Công đoàn Sở GTVT TP.HCM

Công đoàn Sở GTVT TP.HCM Ngôi nhà chung của cán bộ công đoàn Sở GTVT TP.HCM.
Đây là nơi giới thiệu đến toàn cầu" các hoạt động của chúng mình nè. Tân gia 20.10.2018.

Kết thúc ngày 15/04/2025.

Vô cùng thương tiếc và xin thành kính phân ưu cùng gia đình Bác.Bác Lê Đức Minh, nguyên Chủ tịch Công đoàn Sở Giao thông...
25/07/2025

Vô cùng thương tiếc và xin thành kính phân ưu cùng gia đình Bác.

Bác Lê Đức Minh, nguyên Chủ tịch Công đoàn Sở Giao thông Vận tải TP.HCM đã ra đi.
Cầu hương linh bác sớm về đất Phật.

Vô cùng thương tiếc và xin thành kính phân ưu cùng gia đình Chị.Chị Vũ Thị Ngoãn, nguyên Chủ tịch Công đoàn Sở Giao thôn...
14/06/2025

Vô cùng thương tiếc và xin thành kính phân ưu cùng gia đình Chị.
Chị Vũ Thị Ngoãn, nguyên Chủ tịch Công đoàn Sở Giao thông Vận tải TP.HCM đã ra đi.
Cầu hương linh chị sớm về đất Phật.

Kính thưa các cấp lãnh đạo,Kính thưa các đồng chí,Thực hiện Đề án sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống Công đoàn Thà...
15/04/2025

Kính thưa các cấp lãnh đạo,
Kính thưa các đồng chí,
Thực hiện Đề án sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống Công đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, theo quyết định của Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh, Công đoàn Sở Giao thông vận tải giải thể từ ngày 15/4/2025.
Ban Chấp hành Công đoàn Sở Giao thông vận tải xin tri ân các cấp lãnh đạo trong Sở Giao thông vận tải (nay là Sở giao thông công chánh), các đồng chí cán bộ công đoàn cơ sở, lực lượng đoàn viên, công chức, viên chức, người lao động đã luôn đồng hành cùng hoạt động công đoàn cơ sở và hoạt động Công đoàn Sở Giao thông vận tải trong suốt thời gian qua, góp phần giữ vững và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn Sở Giao thông vận tải qua các thời kỳ.
Với số lượng chuyên trách chỉ có 02 người, sự đồng hành của toàn thể các đồng chí là động lực to lớn để tổ chức Công đoàn Sở Giao thông vận tải tiếp nối được thành quả của các thế hệ cán bộ công đoàn lão thành, hiệu quả hoạt động ngày càng thiết thực, đáp ứng được tâm tư của đoàn viên, người lao động, được toàn thể lãnh đạo các cấp và đoàn viên, người lao động tin tưởng, tích cực hưởng ứng các phong trào, góp phần vào thành tích chung của Sở Giao thông vận tải.
Hôm nay ngày 15 tháng 4 năm 2025 cũng là ngày kết thúc sứ mệnh công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tại Sở Giao thông vận tải qua các thời kỳ, hướng đến chặng đường mới. Ban Chấp hành Công đoàn Sở Giao thông vận tải kính chúc các đồng chí cùng tiếp tục giữ vững và phát huy thành quả của đơn vị, đạt nhiều thành tích lớn trong chặng đường mới.
Ban Chấp hành Công đoàn Sở Giao thông vận tải kính chào tạm biệt.
Kỷ niệm 15-04-2025.

Luật Công đoàn năm 2024 chính thức được Quốc hội khoá XV thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/20...
12/04/2025

Luật Công đoàn năm 2024 chính thức được Quốc hội khoá XV thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025, thay thế Luật Công đoàn năm 2012, với 443/456 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 92,48% tổng số đại biểu).

Luật Công đoàn năm 2024 gồm 6 chương, 37 điều với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm khắc phục một số hạn chế, bất cập của Luật Công đoàn năm 2012; thể chế hoá Hiến pháp, các chủ trương, nghị quyết của Đảng về tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân, đặc biệt là Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý trực tiếp, quan trọng cho tổ chức Công đoàn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, nâng cao vị thế, khẳng định vai trò, hiệu quả hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Luật Công đoàn năm 2024 có nhiều điểm mới. Trước hết, trên cơ sở kế thừa những thành tựu và nội dung của Luật Công đoàn năm 2012, Luật Công đoàn năm 2024 được bố cục gồm 6 chương, 37 điều (tăng thêm 4 điều so với Luật Công đoàn năm 2012).

https://laodongcongdoan.vn/bo-cuc-ket-cau-cua-luat-cong-doan-nam-2024-co-gi-moi-110687.html?fbclid=IwY2xjawJnYR1leHRuA2FlbQIxMQABHk6OYYVPwzffR9Twwmfe16cbyMTJ4slz2JNl6RxAIr0GPz6Mcth-NfB3_jnE_aem_peExspMzOUtbEDjn1LXFsQ

So với Luật Công đoàn năm 2012, Luật Công đoàn năm 2024 đã tăng thêm 4 điều.

