Dòng họ Lê Quang

Website

Dòng họ Lê Quang Dòng tộc họ Lê nguồn gốc ở Thanh Hóa, nhà thờ họ Lê ở tại Xóm 10, xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH HUYỆN MỘ ĐỨC TỪ THỜI NHÀ HỒ ĐẾN 2024• Đời nhà Hồ: Mộ Đức có tên là huyện Khê Cẩm, thuộc Châu Nghĩa củ...
28/04/2026

LỊCH SỬ HÀNH CHÍNH HUYỆN MỘ ĐỨC TỪ THỜI NHÀ HỒ ĐẾN 2024

• Đời nhà Hồ: Mộ Đức có tên là huyện Khê Cẩm, thuộc Châu Nghĩa của lộ Thăng Hoa.
• Đời Lê: Mộ Đức có tên là huyện Mộ Hoa, bao gồm vùng đất từ Nam sông Vệ đến hết đèo Bình Đê (Đức Phổ) với 53 xã, thôn.
• Đời Nguyễn (Minh Mạng thứ 11 – 1830) Huyện Mộ Hoa có 3 tổng, 53 xã.
• Đời Nguyễn (Minh Mạng thứ 13 - 1832): Trấn Quảng Nghĩa đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa, huyện Mộ Hoa thuộc phủ Tư Nghĩa.
• Đời Nguyễn (Minh Mạng thứ 15 – 1834): Vua cho định lại mỗi huyện ở Quảng Ngãi đều có đúng 6 tổng.
• Đời Nguyễn (Thiệu Trị thứ nhất - 1841): Huyện Mộ Hoa đổi tên thành Mộ Đức do kỵ húy, các làng xã có chữ "Hoa" cũng đổi tên. Lúc này, huyện Mộ Đức có 6 tổng và 163 xã, thôn, phường, trại, ấp, vạn, ty. Sáu tổng là Quy Đức, Cảm Đức, Triêm Đức, Ca Đức, Lại Đức, Tri Đức.
• Đời Nguyễn (Tự Đức 18 - 1865): Huyện lỵ Mộ Đức dời về Thạch Trụ (Liên quan đến sự kiện người Man vùng thượng du phía Tây tỉnh Quảng Ngãi (Các xã “Thượng bạn”) thường quấy nhiễu mà quan quân chưa bình định được, Nguyễn Tấn (người làng Thạch Trụ) liền xin về quê gánh vác trách nhiệm này. Vua Tự Đức đồng ý và phong ông làm Tĩnh Man Tiễu phủ sứ (靖蠻勦 phủ sứ) để trấn giữ cữa ngõ quan trọng nơi đây)
• Đời Nguyễn (Thành Thái thứ 2 - 1890): Thành lập sơn phòng Nghĩa Định bằng cách chia cắt những xã "Thượng bạn" (vùng núi cao) thuộc huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi và đặt ra châu Đức Phổ.
• Đời Nguyễn (Thành Thái thứ 11 - Năm 1899)
- Cắt 3 tổng (Cảm Đức, Trí Đức, Triêm Đức) với 79 xã, thôn của huyện Mộ Đức sáp nhập vào Đức Phổ lập thành 4 tổng Phổ An, Phổ Thuận, Phổ Thành, Phổ Triêm. Và đổi châu thành huyện trực thuộc tỉnh.
- Và cắt các xã phía Bắc và Tây bắc nhập vào Nghĩa Hành.
- Huyện Mộ Đức còn lại 3 tổng là Quy Đức, Lại Đức, Ca Đức.
• Đời Nguyễn (Thành Thái thứ 18 – 1906): Đức Phổ đổi 3 tổng tên là Phổ Cam, Phổ Tri, Phổ Văn. Tổng còn lại được tách và lập đồn Ba Tơ vào năm 1901 trước đó.
• Năm 1932: Huyện Mộ Đức đổi thành phủ Mộ Đức có 3 tổng 62 làng xã thôn.
• Sau cách mạng 1945: Huyện Mộ Đức được đổi tên là huyện Nguyễn Bá Loan.
• Năm 1949: Vua Bảo Đại thay đổi lại thành huyện Mộ Đức. Sau nhiều lần điều chỉnh huyện Mộ Đức ổn định với 11 xã: Đức Nhuận, Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Thạnh, Đức Minh, Đức Tân, Đức Hòa, Đức Phú, Đức Phong, Đức Lân.
• Năm 1954: Chính quyền Sài Gòn thay đổi danh xưng hành chính huyện thành quận, thôn đổi thành ấp, còn tên gọi vẫn giữ nguyên.
• Năm 1958: Đổi tên hàng loạt các xã trong tỉnh Quảng Ngãi, sau điều chỉnh tỉnh Quảng Ngãi gồm 10 Quận và 1 thị tứ Cẩm Thành. Tại Quận Mộ Đức có quận lỵ Đức Vinh (Đức Tân) và các xã là Đức Quang (Đức Nhuận), Đức Lương (Đức Minh), Đức Thạch (Đức Hòa), Đức Hoài (Đức Chánh), Đức Thọ (Đức Hiệp), Đức Phụng – Đức Hải (Đức Thắng & Lợi), Đức Phước (Đức Thạnh), Đức Sơn (Đức Phú), Đức Thuận (Đức Phong), Đức Mỹ (Đức Lân).
• Năm 1966: Thành lập xã Đức Lợi từ xã Đức Hải
• Sau năm 1975, huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 12 xã: Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hòa, Đức Lân, Đức Lợi, Đức Minh, Đức Nhuận, Đức Phong, Đức Phú, Đức Tân (trung tâm huyện), Đức Thắng và Đức Thạnh.
• Năm 1987: Thành lập thị trấn Đồng Cát: Trên cơ sở gộp thôn 2 (Trừ Cây Gạo), thôn 4 (trừ Xóm Chòi), Thôn 5, Thôn 6 của Đức Tân.
• Năm 1992: Đổi tên Thị trấn Đồng Cát thành thị trấn Mộ Đức đến nay.
• Năm 2024: Tỉnh Quảng Ngãi thành lập xã Thắng Lợi nhập từ 2 xã Đức Thắng và Đức Lợi. Như vậy hiện tại huyện Mộ Đức có 1 thị trấn Mộ Đức và 11 xã bao gồm: Đức Nhuận, Đức Hiệp, Thắng Lợi, Đức Chánh, Đức Thạnh, Đức Minh, Đức Phú, Đức Tân, Đức Hòa, Đức Phong và Đức Lân.

