ngã xuống giữa chiến trường Đồng Tháp Mười.

Người ấy là Trần Trọng Khiêm, còn được biết đến với cái tên Lê Kim hay Lee Kim trong giấy tờ nước ngoài. Theo nhiều tư liệu được công bố từ cuối thế kỷ 20, ông mới chính là người Việt Nam đầu tiên đặt chân tới nước Mỹ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm 1821 tại làng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao, nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Ông lớn lên trong một gia đình nho học có truyền thống hiếu học và yêu nước. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, học giỏi và thường cùng người anh là Trần Mạnh Trí đèn sách. Nhưng biến cố trong gia đình đã khiến cuộc đời ông rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Người anh đi thi rồi vướng phạm húy, suýt gặp đại họa. Chứng kiến cảnh khoa cử phong kiến đầy ràng buộc và bất công, Trần Trọng Khiêm dần chán nản con đường công danh. Ông bỏ việc học để chuyển sang buôn gỗ, xuôi ngược dọc các tuyến sông lớn như sông Thao, sông Hồng, từ Yên Bái, Việt Trì xuống tận phố Hiến ở Hưng Yên. Chính quãng thời gian bôn ba ấy đã giúp ông quen biết nhiều thương nhân ngoại quốc và mở rộng tầm nhìn hơn hẳn những người cùng thời.

Năm 20 tuổi, ông lấy vợ là một cô gái họ Lê trong làng. Cuộc sống tưởng chừng bình yên thì t.a.i h.ọ.a bất ngờ ập đến. Vì thường xuyên đi xa làm ăn, ông để vợ ở nhà một mình. Tên cai tổng trong vùng vốn để mắt đến vợ ông từ lâu nên tìm cách c.ư.ỡ.n.g é.p. Một hôm, khi bà đi chợ, tên cai tổng cho người bắt c.ó.c đưa về nhà rồi c.ư.ỡ.n.g h.i.ế.p. Người phụ nữ ấy chống cự quyết liệt nên bị đ.á.n.h tới không thể qua khỏi, sau đó x.á.c còn bị p.h.i t.a.n.g.

Khi trở về nghe tin dữ, Trần Trọng Khiêm đ.a.u đ.ớ.n và p.h.ẫ.n u.ấ.t. Ông cầm d.a.o tìm g.i.ế.t tên cai tổng để trả thù cho vợ rồi lập tức bỏ quê trốn đi biệt tích. Chính biến cố này đã đẩy ông bước vào hành trình lưu lạc kéo dài suốt nhiều năm trời.

Từ phố Hiến, ông theo các tàu buôn nước ngoài lênh đênh khắp thế giới. Ông làm thủy thủ trên những tuyến hàng hải đi qua Hương Cảng, Yokohama của Nhật Bản, London của Anh rồi Amsterdam của Hà Lan. Nhờ thông minh và ham học hỏi, ông nhanh chóng nói được tiếng Quảng Đông và tiếng Anh, điều cực kỳ hiếm đối với một người Việt Nam vào giữa thế kỷ 19.

Khoảng những năm 1847 – 1848, Trần Trọng Khiêm đặt chân tới nước Mỹ. Để tránh bị truy xét lai lịch, ông lấy họ vợ là họ Lê và dùng tên Kim, sau này giấy tờ phương Tây ghi thành Lee Kim. Ông sống tại Mỹ trong khoảng 7 – 8 năm, trải qua đủ nghề để sinh tồn nơi đất khách.

Thời điểm ông tới Mỹ cũng là lúc quốc gia này vừa thắng trận trong cuộc chiến với Mexico và mở rộng lãnh thổ về phía Tây. Những vùng đất mới khi ấy còn đầy hoang vu, núi lửa, động đất, thú dữ và bệnh tật. Người da vàng, đặc biệt là lao động châu Á, thường bị xem như tầng lớp thấp nhất và bị đẩy vào những công việc n.g.u.y h.i.ể.m nhất.