50 năm non sông liền một dải - Bài 3: Những ngày tái thiết thành phố*****Sài Gòn những ngày tháng 4-1975 lịch sử, màu nắ...
12/04/2025

50 năm non sông liền một dải - Bài 3: Những ngày tái thiết thành phố
*****
Sài Gòn những ngày tháng 4-1975 lịch sử, màu nắng hòa lẫn màu của thành thị phồn hoa. Ông Chín Đào trầm ngâm nhìn lên tấm hình cũ đã phai màu, rồi lại nhìn ra nhịp sống hối hả ngoài khung cửa sổ. Với ông, màu của hòa bình luôn thật đẹp…

Thời khắc gian nan

Chúng tôi đến thăm gia đình ông Phan Minh Tánh (96 tuổi, thường gọi là ông Chín Đào), nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Dân vận Trung ương, nguyên Phó Bí thư Thành ủy TPHCM, 1 trong 11 thành viên của Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Dù ngày giải phóng miền Nam đã là câu chuyện của 50 năm trước, nhưng hồi ức về thời khắc lịch sử ấy vẫn luôn hiện hữu trong trái tim ông.

Ngày ấy, Thành phố khó khăn chồng chất khó khăn, lại xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc; thiên tai xảy ra 3 năm liền ở Nam bộ ảnh hưởng lớn đến vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long… khiến mỗi lần nhớ đến là lòng ông đau nhói.

Theo Đại tá Trần Ngọc Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, số liệu thời bấy giờ cho thấy thành phố Sài Gòn - Gia Định chỉ có 3,5 triệu dân nhưng hơn 1 triệu người thất nghiệp, hàng vạn người của chế độ cũ và hàng vạn thành phần liên quan đến tệ nạn xã hội.

Trong bối cảnh ngổn ngang đó, ngày 3-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra quyết định thành lập Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định, do Thượng tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch. Mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian ngắn (7-5-1975 - 21-1-1976) trong điều kiện hết sức khó khăn, Ủy ban quân quản đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ, thực hiện hàng loạt chính sách để giữ được sự ổn định cần thiết ban đầu.

“Theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, nhiệm vụ chủ yếu của Ủy ban quân quản là nhanh chóng tiếp quản các cơ sở vật chất ở các lĩnh vực; ổn định đời sống quần chúng, cứu tế đồng bào thiếu đói, từng bước khôi phục những cơ sở bảo đảm cuộc sống của nhân dân và sắp xếp công ăn việc làm cho quần chúng...”, ông Chín Đào kể lại.

Sức khỏe của ông không cho phép chúng tôi có thể trò chuyện lâu. Ông nhìn vợ mình - bà Lê Thị Minh rồi khẽ gật đầu. Chúng tôi biết rằng, từng chi tiết, từng hồi ức của ông về những ngày đầu sau giải phóng, vợ ông đều rõ.

Bà Minh lên nhà trên, lục tìm cuốn sổ sờn hết góc và nét mực đã nhòe, kể với chúng tôi: “Đây rồi, Ủy ban quân quản thành phố đã chỉ đạo tổ chức 4 đoàn, 34 đội công tác xuống từng phường khóm làm nhiệm vụ cứu trợ, đưa đồng bào chạy nạn về quê cũ sinh sống, cấp đất cho người nghèo và diện chính sách, khôi phục sản xuất, rà phá tháo gỡ bom mìn, vật nổ, thu dọn phế liệu chiến tranh, khám chữa bệnh cho nhân dân… Đến cuối năm 1975, hơn 1.700 xí nghiệp với 30.000 công nhân trở lại sản xuất, 65.000ha đất vùng ngoại thành được canh tác, các đối tượng tệ nạn xã hội giảm mạnh…”.

“50 năm rồi, tôi vẫn sợ cảm giác mỗi đêm thấp thỏm chờ đợi tiếng bước chân quen thuộc của chồng trở về. Ổng đi suốt, họp suốt, đi từ mờ sáng đến tối mịt, ánh mắt lúc nào cũng trăn trở lo âu…”, bà Minh nói. Bà cho biết, với bà, đó là một thời kỳ mà mỗi bước đi đều là một cuộc đấu tranh không chỉ với kẻ thù mà còn với chính những khó khăn, thách thức trong lòng đất nước.

Ổn định trật tự trị an

Thời điểm đó, tình trạng thất nghiệp và nửa thất nghiệp của thành phố tăng cao; lượng thương phế binh, gái mại dâm, người nghiện ma túy, trẻ bụi đời, người ăn xin, trẻ mồ côi… lên đến hàng trăm ngàn người.

Trước tình hình đó, một trong những nhiệm vụ chính Ủy ban quân quản phải tập trung triển khai theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam là tiếp tục đánh địch, truy lùng tàn binh địch, trấn áp bọn phản cách mạng, thiết lập trật tự trị an của thành phố. Những quyết sách của Ủy ban quân quản khi đó được nhân dân ủng hộ và hưởng ứng.

Thời điểm đó, Báo Sài Gòn Giải Phóng - cơ quan ngôn luận của Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - TPHCM cũng đã lập diễn đàn “Muôn mặt Sài Gòn” để người dân phản ánh, góp ý, kiến nghị giải quyết các vấn đề có liên quan đến quản lý trật tự trị an của thành phố.

Là một trong những người tham gia tiếp quản Sài Gòn, ông Đỗ Trọng Văn, Trưởng Chi hội nhà giáo đi B, Hội Cựu giáo chức Việt Nam, cho biết, khi đó có rất nhiều thông tin sai trái về an toàn của Sài Gòn, Ủy ban quân quản đã rất nhanh có biện pháp để ổn định tâm lý người dân. Trong đó, quan trọng nhất là thái độ tiếp xúc với người dân.