-------------------------------------
- Tài liệu trên được tổng hợp đối chiếu giữa 2 huyện Mộ Đức và Đức Phổ

27/04/2026
• HÀNH KHÚC HỌ LÊ VIỆT NAM Sáng tác: Nhạc Sỹ Lê  Xuân ChungTiết mục đạt giải xuất  sắc trong Chương trình Liên hoan nghệ...
18/04/2026

• HÀNH KHÚC HỌ LÊ VIỆT NAM
Sáng tác: Nhạc Sỹ Lê Xuân Chung

Tiết mục đạt giải xuất sắc trong Chương trình Liên hoan nghệ thuật quần chúng Họ Lê Việt Nam với chủ đề "Âm vang Hào khí Lam Sơn". Kỷ niệm 600 năm khởi nghĩa Lam Sơn (1418-2018)

87 likes, 24 comments. "HÀNH KHÚC HỌ LÊ VIỆT NAM I Bình Gấu"

Bài viết của TS.. Lê Văn Nhotrên website HỌ LÊ VIỆT NAMVỚI Tài liệu tham khảo:1. Đại Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa,...
14/04/2026

Bài viết của TS.. Lê Văn Nho
trên website HỌ LÊ VIỆT NAM

VỚI Tài liệu tham khảo:
1. Đại Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa, 1697)
2. Lam Sơn sự tích lịch đại đế vương
3. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển thứ XV
4. Lam Sơn thực lục
5. Lê triều ngọc phả
6. http://tholam.thoxuan.thanhhoa.gov.vn/web/trang-chu/danh-thang-le-hoi/danh-thang/nhan-vat-do-dai.html
7. Gia phả tộc Lê Quang làng Năng An
8. Phan Khuyển Doãn, Văn bia thần đạo Đỗ Khuyển khai quốc công thần thời Lê Sơ, Tạp chí Hán Nôm số 4 (71), 2005
9. Đại Việt thông sử

https://holevietnam.vn/than-the-su-nghiep-quan-khe-hau-le-quang-dai-thuy-to-tien-hien-toc-le-lang-nang-an/

HLVN– Tộc Lê Quang – Năng An – Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi có thủy tổ, tiền hiền là Cai tri Phó tướng Lê Quang Đại tham gia bình Chiêm Thành năm 1471 dưới triều Vua Lê Thánh Tông và sau khi bình Chiêm thắng lợi Nhà Vua lập Đạo Thừa tuyên ...

Lê (chữ Hán: 黎) là một họ của người Việt Nam và Trung Quốc. Họ Lê phổ biến ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Hồng Kông)...
28/02/2026

Lê (chữ Hán: 黎) là một họ của người Việt Nam và Trung Quốc. Họ Lê phổ biến ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Hồng Kông). Họ "Lê" của người Trung Quốc (chữ Hán: 黎; bính âm: Lí) thường được chuyển tự thành Li, Lai hoặc Le, có thể bị nhầm lẫn với họ Lý (chữ Hán: 李; bính âm: Lǐ) cũng được chuyển tự thành Li hoặc Lee.