Trần Trọng Khiêm từng theo các nhóm người Hoa lên phía Tây nước Mỹ khai phá vùng đất mới. Có lúc ông chen chân vào đoàn người đi đào vàng giữa cơn sốt vàng California nổi tiếng trong lịch sử nước Mỹ. Nhưng ở nơi ấy, cái c.h.ế.t luôn rình rập từng ngày bởi s.ố.t r.é.t, rắn đ..ộ.c, t.a.i n.ạ.n hầm mỏ và sự k.ỳ t.h.ị chủng tộc.

Sau nhiều năm bôn ba, nhờ đầu óc nhạy bén và vốn ngoại ngữ tốt, ông dần chuyển sang nghề viết báo tự do. Tại California, ông từng cộng tác với một tờ nhật báo mang tên Daily Evening, viết về cuộc sống cơ cực của tầng lớp lao động và những người bị b.ó.c l.ộ.t trên đất Mỹ. Điều này cho thấy Trần Trọng Khiêm không chỉ là một người phiêu lưu mà còn là một trí thức có tư tưởng tiến bộ hiếm thấy vào thời đó.

Khoảng cuối năm 1854 hoặc đầu năm 1855, ông quyết định trở về quê hương sau nhiều năm xa xứ. Nhưng lúc ấy tình hình Đại Nam vô cùng rối ren. Ngoài Bắc, nhiều cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra, từ Cao Bá Quát, Lê Duy Cự cho tới các toán phỉ từ bên kia biên giới tràn sang quấy phá. Vua Tự Đức vừa lên ngôi cũng đang siết chặt quyền lực sau vụ Hồng Bảo.

Không dám công khai trở về quê cũ, Trần Trọng Khiêm bí mật gửi thư về cho người anh là Trần Mạnh Trí. Dù không ký tên thật mà chỉ dùng cái tên Lee Kim, nhưng người anh vẫn nhận ra em mình qua nét chữ và lời lẽ trong thư. Tuy nhiên, ông Trần Mạnh Trí hiểu thời cuộc bất ổn nên chỉ nhắn rằng gia đình vẫn bình yên nhưng chưa nên trở về lúc này.

Hiểu ý anh, Trần Trọng Khiêm tiếp tục cải trang thành người Minh Hương rồi theo tàu vào Nam Bộ. Ông xuống Bến Nghé, sau đó đi ghe nhỏ lên vùng Tân Thành thuộc tỉnh Định Tường để khai hoang lập ấp.

Tại vùng đất hoang vu đầy lau sậy và sình lầy ấy, Trần Trọng Khiêm bắt đầu một cuộc đời mới. Ông chiêu mộ dân nghèo tới khai phá đất đai, lập nên ấp Hòa An, nay thuộc vùng Đồng Tháp. Nhờ tài tổ chức và uy tín lớn, dân làng suy tôn ông làm Hương cả. Ông không chỉ hướng dẫn dân khai hoang sản xuất mà còn lo chuyện bảo vệ xóm làng trước giặc c.ư.ớ.p và thú d.ữ.

Tại đây, ông lập gia đình với một người phụ nữ Nam Bộ giỏi việc đồng áng và sông nước. Ông bà sinh được 5 người con trai. Dù dùng họ Lê trên giấy tờ để tránh liên lụy quá khứ, nhưng ông vẫn đặt chữ lót “Xuân” cho các con để nhắc nhớ quê gốc Xuân Lũng ngoài Bắc.

Năm 1859, khi thực dân Pháp đánh chiếm Gia Định rồi dần thôn tính Nam Kỳ, Trần Trọng Khiêm tiếp tục bước vào một cuộc chiến mới. Hưởng ứng lời hiệu triệu chống Pháp của Trương Định và phối hợp cùng Thiên hộ Võ Duy Dương, ông đưa toàn bộ dân ấp Hòa An tham gia nghĩa quân.