Ngay sau khi ổn định tâm lý người dân, Ủy ban quân quản lại bắt tay vào phục hồi kinh tế. Thời điểm này, Thành đoàn tổ chức lực lượng Thanh niên xung kích thu hút nhiều thanh niên tham gia hăng hái làm công tác xã hội.

Từ tháng 7 đến tháng 10-1975, Thành đoàn đã tập hợp lần lượt 800 thanh niên, thành lập 8 đại đội tình nguyện đi khai hoang, làm thủy lợi. Các đội Thanh niên xung phong (TNXP) tình nguyện ra quân làm thủy lợi trên nông trường Lê Minh Xuân.

Tháng 10-1975, Ban Vận động khai hoang và Xây dựng kinh tế mới Trung ương thành lập tổ chức TNXP gồm 2 đội, đi xây dựng các khu kinh tế mới ở Tây Ninh và Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước). Các đội TNXP đầu tiên này là tiền thân, là cơ sở để hình thành 2 tổng đội TNXP: Tổng đội TNXP Thành đoàn và Tổng đội TNXP Xây dựng kinh tế mới.

Để rồi, ngày 28-3-1976 đã ghi dấu một sự kiện quan trọng của TPHCM, một thời điểm đáng ghi nhớ của phong trào thanh niên và là một kỷ niệm sáng chói của TNXP thành phố. Ngày đó, hơn một vạn thanh niên thành phố của Tổng đội TNXP Thành đoàn và Tổng đội TNXP Xây dựng kinh tế mới đã quyết tâm rời bỏ cuộc sống thị thành, lên đường đến vùng nông thôn ngoại thành và những nơi núi rừng đầy gian khổ để khai hoang, phục hóa, xây dựng các khu kinh tế mới, làm giàu cho quê hương, đất nước.

Trước đội ngũ trùng trùng điệp điệp của tuổi trẻ TNXP, đồng chí Võ Văn Kiệt (lúc bấy giờ là Chủ tịch UBND Cách mạng TPHCM) đã trao cờ Đoàn cho đồng chí Phạm Chánh Trực - Bí thư Thành đoàn. Thay mặt tuổi trẻ thành phố, đồng chí Phạm Chánh Trực nhận và giương cao lá cờ Đoàn trước hàng TNXP. Lá cờ ghi dòng chữ “Đâu cần thanh niên có. Đâu khó có thanh niên”.

Từ những người chưa hề biết cầm cuốc, cầm leng, đào đất cực nhọc suốt ngày dưới trời nắng gắt những tháng mùa khô, họ đã không ngần ngại tìm đến bà con nông dân để học hỏi, rồi lao vào công việc trong niềm say mê và lòng quyết tâm… Bà con nông dân ngoại thành luôn ghi nhớ hình ảnh các TNXP trên công trường đào kênh chống úng ở nông trường Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, kênh Thầy Cai, kênh Ba Gia, xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng như: đập Cá Trê nhỏ, đập Vàm Nước Đục, đập Cây Bàng…

Tài sản trong tay và trách nhiệm trong tim

50 năm trước, giữa không khí hân hoan của ngày thống nhất đất nước, có một đơn vị đặc biệt với 34 chiến sĩ trẻ tuổi được giao nhiệm vụ quan trọng: bảo vệ một khối tài sản khổng lồ của đất nước. Trong số đó có ông Hoàng Minh Duyệt, khi ấy là Chuẩn úy, Đoàn phó đoàn C282.Q Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng).

Chiều 30-4-1975, đoàn C282.Q hành quân từ Trung ương Cục miền Nam vào trung tâm Sài Gòn trong sự chào đón nồng nhiệt của nhân dân. Đơn vị do Thượng úy Đặng Hồng Minh làm Đoàn trưởng, ông Hoàng Minh Duyệt là Đoàn phó, Chính trị viên Bùi Bá Lân chỉ huy, nhanh chóng tiếp cận và triển khai nhiệm vụ.
Sáng 1-5-1975, đoàn C282.Q nhận lệnh tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tại 17 Bến Chương Dương. Là người trực tiếp tham gia công tác kiểm kê, ông Hoàng Minh Duyệt chứng kiến và lưu giữ biên bản lịch sử về số lượng tài sản khổng lồ gồm hơn 16 tấn vàng, hàng ngàn đồng tiền cổ bằng vàng, bạc… Sau khi kiểm kê, toàn bộ tài sản, cơ sở vật chất của Ngân hàng Quốc gia và hệ thống ngân hàng thương mại khu vực Sài Gòn - Gia Định được giao cho đoàn C282.Q tiếp quản, bảo vệ.

Ngoài Ngân hàng Quốc gia, các chiến sĩ chia nhau bảo vệ mục tiêu là các ngân hàng lớn, như Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Giao thông, Ngân hàng Đại Á và một số địa điểm khác. Không chỉ vậy, ông Duyệt còn tham gia tiếp quản và bảo vệ kho hàng tồn trữ Thủ Đức - nơi dự trữ một lượng lớn nhu yếu phẩm phục vụ hàng triệu người; áp tải, bảo vệ tiền trong thời gian diễn ra quá trình đổi tiền vào tháng 9-1975…

Trong suốt quá trình làm nhiệm vụ (khoảng nửa năm), các chiến sĩ đoàn C282.Q xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, thường xuyên tiếp xúc, sống trên “hầm vàng, kho tiền, núi hàng hóa” nhưng vượt lên tất cả, các chiến sĩ luôn nêu cao ý chí, là tấm gương cho người dân thành phố mới giải phóng về tinh thần cách mạng, sự chính trực của một người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Theo SGGP