Họ Lê xếp thứ 262 trong Bách Gia Tính ("百家姓"排行榜) năm 2013 của Trung tâm Nghiên cứu Nguồn gốc Tính thị Hoa Hạ Hội Nghiên cứu Văn hoá Phục Hi Trung Hoa.

Chữ 黎 (lê) của họ này nghĩa gốc là "màu đen" (như trong từ "lê dân bách tính" - 黎民百姓, nghĩa là "dân đen trăm họ"), tránh nhầm lẫn với chữ 梨 (lê) có nghĩa là "quả lê", do chữ Quốc ngữ chỉ có thể biểu âm, không biểu nghĩa được như chữ Hán và chữ Nôm.

Lê (chữ Hán: 黎) là một họ của người Việt Nam và Trung Quốc. Họ Lê phổ biến ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Hồng Kông). Họ "Lê" của người Trung Quốc (chữ Hán: 黎; bính âm: Lí) thường được chuyển tự thành Li, Lai hoặc Le, có t...

Tại sao người Hàn Quốc lại thờ phụng một vị hoàng tử Việt Nam trong ngôi đền của họ? Và tại sao tổ tiên của dòng họ được...
28/02/2026

Tại sao người Hàn Quốc lại thờ phụng một vị hoàng tử Việt Nam trong ngôi đền của họ?
Và tại sao tổ tiên của dòng họ được coi là biểu tượng "Hào khí Đông A" của người Việt lại thực ra đến từ Phúc Kiến, Trung Quốc?

Ở tập này, Á Lục Ký tiếp tục hành trình giải mã nguồn gốc các dòng họ lớn nhất Việt Nam, với những bí mật mà sách giáo khoa chưa bao giờ kể.

Trong chương trình này, bạn sẽ khám phá:
📌 Họ Trần: Dòng họ "Hào khí Đông A" có gốc từ vùng Phúc Kiến, Trung Quốc, và chính sách hôn nhân nội tộc kỳ lạ đã giúp họ giữ ngai vàng nhưng cũng gieo mầm suy vong
📌 Họ Lý: Câu chuyện hoàng tử Lý Long Tường vượt biển sang Cao Ly năm 1226, đánh bại quân Mông Cổ và lập nên dòng họ Lý Hoa Sơn tồn tại đến ngày nay ở Hàn Quốc
📌 Họ Hồ: Tại sao gần như biến mất sau năm 1407, và bí mật về nguồn gốc thực sự của vua Quang Trung
📌 Họ Phan, Đặng, Bùi, Ngô, Vũ, Hoàng: Mỗi dòng họ đều có câu chuyện lịch sử riêng mà ít người biết
📌 Gia phả Việt Nam khác gia phả Trung Quốc ở điểm nào, và tại sao hệ thống nhà thờ họ lại là "kho lưu trữ lịch sử" của người Việt

Á Lục Ký là chương trình chuyên đào sâu về văn hóa, lịch sử và bản sắc Việt Nam, với góc nhìn khách quan và dựa trên tư liệu lịch sử. Chúng ta không dừng lại ở bề mặt.

Tại sao người Hàn Quốc lại thờ phụng một vị hoàng tử Việt Nam trong ngôi đền của họ? Và tại sao tổ tiên của dòng họ được coi là biểu tượng "Hào khí Đông A" c...

Danh tính người đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam, nổi da gà vì lời sấm truyền trước đó 300 nămHai chữ “Việt Nam” luôn l...
27/02/2026

Danh tính người đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam, nổi da gà vì lời sấm truyền trước đó 300 năm

Hai chữ “Việt Nam” luôn là niềm tự hào với người dân nước ta dù ở bất cứ nơi đâu.
Người đặt quốc hiệu nước ta là Việt Nam chính là vua Gia Long.

Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long nhận thấy việc ổn định về mặt tổ chức vương triều là rất cần thiết.
Làm xong điều đó, vua nghĩ đến chuyện đặt quốc hiệu đất nước, qua đó khẳng định sự thống nhất của một triều đại mới.

Bạn có bao giờ tự hỏi, cái tên "Việt Nam" có từ bao giờ không? Ai đặt? Và tại sao lại là "Việt Nam" chứ không phải tên gọi nào khác? 🇻🇳Trong video này, đội...

27/02/2026

Tại sao tiếng Việt cần đến mười mấy từ để gọi họ hàng, trong khi nhiều ngôn ngữ khác chỉ cần hai hoặc ba? Bác, Chú, Cậu, Cô, Dì, Mợ, Thím... mỗi từ đều có mộ...

27/02/2026

Cứ ba người Việt thì có một người họ Nguyễn. Nhưng tại sao? Và cái họ bạn đang mang, từ khi sinh ra đến nay, thực ra có nghĩa là gì trong chữ Hán?Trong kỳ ph...

Address

Nang An, Duc Nhuan, Mo Duc
Quang Ngai

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Dòng họ Lê Quang posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share