Nhờ từng sống ở Mỹ và chứng kiến các kiểu phòng thủ phương Tây, Trần Trọng Khiêm đã vận dụng kinh nghiệm đó để xây dựng hệ thống chiến lũy bảo vệ Đồng Tháp Mười. Ông cho đắp nhiều đồn lũy liên hoàn giữa vùng sình lầy hiểm trở, biến nơi đây thành căn cứ kháng chiến khiến quân Pháp vô cùng e ngại.

Đội quân Hòa An do ông chỉ huy liên tiếp đánh thắng nhiều trận ở Cai Lậy, Mỹ Tho, Cao Lãnh, Mỹ Trà và nhiều nơi khác. Giữa lúc thực dân Pháp đang mở rộng đánh chiếm Nam Bộ, những cuộc kháng cự ấy đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người dân miền Tây.

Cuối năm 1868, trong một trận chiến lớn tại Đồng Tháp Mười, Trần Trọng Khiêm trúng đạn địch và ngã xuống giữa chiến trường. Trước lúc không thể qua khỏi, ông vẫn dặn nghĩa quân phải tiếp tục chiến đấu tới cùng, tuyệt đối không được cúi đầu làm nô lệ cho ngoại bang.

Ông cũng căn dặn người vợ hãy đưa đàn con nhỏ lánh sang Rạch Giá để tránh sự truy sát. Về sau, con cháu ông tiếp tục tản đi lập nghiệp tại nhiều nơi như Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Phước Long… Dù trải qua sáu bảy đời, dòng họ ấy vẫn giữ họ Lê cùng chữ lót Xuân như lời nhắc về cội nguồn đất Tổ Phú Thọ.

Ngày nay, tại làng Hòa An vẫn còn phần mộ của ông cùng đôi câu đối đầy khí phách:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh. Chính khí nêu cao, tinh thần Hùng Nhị còn truyền hậu thế.”

Cuộc đời Trần Trọng Khiêm là hành trình đặc biệt hiếm có trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 19. Từ một người bỏ quê lưu lạc sang tận nước Mỹ, sống giữa những biến động lớn của thế giới rồi trở về dựng làng, chống Pháp và ngã xuống vì đất nước, ông xứng đáng được xem là một trong những nhân vật kỳ lạ và đáng nhớ nhất của lịch sử Việt Nam cận đại.

GIAI THOẠI XƯA

Hoạt ảnh do META AI

PHÒNG GIAM DÀNH CHO NỮ TÙ NHÂN Ở NHẬT BẢN…Chẳng có song sắt lạnh lẽo hay những bức tường u tối như nhiều người vẫn hình ...
10/06/2026

PHÒNG GIAM DÀNH CHO NỮ TÙ NHÂN Ở NHẬT BẢN…

Chẳng có song sắt lạnh lẽo hay những bức tường u tối như nhiều người vẫn hình dung, hình ảnh về một phòng giam trong nhà tù nữ tại Nhật Bản đang khiến cộng đồng mạng chú ý. Căn phòng được bố trí gọn gàng với đệm ngủ, bàn sinh hoạt nhỏ, tivi và một số vật dụng thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày của phạm nhân.

Theo nhiều ý kiến, không gian này trông giống một căn phòng tối giản hơn là phòng giam truyền thống. Tuy nhiên, điều kiện vật chất chỉ là một phần của cuộc sống trong tù. Các phạm nhân vẫn phải tuân thủ lịch trình sinh hoạt nghiêm ngặt, chịu sự quản lý chặt chẽ và bị hạn chế quyền tự do cá nhân.

Bức ảnh đang lan truyền cũng chỉ phản ánh một khu giam cụ thể, không đại diện cho toàn bộ hệ thống nhà tù tại Nhật Bản. Dẫu vậy, nó vẫn mang đến cho nhiều người góc nhìn khác về cách một số quốc gia xây dựng môi trường giam giữ theo hướng đảm bảo điều kiện sống cơ bản song song với mục tiêu cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng.

