TIA CHỚP ĐÔNG DƯƠNG

TIA CHỚP ĐÔNG DƯƠNG Phát huy tập trung dân chủ
Chống tự chuyển hoá, tự diễn biến.

CHỐNG THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG PHÊ BÌNH TRONG SINH HOẠT ĐẢNGTrong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã chỉ ...
04/12/2022

CHỐNG THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG PHÊ BÌNH TRONG SINH HOẠT ĐẢNG
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết năm 1947, Bác Hồ đã chỉ ra cụ thể về mục đích, yêu cầu, nội dung, cách thức, phương pháp tự phê bình và phê bình.
Người chỉ rõ: “Mục đích phê bình c.ốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. C.ốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. C.ốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt…”. Hồ Chí Minh khẳng định: tự phê bình và phê bình là v.ũ kh.í sắc bén nhất làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh; là nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng; thực hiện tốt tự phê bình và phê bình Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công.
Hơn 92 năm qua, nhờ thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình Đảng Cộng sản Việt Nam đã sửa chữa kịp thời nhiều sai lầm, khuyết điểm, làm cho Đảng ngày càng lớn mạnh, vượt qua những khó khăn thử thách, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong các tổ chức đảng và đảng viên của Đảng, phần lớn đã nhận thức đúng, hiểu đúng và thực hành đúng theo nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Nhờ đó, đã chỉ ra cho nhau mặt ưu điểm để phát huy, những hạn chế khuyết điểm để khắc phục, sửa chữa.
Theo quy định của Đảng, kết thúc một năm hoạt động, các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng và đảng viên. Đối với đảng viên, tiến hành kiểm điểm từng người tại chi bộ và được các đảng viên khác tham gia phê bình, góp ý, đồng thời bình xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Cho nên, công tác góp ý phê bình trong kiểm điểm đảng viên vào dịp này là hết sức quan trọng, nhằm chỉ ra cho đồng chí mình những ưu điểm, thế mạnh để tiếp tục phát huy và phấn đấu, đồng thời chỉ ra những hạn chế, nhược điểm để khắc phục, sửa chữa, để cùng nhau tiến bộ, đoàn kết gắn bó với nhau hơn.
Thực tế hiện nay không ít cán bộ, đảng viên quan niệm phê bình là vạch cái sai của người khác, là đấu tranh không khoan nhượng với đồng chí mình, đó là quan niệm sai lầm. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình; là giúp đồng chí thấy các điểm mạnh để phát huy, thấy điểm yếu để sửa chữa và thấy trách nhiệm của mình hỗ trợ đồng chí quyết tâm sửa chữa. Nhưng trong thực tế một số người dùng th.ủ đ.oạn phản phê bình nhằm làm cho phê bình bị biến dạng, để phục vụ những m.ưu đồ cá nhân thể hiện ở 3 dạng sau:
Phê để mà phê, phê để làm phép, phê chung chung, phê mà như chẳng phê, phê chiếu lệ theo kiểu “phê bình một chiều”, nghĩa là chẳng trúng vào ai và tất nhiên “chẳng ch.ết ai”. Thực chất, đó là cách vô hiệu hóa phê bình rất tinh vi, vô trách nhiệm.
Phê để nịnh, phê để khen nhau và tâng bốc nhau, cố tình ph.óng đại, bơm thổi những cái hay, cái tốt ấy như kiểu “biến con kiến thành con voi”, cốt để phỉnh nịnh nhau, tâng bốc nhau, nhằm tạo ra cái gọi là uy tín của mình, củng cố cánh hẩu của mình. Thực chất đó là tước bỏ sức mạnh của v.ũ kh.í phê bình, như thế có thể được lòng một người nhưng ph.á t.an cả tổ chức.
Phê bình để h.ạ nh.ục, x.ỉ v.ả nhau, thậm chí là để v.u khống, dựng chuyện để b.ôi nhọ, l.oại tr.ừ đồng chí mình, đây là hành động thấp hèn, mỉa mai, bới móc, báo th.ù nhau. Như vậy sẽ mất tính Đảng, vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm nguyên tắc tự phê bình và phê bình, là xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác, như thế là vi phạm pháp luật. Đây còn là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị.
Để phê bình trong Đảng bảo đảm đúng tính chất, mục đích, phát huy tác dụng và đúng phương pháp, đòi hỏi mỗi tổ chức đảng và đảng viên phải nhận thức và có thái độ đúng đắn về phê bình trong sinh hoạt Đảng. Đối với mỗi tổ chức đảng cần có thái độ kiên quyết ch.ống lại những biểu hiện, những hành động làm biến dạng phê bình trong sinh hoạt Đảng. Đồng thời có biện pháp x.ử lý k.ỷ l.uật thích đáng đối với những đảng viên lợi dụng phê bình để phục vụ cho động cơ không trong sáng của cá nhân, làm cho đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh.