50 năm non sông liền một dải - Bài 2: Ngày đoàn tụ*****Sau 50 năm, với Kiến trúc sư (KTS) Nguyễn Hữu Thái, một trong nhữ...
12/04/2025

50 năm non sông liền một dải - Bài 2: Ngày đoàn tụ
*****
Sau 50 năm, với Kiến trúc sư (KTS) Nguyễn Hữu Thái, một trong những nhân chứng đặc biệt chứng kiến thời khắc đất nước thống nhất, những ký ức về không khí sáng 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập vẫn còn nguyên vẹn. Giờ đây, ở tuổi ngoài 80, tóc ông bạc trắng, dáng đi chậm chậm nhưng khi nhắc về khoảnh khắc lịch sử ấy, ánh mắt ông vẫn bừng sáng.

Thời khắc chuyển giao lịch sử

Sáng 30-4-1975, chàng trai trẻ nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái cùng Giáo sư giảng dạy báo chí Huỳnh Văn Tòng lên xe nhà báo Nguyễn Vạn Hồng, hướng về Dinh Độc Lập. Khi đến cửa hông ở đường Nguyễn Du, họ quyết định tiến thẳng vào thềm dinh.

Bên trong, không khí im lặng một cách đáng ngờ. Ông vội vã tìm Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin trong nội các mới, để cùng ra Đài Phát thanh thành phố. Tuy nhiên, không tài xế nào dám cầm lái vì lo bị bắn. Khi cả nhóm còn đang loay hoay, một sự kiện bất ngờ diễn ra trước mắt họ: đoàn xe tăng của Quân Giải phóng rầm rập tiến vào Dinh Độc Lập.

“Tiếng động cơ xe tăng gầm rú vang lên giữa lòng thành phố, tạo nên một cảnh tượng hùng tráng. Trong khoảnh khắc, cổng Dinh Độc Lập bị húc đổ mở toang. Những chiếc xe tăng tiến thẳng vào bên trong, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn”, KTS Nguyễn Hữu Thái hồi tưởng.

Lúc này, không khí trong Dinh Độc Lập trở nên căng thẳng. Đúng lúc đó, anh lính Bùi Quang Thận từ trên xe tăng nhảy xuống, mang theo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Khi thấy anh còn ngỡ ngàng trước quy mô của dinh thự, ông Thái tiến đến đề nghị dẫn đường. “Kéo lá cờ ba sọc xuống thật khó, vì nó được buộc rất chặt. Sau một hồi nỗ lực, lá cờ Giải phóng đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập”, ông kể lại. Khoảnh khắc ấy, một chương mới của lịch sử Việt Nam đã chính thức mở ra!

Vì đó là Tổ quốc…

Đại tá - họa sĩ Phan Oánh (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lực lượng vũ trang miền Đông Nam bộ) kể, ông vào Sài Gòn lúc 12 giờ 30 ngày 30-4-1975, sau khi Quân đoàn 2 và Lữ đoàn xe tăng cắm cờ tại Dinh Độc Lập một tiếng đồng hồ. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ làm công tác quân quản. 12 giờ đêm, ông đang ở tại nhà số 10 đường Alexandre de Rhodes, cạnh Bộ Ngoại giao, nơi đơn vị đóng quân, thì nhận được điện cơ quan chính trị gọi về gặp thủ trưởng giao nhiệm vụ.

Nhiệm vụ của ông là cắt khẩu hiệu chào mừng chiến thắng và hòa hợp dân tộc, vẽ và dựng tranh cổ động, tham gia trưng bày minh họa cho quân giải phóng. Báo Văn Nghệ Giải Phóng, Báo Sài Gòn Giải Phóng ra số đầu tiên mừng nước nhà thống nhất, chuẩn bị làm sân lễ đài để phục vụ diễu binh, đón Bác Tôn và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Đơn vị ra lệnh tất cả họa sĩ từng học ở trường B2.5 - Phòng Hội họa Giải phóng, các lớp vẽ do Phòng Tuyên huấn miền và các sư đoàn tổ chức có mặt để làm nhiệm vụ. Đại tá - họa sĩ Phan Oánh bày tỏ: “Các họa sĩ trở thành những người cắt khẩu hiệu, vẽ cờ, chỉ dẫn giao thông, giải thích chính sách... Tôi chợt nghĩ đó là Tổ quốc, bất kể chính kiến nào thì ai cũng có một ước mong là chấm dứt chiến tranh, thống nhất Tổ quốc”.

Khoảng giữa trưa, KTS Nguyễn Hữu Thái cùng các cán bộ Quân Giải phóng hộ tống Tổng thống Dương Văn Minh và nội các ra Đài Phát thanh. Ông bất ngờ được giao làm phát thanh viên “bất đắc dĩ”, thông báo rằng Sài Gòn đã được giải phóng và giới thiệu lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh.

Sau khi băng ghi âm tuyên bố đầu hàng được phát, khẳng định chính quyền Sài Gòn giải tán, trao lại quyền kiểm soát cho Chính phủ Cách mạng lâm thời, Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203, Quân đoàn 2 Bùi Văn Tùng long trọng tuyên bố Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng. Ngay sau đó, nhóm của KTS Nguyễn Hữu Thái tổ chức chương trình phát thanh, thông báo chính sách mới… Ông Thái kể, khi ấy công việc cứ cuốn đi và phải mãi tận sau này, ông mới dần cảm nhận được mình không chỉ là nhân chứng mà còn được tham gia một sự kiện đặc biệt trong lịch sử của dân tộc. Đó là điều ông luôn lưu giữ và trân trọng suốt cuộc đời.