Via: Japan Confessions

IFACT

09/06/2026

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐA TÀI CỦA SÀI GÒN XƯA…

Kịch sĩ Tú Trinh có tên đầy đủ là Hà Thị Thu Ba sanh 1952, là một nữ nghệ sĩ Cải lương, Kịch sĩ, Diễn viên Lồng tiếng gạo cội của người miền Nam-Sài Gòn xưa.

Chị được biết đến là một trong những giọng đọc lời thoại phải đáng khen ngợi là “Số dách” của nền điện ảnh của miền Nam.

Chị cũng là nghệ sĩ thủ vai Thúy Liễu thành công nhứt trong vở cải lương kinh điển "Chuyện tình Lan và Điệp".

Bước vào nghề lồng tiếng từ năm 15 tuổi, cô đã có hơn 50 năm nên có kinh nghiệm dạn dày.

Khoảng 15 năm trở lại đây càng đắt sô hơn trong thuyết minh tất cả chương truyền hình và điện ảnh vì đã giảm bớt công việc bên sân khấu.

Ngoài diễn viên đóng phim, Tú Trinh ghi dấu với nhiều vai diễn.

Khán giả truyền hình, truyền thanh chắc không ai quên được “cô Bình” trong Chương trình: “Gia đình Ông Ký” do Tú Trinh đóng. Dấu ấn thời kỳ trước 1975 đã quá quen thuộc với hình ảnh của nữ kịch sĩ Tú Trinh và tài tử ciné điển trai phong độ lịch lãm Huỳnh Thanh Trà, bởi cả hai thường xuất hiện chung trên màn ảnh nhỏ này.

Tú Trinh được thiên hạ tặng cho biệt danh “Nàng Công Chúa Ấn Độ”. Cô không buồn gì trước cái biệt danh đó, trái lại nàng còn nói:

“Chính người yêu của em cũng bảo là ảnh yêu em tại nước đa đen ngòm của em đó...!”.

Tú Trinh là một người rất nhạy cảm và đa cảm và rất nhập vai, nên đóng vai nào mà phải khóc là cô khóc thật tình, khóc đến nước mắt rơi ràn rụa!

Hình ảnh năm xưa Tú Trinh và Huỳnh Thanh Trà cùng vài cô chú khác trong trang phục toàn đen từ cái nón rộng vành có dây đeo trên cổ đến cái áo bà ba, quần dài, cùng đôi giày đen đã đến quê tôi để sinh hoạt cộng đồng cùng đám trẻ chúng tôi như dạy múa, dạy hát cùng các trò chơi rất vui.

Cái miệng hơi rộng, cái giọng của cô nghe thật hay, thật ấm và mang hơi hướng dân dã đồng quê ngọt ngào.

Hôm nay, bất chợt nghe được một giọng nói phát ra từ trong tivi, radio, smartphone, hay một phương tiện nghe nghe nhìn nào khác … Tôi bảo đảm với các bạn sẽ dễ dàng nhận ra cái giọng nói của... TÚ TRINH ngay tức khắc.

Phải không các bạn...?

(Nguồn : Những Câu Chuyện Nhân Văn)

HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG

Hoạt ảnh do META AI

NHÀ KHÁCH BÍ ẨN…Trong chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài 2 ngày tới Triều Tiên, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã trở lạ...
09/06/2026

NHÀ KHÁCH BÍ ẨN…

Trong chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài 2 ngày tới Triều Tiên, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã trở lại Nhà khách Quốc gia Kumsusan ở Bình Nhưỡng

Kumsusan được xem là phiên bản tương đương Nhà khách Quốc gia Điếu Ngư Đài của Trung Quốc, nhưng có mức độ biệt lập cao hơn.