ĐƠN VỊ ĐẦU TIÊN BẮN RƠI MÁY BAY B-52Để góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, một trong những...
03/12/2022

ĐƠN VỊ ĐẦU TIÊN BẮN RƠI MÁY BAY B-52

Để góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, một trong những đơn vị luôn được nhắc tới là Trung đoàn 238, Sư đoàn 363 - đơn vị bắn rơi chiếc máy bay B-52 đầu tiên; tạo ra những kinh nghiệm quan trọng, làm cơ sở viết nên Cuốn sách đỏ “Cách đánh B-52” của Bộ đội tên lửa Phòng không Việt Nam.
Vào giữa năm 1965, lần đầu tiên giặc Mỹ cho B-52 ném bom hủy diệt một căn cứ hậu cần của ta ở Bến Cát rồi đánh rộng ra khắp miền Nam. 10 tháng sau, ngày 12-4-1966, B-52 Mỹ leo thang ra miền Bắc, ném bom đèo Mụ Giạ, miền Tây Quảng Bình. Tiếp theo là những đợt đánh phá liên tục xuống khu vực Vĩnh Linh, cực Nam Quân khu 4. Trước tình hình đó, Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Đặng Tính - Chính ủy Quân chủng PK-KQ: “Máy bay B-52 Mỹ đã ném bom miền Bắc, phải tìm ra cách đánh cho được B-52. Nhiệm vụ này Bác giao cho các chú PK-KQ”. Quán triệt sâu sắc chỉ thị của Người, tháng 4-1966, theo lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, Quân chủng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 238 vào chiến đấu ở chiến trường Khu 4, trên đất lửa Vĩnh Linh để thực hiện nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng là nghiên cứu cách đánh máy bay B-52. Đây là một nhiệm vụ vô cùng mới mẻ, nặng nề đối với Trung đoàn.
Ban Chỉ huy Trung đoàn quyết định đưa toàn bộ lực lượng của các tiểu đoàn 82, 84, 85, trung đoàn bộ cùng lực lượng pháo phòng không vào Vĩnh Linh. Ban Chỉ huy Trung đoàn quyết định bố trí Tiểu đoàn 84 ở khu Tây Vĩnh Linh để đánh B-52 trước. Tiểu đoàn 82 ở khu Đông chuẩn bị thật tốt tạo thế bất ngờ đánh B-52 sau khi Tiểu đoàn 84 đã đánh ở khu Tây. Sau khi họp bàn, nghiên cứu, phân tích, lãnh đạo và chỉ huy Trung đoàn nhất trí chủ trương dồn ghép toàn bộ lực lượng và trang bị tốt của Trung đoàn cho một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 84), quyết đánh bằng được máy bay B-52; tăng cường huấn luyện kíp chiến đấu đánh B-52.
13 giờ ngày 17-9-1967, Tiểu đoàn 84 vào cấp 1; 17 giờ 3 phút, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đình Phiên, kíp chiến đấu Tiểu đoàn 84 gồm sĩ quan điều khiển Lê Hỷ cùng ba trắc thủ Phạm Văn Ngoạn, Trần Hồng Thính và Nguyễn Văn Ngận đã phóng 2 đạn tiêu diệt chiếc B-52 đầu tiên tại Vĩnh Linh. 17 giờ 34 phút, tốp B-52 tiếp theo bay vào, chỉ còn một quả đạn, Tiểu đoàn vẫn quyết đánh và bắn rơi thêm 1 chiếc B-52. Mặt trận thông báo: 2 chiếc B-52 bị diệt. Đây là chiến công đầu tiên bắn rơi B-52 của Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam.
Sau khi nghe báo cáo kết quả bắn rơi B-52, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen đồng bào, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân và cán bộ Vĩnh Linh: “Bác rất vui lòng được tin ngày 17-9-1967, Vĩnh Linh đã lập công xuất sắc, lần đầu tiên bắn rơi 2 máy bay B-52 của giặc Mỹ. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đặc biệt gửi lời khen đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Vĩnh Linh đã đánh giỏi, bắn trúng, chiến thắng vẻ vang, Vĩnh Linh thật xứng đáng là tiền tuyến anh hùng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho Tiểu đoàn 84.