Ngày hội hòa bình

Buổi chiều 30-4-1975, thành phố dần trở lại nhịp sống bình thường. “Đêm ấy, bầu trời Sài Gòn bỗng trở nên tĩnh lặng khác thường. Đó là đêm đầu tiên của hòa bình”, ông Thái xúc động kể.

Mỗi khi nhớ về ngày ấy, hình ảnh khắc sâu trong tâm trí ông là cảnh bộ đội nhóm lửa, bắc bếp nấu cơm ngay trên khu đất công viên trước cổng Dinh Độc Lập. Thanh niên Sài Gòn hào hứng đến trò chuyện với các chiến sĩ, không phải với sự dè dặt hay xa cách, mà như những người thân lâu ngày gặp lại. “Không khí lúc đó đầy bất ngờ, không giống một cuộc chiến vừa kết thúc, mà giống như một ngày đoàn tụ”, ông Thái nói.

Sau ngày 30-4-1975, bầu không khí sôi động lan tỏa khắp thành phố. Sinh viên, học sinh giữ trật tự giao thông, thu gom rác, vận động binh lính Sài Gòn giao nộp vũ khí. Sáng 1-5-1975, hàng ngàn thanh niên tụ tập tại Trung tâm Sinh viên, số 4 đường Duy Tân (nay là đường Phạm Ngọc Thạch). “Lần đầu tiên sau nhiều năm, họ được tụ họp mà không lo sợ bị đàn áp, bắt bớ. Tôi nhìn thấy những khuôn mặt rạng rỡ, những nụ cười thật sự hạnh phúc - một niềm vui đơn giản, chân thành khi họ có thể cất cao tiếng nói, cùng nhau bắt đầu một hành trình mới”, ông Thái xúc động nhớ lại.

Ngày 30-4-1975 đã trở thành một trong những sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử Việt Nam. Không chỉ là ngày kết thúc chiến tranh mà còn là ngày hội của hòa bình, ngày mà cả dân tộc cùng bước sang một chương mới. “Đội quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn không với dáng vẻ của những kẻ chiến thắng, mà như những người anh em trở về nhà. Trong ánh mắt của nhân dân hai miền, đó là một ngày hội lớn - ngày hội của hòa bình, thống nhất và đoàn tụ”, ông Thái khẳng định.

50 năm trôi qua, ông Thái đã có một thời gian dài sống và làm việc ở nước ngoài trước khi quay trở lại Việt Nam làm công tác giảng dạy trong trường đại học, song mỗi lần nhắc lại ngày ấy, ánh mắt ông vẫn ánh lên niềm tự hào. “Tôi tự hào vì đã chứng kiến và tham gia vào sự kiện trọng đại ấy. Dù thời gian trôi qua, ký ức về buổi sáng lịch sử năm 1975 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí tôi”, ông Thái nói.

Đi qua 2 cuộc trường kỳ

Ngày 30-4-1975 lịch sử, trên đôi vai ông là nhiệm vụ trọn vẹn của người lính đi qua hai cuộc chiến vệ quốc trường kỳ, ông là Đại tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, Nguyên Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền (B2), Nguyên Chính ủy Lữ đoàn 316. Ký ức ngày 30-4-1975 với bác Tư là niềm vui sum họp trong ngôi nhà nhỏ, trên một đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Bác Tư Cang kể: “Tôi cứ nhớ mãi 2 đêm: một đêm năm 1946 từ giã vợ lên đường đi chiến đấu và đêm 30-4-1975 toàn thắng trở về, gặp nhau trong căn phố nhỏ Thị Nghè. Hai đêm cách nhau những 29 năm, tâm trạng vui buồn khác xa nhau, nhưng đêm nào cũng đầy nước mắt”.
Phải ở lại vị trí để hoàn thành nhiệm vụ của người chỉ huy chiến đấu, khi lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, bác Tư vẫn đang làm nhiệm vụ ở đình Tân Thới Tứ (xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn), đến trưa thì xuống tới nội đô. Tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ cách mạng, ngày gặp lại gia đình cũng là ngày ông lên chức ông ngoại. Tối lại, ông về thăm vợ con ở khu cư xá nhân viên Việt Nam Thương Tín, bây giờ thuộc phường 21, quận Bình Thạnh. Chưa tới cửa, ông gọi “Nhồng ơi Nhồng!”, bà xã chạy ra vừa mừng vừa khóc: “Em biết mà, nghe gọi tên Nhồng em biết chỉ có anh thôi”.

Theo lời bác Tư Cang, hồi ông ở chiến khu, vợ biên thơ nói sanh con gái. Bà xã ông ở nhà thứ sáu, dân Nam bộ thì “sáu” đọc cũng như “sáo” thôi, thành ra má vợ ông đặt tên cháu ngoại là Nhồng, vì con sáo sanh ra con nhồng. Hai vợ chồng gặp lại sau gần 30 năm xa cách, vừa mừng vừa tủi, nước mắt cứ trào ra. “Con gái tôi - con Nhồng đã thức giấc, lay thêm đứa nhỏ 3 tuổi. Tôi giật mình thầm nhủ mình đã lên chức ông ngoại rồi. Tôi ôm cháu ngoại vào lòng mà không cầm được nước mắt”.