Gần Nhà khách Quốc gia Kumsusan là Cung điện Mặt Trời Kumsusan, địa điểm chính trị được xem là linh thiêng nhất Triều Tiên.

Nhà khách Quốc gia Kumsusan được hoàn thành vào năm 2019.

Cố Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đều từng lưu trú tại Paekhwawon trong các chuyến thăm Bình Nhưỡng. Cựu Tổng thống Mỹ Jimmy Carter cũng từng nghỉ tại đây.

IFACT

ẢNH HIẾM… Bức ảnh này được chụp tại góc Đại lộ số 5 và phố 43 ở Midtown Manhattan, New York vào năm 1956. Người phụ nữ t...
09/06/2026

ẢNH HIẾM…

Bức ảnh này được chụp tại góc Đại lộ số 5 và phố 43 ở Midtown Manhattan, New York vào năm 1956. Người phụ nữ tóc vàng ngồi phía trước là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất thế kỷ 20. Nhưng điều khiến bức ảnh trở nên đặc biệt không chỉ là sự xuất hiện của cô, mà còn là khoảnh khắc rất đời thường được ghi lại giữa một thành phố luôn hối hả.

Năm 1956 là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời bà. Đây là năm bà kết hôn với nhà viết kịch Arthur Miller, người được xem là một trong những trí thức hàng đầu nước Mỹ lúc bấy giờ. Sau nhiều năm bị Hollywood đóng khung trong hình ảnh “cô gái tóc vàng quyến rũ”, bà đang nỗ lực chứng minh rằng mình không chỉ là một biểu tượng sắc đẹp. Bà thành lập công ty sản xuất phim riêng, học diễn xuất chuyên sâu tại New York và tìm kiếm những vai diễn có chiều sâu hơn.

Điều thú vị là đằng sau nụ cười rạng rỡ trong bức ảnh, cuộc sống của bà lúc ấy không hề đơn giản. Bà thường xuyên phải đối mặt với áp lực từ báo chí, những cuộc săn đuổi của các tay săn ảnh và cảm giác cô đơn mà danh tiếng mang lại. Những người từng làm việc với bà kể rằng bà là một người nhạy cảm, thích đọc sách, yêu thơ ca và luôn khao khát được công nhận vì trí tuệ chứ không chỉ vì vẻ ngoài.

Nhìn kỹ bức ảnh, ta thấy sự tương phản rất thú vị. Một bên là ngôi sao điện ảnh được cả thế giới biết đến, một bên là một phụ nữ bình thường đang ngồi nghỉ trên vỉa hè Manhattan. Hai con người đến từ những thế giới rất khác nhau nhưng lại cùng chia sẻ một khoảnh khắc bình dị giữa lòng thành phố. Chính điều đó khiến bức ảnh mang giá trị nhân văn đặc biệt: trước danh tiếng, địa vị hay ánh đèn sân khấu, tất cả chúng ta đều là những con người đang sống những ngày rất đỗi bình thường của mình.

Có lẽ vì thế mà hơn nửa thế kỷ sau, bức ảnh này vẫn khiến người xem dừng lại. Nó không chỉ ghi lại hình ảnh của một biểu tượng Hollywood, mà còn lưu giữ một khoảnh khắc đời thường hiếm hoi của một người phụ nữ đã dành cả cuộc đời để tìm kiếm sự yêu thương, sự thấu hiểu và quyền được là chính mình.

MarilynMonroe _ NewYork1956

CUNG BẬC CỦA NHỮNG CẢM XÚC

PHẠM MINH TÂM – NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN TỐT NGHIỆP WEST POINT VÀ CUỘC ĐỜI PHI THƯỜNG ÍT NGƯỜI BIẾT…Có những cuộc đời khi đọc...
09/06/2026

PHẠM MINH TÂM – NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN TỐT NGHIỆP WEST POINT VÀ CUỘC ĐỜI PHI THƯỜNG ÍT NGƯỜI BIẾT…

Có những cuộc đời khi đọc lại, mình không chỉ thấy lịch sử — mà còn thấy danh dự, lòng trung thành, sự hy sinh và phẩm giá của một con người.

Một trong những câu chuyện như vậy là cuộc đời của Phạm Minh Tâm, hay trong hồ sơ tiếng Anh thường ghi là Tam Minh Pham — người Việt đầu tiên tốt nghiệp United States Military Academy at West Point, khóa 1974. 🇺🇸🎓

Ông sinh tại Sài Gòn năm 1949, trong một gia đình có liên hệ với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Khi còn rất trẻ, ông được chọn sang Hoa Kỳ theo học tại West Point — một trong những học viện quân sự danh giá nhất thế giới, nơi đào tạo nhiều thế hệ tướng lĩnh và lãnh đạo quân đội Hoa Kỳ.

Thời đó, để một thanh niên Việt Nam được bước vào West Point là điều vô cùng hiếm hoi. Ông không chỉ phải học quân sự, học văn hóa, học lãnh đạo, mà còn phải sống giữa một môi trường hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và kỷ luật.

Nhưng Phạm Minh Tâm đã vượt qua tất cả.

Năm 1974, ông tốt nghiệp West Point và trở thành người Việt Nam đầu tiên bước ra từ “Long Gray Line” — truyền thống dài lâu của các thế hệ cựu sinh viên West Point. Trong cuốn niên giám của khóa, bạn bè đã viết về ông bằng một câu rất đặc biệt:

“West Point’s loss is Viet-Nam’s gain.”

“Mất mát của West Point sẽ là niềm lợi lớn cho Việt Nam.”

Họ tin rằng người bạn Việt Nam của mình sẽ có một tương lai rất sáng. Họ tin một ngày nào đó, những ngôi sao trong ánh mắt của ông sẽ trở thành những ngôi sao trên vai áo quân phục.

Ông hoàn toàn có thể ở lại Hoa Kỳ.

Ông có bằng cấp danh giá. Ông có bạn bè. Ông có cơ hội. Ông có lý do để chọn một cuộc đời an toàn hơn.

Nhưng ông đã chọn trở về.

Vì với ông, những điều được dạy tại West Point — Duty, Honor, Country — không chỉ là khẩu hiệu treo trên tường. Đó là lời hứa trong tim.

Ông trở về miền Nam Việt Nam và phục vụ tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt với vai trò sĩ quan huấn luyện. Khi cuộc chiến bước vào những ngày cuối cùng năm 1975, ông không bỏ chạy. Ông ở lại với các khóa sinh, dẫn họ rút lui và chiến đấu trong hoàn cảnh tuyệt vọng.

Rồi Sài Gòn thất thủ.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc đời của ông bước sang một chương rất đau đớn. Phạm Minh Tâm bị đưa vào các trại “cải tạo” của chính quyền cộng sản. Theo các ghi nhận, ông bị giam gần 6 năm, có nơi ghi cụ thể là 5 năm 8 tháng.

Đó là những năm tháng khắc nghiệt, thiếu thốn, bệnh tật, đói khát và tuyệt vọng.

Ông từng viết lại hồi ký trong nhiều cuốn tập, cất giấu cẩn thận như một phần ký ức của đời mình. Nhưng sau đó, vì sợ bị phát hiện và gây nguy hiểm, ông đã phải đốt đi những trang viết ấy. Một phần lịch sử cá nhân bị thiêu rụi — nhưng ký ức, danh dự và sự thật thì không bao giờ biến mất.

Sau khi được thả vào đầu thập niên 1980, ông tiếp tục sống tại Việt Nam thêm nhiều năm và dạy tiếng Anh. Một người từng được đào tạo tại West Point, từng là sĩ quan VNCH, từng là tù nhân sau chiến tranh — giờ âm thầm sống bằng nghề dạy học trong chính đất nước đã từng giam giữ mình.