Dù 50 năm đã qua hay nhiều hơn thế nữa, thời gian sẽ không cho phép chúng ta gặp lại đầy đủ các nhân chứng lịch sử, nhưng hào hùng còn đó, để lớp lớp người tiếp nối vinh quang… Để khi mở ra từng trang sử Việt, thế hệ hôm nay, mai sau trân trọng, tự hào và biết ơn hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ này, bởi không phải tự nhiên mà có một ngày thống nhất non sông.
Theo SGGP

50 năm non sông liền một dải - Bài 1: Ngày về thống nhất*****Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đ...
12/04/2025

50 năm non sông liền một dải - Bài 1: Ngày về thống nhất
*****
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc trong mùa xuân đại thắng, kể từ ngày 30-4-1975, nước nhà thống nhất, non sông liền một dải, đất nước trọn niềm vui. Chiến thắng như huyền thoại ấy đã thắm bao máu và nước mắt, bao gian khổ, hy sinh của đồng bào, đồng chí, của lớp lớp thanh niên thành phố và khắp các tỉnh thành cả nước, của các vùng căn cứ của Khu ủy, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định… 50 năm từ sau ngày lịch sử ấy, Sài Gòn - Gia Định - TPHCM đã và đang mạnh mẽ tiếp bước truyền thống, tự hào ghi dấu trong hành trình phát triển cùng kỷ nguyên vươn mình của đất nước.

Bao thế hệ đi vào kháng chiến, triệu trái tim chung khát vọng hòa bình, nhưng mấy ai dám chắc ngày về sum họp, có biết đâu là trận đánh cuối cùng. Trong gang tấc của làn tên mũi đạn, lớp người ngã xuống trước thềm thống nhất, người may mắn gặp lại gia đình sau mấy mươi năm vẹn nghĩa chờ nhau.

Người nằm xuống để cờ chiến thắng tung bay

Trong những ngày cuối cùng áp sát Sài Gòn, Lữ đoàn đặc công 316 là đơn vị hy sinh nhiều nhất, 52 đồng chí đã ra đi cận kề giờ phút chiến thắng, họ đã mãi nằm lại nơi vàm Rạch Chiếc trước thềm độc lập.

Lữ đoàn đặc công 316 có nhiệm vụ giữ, không cho địch phá cây cầu và mở đường cho xe tăng của quân giải phóng tiến về Dinh Độc Lập trong những ngày cuối tháng 4 năm ấy. Trong chiến dịch đó, tất cả những ai tham gia đều đeo dải băng đỏ trên cánh tay trái như một ký hiệu. Và dải băng đỏ năm ấy, một màu đỏ của niềm tin chiến thắng và cũng là máu đỏ của các anh, các chú, các bác đã mãi mãi nằm lại. Cựu chiến binh Nguyễn Đức Thọ (Lữ đoàn đặc công 316, đơn vị Z23) nhớ lại: “52 anh em đã mất, nhưng chỉ tìm được 9 người thôi…”.

Ông Nguyễn Đức Thọ, người được giao nhiệm vụ bắn phát B40 đầu tiên, tiêu diệt tháp canh và làm hiệu lệnh chung cho toàn trận đánh. 5 giờ ngày 30-4-1975, toàn bộ đơn vị đồng loạt nổ súng, tiếng thủ pháo và lựu đạn nổ rền. Anh em nhanh chóng từ dưới nước vọt lên bám sát chân cầu nổ súng quyết liệt, chờ đến 7 giờ đón quân giải phóng vào (xe tăng đi đầu thuộc Lữ đoàn 203 - Quân đoàn 2 hay còn được gọi là Binh đoàn Hương Giang).

Trung úy Nguyễn Đức Thọ không quên niềm vui năm ấy: “Hơn 7 giờ sáng 30-4, lực lượng đi đầu của Quân đoàn 2 dùng pháo trên xe tăng và súng 12,7 ly bắn áp chế về cầu Rạch Chiếc. Từ vị trí chiến đấu, chúng tôi phát hiện trên xe tăng có cờ giải phóng. Khi xe đến đầu cầu, mọi người ùa ra reo mừng”.

Cuộc gặp gỡ chớp nhoáng trong niềm xúc động phút giây thống nhất đang cận kề, rồi ai nấy nhanh chóng về vị trí, tiếp tục nhiệm vụ. Trận cầu Rạch Chiếc đánh từ tối 27 đến 30-4-1975, trận đánh lớn nhất và gần nội đô Sài Gòn nhất, người lính đặc công năm ấy cũng chiến đấu với tinh thần hiên ngang nhất. “Hồi đó, đang đi học, tôi tình nguyện nhập ngũ, lên đường vào Nam. Bao nhiêu người tình nguyện, bao nhiêu người hy sinh thì mình có là gì đâu. Lúc đó, chỉ mong ngày giải phóng rồi trở về nhà với gia đình”, cựu chiến binh Lại Ngọc Trãi (Lữ đoàn đặc công 316) xúc động nhớ lại.

Nhớ mãi hình ảnh lá cờ trong ngày giải phóng

“Đây là trụ sở chỉ huy của lực lượng thanh niên, sinh viên 5 khu vực trong nội thành 50 năm trước cô và đồng đội chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Thời điểm ấy, không ai biết ngày giờ khởi nghĩa, chỉ biết nhiệm vụ được giao thì phải hoàn thành thật tốt”, bà Trương Mỹ Lệ (bí danh Tư Liêm) - khi ấy được giao Quyền Bí thư Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định, xúc động khi giới thiệu với chúng tôi về căn gác phía sau căn nhà số 115 Bàn Cờ (quận 3, TPHCM), khi bà cùng đồng đội trở về thăm nơi 50 năm trước cùng nhau chiến đấu và mừng chiến thắng.