Nhưng bên kia Thái Bình Dương, những người bạn West Point của ông chưa bao giờ quên ông.

Các bạn cùng khóa 1974, đặc biệt là những người thân thiết với ông, đã vận động để giúp ông được sang Hoa Kỳ. Họ lập nhóm hỗ trợ, viết thư, gây quỹ, liên lạc với nhiều người có ảnh hưởng và dùng mạng lưới của West Point để đưa câu chuyện của ông đến những nơi cần nghe.

Đó chính là tinh thần Long Gray Line — tình bạn, danh dự và trách nhiệm không kết thúc sau ngày tốt nghiệp.

Cuối cùng, sau 17 năm kể từ ngày tốt nghiệp West Point, Phạm Minh Tâm đặt chân trở lại Hoa Kỳ vào năm 1991, cùng người vợ của ông, bà Chi Kim Trang.

Một năm sau, vào năm 1992, các bạn cùng khóa đã trao lại cho ông một chiếc nhẫn West Point mới để thay cho chiếc nhẫn cũ đã mất trong biến cố 1975. Chiếc nhẫn ấy bằng vàng, được khắc dòng chữ:

“Pride of the Corps ’74”

“Niềm tự hào của Khóa 1974.”

Khoảnh khắc vợ ông giúp ông đeo chiếc nhẫn ấy vào tay không chỉ là một nghi thức. Đó là sự phục hồi danh dự. Đó là lời nhắn rằng: anh chưa bao giờ bị lãng quên.

Tại Hoa Kỳ, Phạm Minh Tâm không sống ồn ào. Ông làm việc bình dị trong ngành giáo dục, từng là phụ tá giáo viên tại một trường trung học ở Washington, D.C. Ông trở thành công dân Hoa Kỳ, xây dựng gia đình, nuôi dạy con gái và sống một cuộc đời khiêm nhường.

Một người từng tốt nghiệp West Point, từng trở về chiến đấu cho quê hương, từng trải qua trại tù sau chiến tranh — cuối cùng lại chọn sống âm thầm, làm giáo dục, phục vụ thế hệ trẻ.

Năm 2019, ông qua đời sau khi bị xe đụng tại Maryland. Ông hưởng thọ 69 tuổi.

Sau khi ông mất, các bạn cùng khóa West Point lại một lần nữa đứng ra giúp đỡ. Họ xin được miễn chuẩn đặc biệt để tro cốt của ông được an vị tại West Point Post Cemetery, nơi yên nghỉ của nhiều người thuộc đại gia đình West Point.

Ngày 7 tháng 6 năm 2019, gia đình, bạn bè, cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa và các bạn cùng khóa West Point đã đến tiễn biệt ông. Tiếng kèn Taps vang lên bên dòng sông Hudson.

Người cadet Việt Nam năm xưa — người từng một mình bước vào West Point giữa những năm chiến tranh — cuối cùng đã trở về nơi ông thuộc về.

Không phải bằng vinh quang ồn ào.

Mà bằng danh dự.

Bằng tình bạn.

Bằng lòng trung thành.

Bằng một cuộc đời đã sống đúng với ba chữ:

Duty. Honor. Country.

Bổn phận. Danh dự. Tổ quốc.

Phạm Minh Tâm là một câu chuyện đáng để người Việt nhớ đến — không chỉ vì ông là người đầu tiên tốt nghiệp West Point, mà vì ông đã sống một cuộc đời cho thấy: danh dự thật sự không nằm ở chức vụ, tiền bạc hay danh tiếng, mà nằm ở lựa chọn của con người trong những thời khắc khó khăn nhất.

Chia sẻ lại từ FB Peter Pham


TRANG VĂN CHƯƠNG

Address

Soc Trang

Telephone

+84903684799

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when 8 SÀI GÒN posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to 8 SÀI GÒN:

Shortcuts

Share