Tiếp lời bà Tư Liêm, ông Lê Quang Hùng (năm nay 68 tuổi, con trai chủ căn nhà số 115 Bàn Cờ, 50 năm trước là học sinh Trường Kỹ thuật Cao Thắng) chỉ tay về căn nhà đối diện, nói: “Hơn 10 giờ sáng 30-4-1975, tôi được lệnh treo 2 lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có hình ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ và xanh dương. Tôi vội lên nóc căn nhà bên ấy treo một lá cờ, sau đó chạy về treo thêm một lá cờ nữa trên nóc nhà bên đây; còn ở hai đầu đường Bàn Cờ, căng băng rôn có nội dung “Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Để chuẩn bị cho chiến dịch, bà Tư Liêm cho biết, vào tháng 3-1975, nhận nhiệm vụ do đồng chí Mai Chí Thọ giao phó, bà rà soát chuẩn bị lực lượng thanh niên, sinh viên nội thành có thể công khai và bán công khai phát động khởi nghĩa tại 5 khu vực, gồm: Bàn Cờ - Ngã Bảy - Vườn Chuối (quận 3); Cầu Bông - Đa Kao - Gia Định (quận 1); Cầu Kiệu - Phú Nhuận (quận Phú Nhuận); Khánh Hội - Xóm Chiếu (quận 4) và Tân Phú - Tân Sơn - Bà Quẹo (quận Tân Bình).

“Trước đó, chúng tôi còn trang bị vũ khí mang từ bên ngoài vào (các loại súng ngắn, lựu đạn...). Học sinh, sinh viên Trường Kỹ thuật Cao Thắng còn chế tạo một số vũ khí để tự vệ. Chúng tôi cùng bà con chuẩn bị cả lương khô, may cờ, làm khẩu hiệu, in tài liệu…”, bà Tư Liêm nhớ lại.

Trong nhóm tại khu vực Bàn Cờ, gia đình ông Hùng được giao may cờ, in truyền đơn, chuẩn bị lương thực, thực phẩm. 10 ngày trước giải phóng, mẹ của ông Hùng, vốn là tiểu thương chợ Bến Thành, đã khéo léo mua vải màu vàng ở chợ Bến Thành, vải màu xanh ở chợ Bàn Cờ, vải màu đỏ ở một chợ khác chuẩn bị may cờ...

Thời khắc lịch sử ngày 30-4-1975 như lại ùa về trong câu chuyện rộn ràng của những người đồng đội năm nào. Bà Tư Liêm nhớ như in: Khi ông Dương Văn Minh, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tuyên bố đầu hàng, lực lượng thanh niên vũ trang trở thành những người nắm chính quyền lâm thời trước khi bàn giao cho lực lượng quân quản. Chúng tôi mỗi người đều đeo băng đỏ ở tay có hình 2 ngôi sao vàng để nhận diện. Nhiều bà con thấy thì rất ngạc nhiên: Trời, tụi bây là Việt cộng hả? Bởi mới hôm qua, bà con còn thấy chúng tôi là học sinh, thanh niên quen thuộc trong xóm.

Đã 50 năm trôi qua, nhưng bà Đoàn Lê Hương (bí danh Chín Dân) vẫn nhớ như in hình ảnh lá cờ có hình ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ và xanh dương to lớn được cả xóm ở khu vực sau nhà thờ Nguyễn Tri Phương (quận 10) treo lên khi nghe tin ông Dương Văn Minh đầu hàng. Lá cờ này nhiều người dân trong xóm đã cùng may vào những ngày cuối tháng 4 lịch sử.

Bà Đoàn Lê Hương là cựu tù chính trị, được trao trả tại Lộc Ninh vào tháng 3-1975. Vào giữa tháng 4-1975, bà cùng với 2 nữ cựu tù: Phạm Thị Sứ (Năm Bắc) và Nguyễn Thị Châu (Ba Châu) được Thành ủy Sài Gòn - Gia Định cử về quận 10 để làm công tác chỉ đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền. “Sau giây phút vui mừng, chúng tôi nghĩ ngay đến nhiệm vụ phải làm. Bởi chúng tôi hiểu công việc tiếp theo sẽ rất nhiều, rất nặng nề”, bà Đoàn Lê Hương cho biết.

Nhớ vị tướng gắn với chiến dịch mang tên Bác Hồ
Nhắc đến Đại tướng Văn Tiến Dũng, chúng ta nhớ đến vị danh tướng kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam, người đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trong lịch sử kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhất là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên đại thắng Mùa Xuân năm 1975…

Đại tướng Văn Tiến Dũng từng viết trong hồi ký Đại thắng Mùa Xuân: “Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tốc độ một ngày bằng 20 năm, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột; Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định để dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại của Nam bộ. Hơn 1 triệu quân ngụy và toàn bộ bộ máy ngụy quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong 20 năm sụp đổ hoàn toàn”.

Những ngày đầu tháng 4 lịch sử, chúng tôi có cuộc trò chuyện với bà Văn Tuyết Mai, người con thứ ba của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Ngôi nhà lưu niệm của Đại tướng nằm yên bình trên một con phố nhỏ ở Hà Nội. Không gian giản dị nhưng trang trọng, lưu giữ kỷ vật ghi dấu từng cột mốc quan trọng trong cuộc đời binh nghiệp của ông.

Bà Văn Tuyết Mai chia sẻ, Đại tướng Văn Tiến Dũng rất ham đọc sách, đặc biệt là các tác phẩm văn học, triết học và quân sự. Ở phòng làm việc, ông luôn có 1 thư viện thu nhỏ với nhiều sách báo. Đây cũng là nơi ông ghi chép tỉ mỉ những nhận định và phân tích chiến lược. Ông đọc và giữ sách rất nghiêm cẩn, không bao giờ gấp mép sách để làm dấu mà luôn kẹp một miếng giấy nhỏ giữa các trang để đánh dấu vị trí đang đọc. Dù bận rộn với công việc, ông vẫn dắt các con đi thăm những di tích lịch sử, nhắc nhở các con về trách nhiệm và tình yêu Tổ quốc.

Trong những năm chiến tranh, tuy là vị tướng cấp cao, nhưng đời sống gia đình ông đơn giản, bữa cơm chỉ có lạc rang, trứng và chút thịt. Ông cũng giữ tính cách nghiêm khắc trong dạy dỗ con, không nuông chiều mà luôn nhắc nhở con phải sống tự lập, không ỷ lại danh tiếng của cha.
Theo SGGP

𝐊𝐡𝐮𝐲𝐞̂́𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐝𝐚̂𝐧 𝐠𝐚̂̀𝐧 𝐭𝐫𝐚̣̂𝐧 đ𝐢̣𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐨 𝐁𝐞̂́𝐧 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 Đ𝐚̆̀𝐧𝐠 '𝐦𝐨̛̉ 𝐜𝐮̛̉𝐚 𝐤𝐢́𝐧𝐡'****Cơ quan, doanh nghiệp, hộ dân ...
12/04/2025

𝐊𝐡𝐮𝐲𝐞̂́𝐧 𝐧𝐠𝐡𝐢̣ 𝐧𝐡𝐚̀ 𝐝𝐚̂𝐧 𝐠𝐚̂̀𝐧 𝐭𝐫𝐚̣̂𝐧 đ𝐢̣𝐚 𝐩𝐡𝐚́𝐨 𝐁𝐞̂́𝐧 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 Đ𝐚̆̀𝐧𝐠 '𝐦𝐨̛̉ 𝐜𝐮̛̉𝐚 𝐤𝐢́𝐧𝐡'

****

Cơ quan, doanh nghiệp, hộ dân trong bán kính 2 km của trận địa pháo Bến Bạch Đằng cần mở cửa kính để tránh hư hỏng do sóng xung kích khi bắn đạn pháo lễ.

Yêu cầu được UBND TP HCM nêu trong văn bản gửi các sở ngành, địa phương triển khai công tác phục vụ trận địa pháo lễ kỷ niệm 50 năm "Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".

Theo đề nghị của Bộ Tư lệnh thành phố, cơ quan, doanh nghiệp và hộ dân trong bán kính 2 km cần mở cửa kính để bảo đảm không bị ảnh hưởng bởi sóng xung kích gây hư hỏng khi pháo lễ bắn đạn thật vào ngày sơ duyệt, tổng duyệt và thực hiện nhiệm vụ chính thức.

Các tổ chức, cá nhân không sử dụng âm thanh, đèn công suất lớn chiếu rọi vào khu vực trận địa pháo ở Bến Bạch Đằng khi Lữ đoàn pháo binh 96 thực hiện nhiệm vụ.

Thành phố cũng đề nghị hạn chế âm thanh lớn gây ảnh hưởng đến hoạt động huấn luyện, hợp luyện, sơ duyệt, tổng duyệt và thực hiện nhiệm vụ chính thức;
không tổ chức biểu diễn nghệ thuật, các sự kiện trong phạm vi bố trí trận địa pháo lễ từ 22h ngày 6/4 đến 22h ngày 30/4.

Ngoài ra, các sở Giao thông công chánh, Văn hóa và Thể thao tháo gỡ hệ thống dải phân cách, pano trang trí trên đường Tôn Đức Thắng từ trước cửa hàng RuNam đến mép trái khách sạn Majestic.

Trước đó, đêm 6/4, 15 khẩu đại bác được Lữ đoàn 96 kéo từ Đồng Nai về đặt ở công viên Bến Bạch Đằng, đối diện phố đi bộ Nguyễn Huệ, quận 1, phục vụ lễ kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước. Lực lượng tham gia đội pháo lễ có 203 người, lực lượng canh gác và lực lượng chỉ đạo có 15 người.

Các khẩu đại bác loại nòng 105 mm, nặng khoảng 4 tấn, xếp thành hàng dài, nòng pháo hướng về phía Khu đô thị mới Thủ Thiêm bên kia sông Sài Gòn. Sau khi lắp đặt, nhiều người dân, du khách đến khu vực này để ngắm các khẩu đại bác, xem các chiến sĩ luyện tập.

Theo kế hoạch, lễ kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước sẽ có hoạt động diễu binh, diễu hành với khoảng 13.000 người, bắn 21 phát đại bác trên nền Quốc thiều Việt Nam. Lực lượng không quân sẽ sử dụng các loại máy bay trực thăng, Yak-130, Su-30MK2, để bay chào mừng...

Theo Vnexpress

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công đoàn Sở GTVT TP.HCM posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Công đoàn Sở GTVT TP.HCM:

Share

Category