Tiếp đó, ngày 20-10-1967, Tiểu đoàn 82 bằng 3 quả đạn đã bắn rơi 2 máy bay B-52 và ngày 29-10-1967, Tiểu đoàn 84 lại lập công xuất sắc, bằng 2 quả đạn tiêu diệt 1 máy bay B-52. Tiểu đoàn 82 đã được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai và Quân khu 4 tặng Tiểu đoàn lá cờ mang dòng chữ “Đánh mạnh thắng to” cùng 1 đài bán dẫn.
Hòa nhịp với tiếng súng tiến công và nổi dậy của đồng bào, chiến sĩ Miền Nam anh hùng, ngày 11-1-1968, Tiểu đoàn 82 lại bắn rơi 1 máy bay B-52. Đây là chiếc máy bay B-52 thứ 6 bị Trung đoàn bắn rơi trên đất lửa Vĩnh Linh anh hùng.
Trải qua bao gian nan, thử thách, ác liệt, phải hi sinh cả xương máu (từ giữa năm 1966 đến đầu năm 1968) Trung đoàn 238 đã hành quân tới đất lửa Vĩnh Linh, bám trụ kiên cường, anh dũng đánh thắng nhiều đối tượng, từ máy bay cường kích đến máy bay ném bom chiến lược B-52 của giặc Mỹ. Chiến công của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 238 có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu đánh một đối tượng tác chiến mới, bước đầu rút kinh nghiệm, nghiên cứu tìm ra cách đánh B-52 cho các đơn vị sau này tham gia Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội tháng 12-1972, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng làm nên một “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, tạo bước ngoặt quyết định thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam. Với những thành tích vẻ vang, những cống hiến và hy sinh to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 15-1-1976 Trung đoàn đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.
Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn không ngừng phấn đấu, rèn luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu và SSCĐ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, Trung đoàn vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu” là lá cờ đầu trong Phong trào Thi đua quyết thắng của Sư đoàn 363 và Quân chủng PK-KQ. Với thành tích đó, ngày 13-12-2013, Trung đoàn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân” thời kỳ đổi mới.
ÁNH TUYẾT (Theo Lịch sử Trung đoàn 238)

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong tình hình mớiHiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ m...
28/11/2022

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong tình hình mới

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

BÁO NHÂN DÂN

💥Đảng luôn trân trọng tâm huyết của mỗi người dân yêu nước!💥Khi Quang Nguyên viết “Còn độc đảng CS cai trị, VN không thể...
28/11/2022

💥Đảng luôn trân trọng tâm huyết của mỗi người dân yêu nước!💥

Khi Quang Nguyên viết “Còn độc đảng CS cai trị, VN không thể thu hút nhân tài” đăng trên vietnamthoibao.org ngày 12/11/2022, thì cũng đồng nghĩa rằng Quang Nguyên đã lấy “bụng tiểu nhân để đo lòng quân tử” mất rồi. Sự thật là, đâu cứ phải ở các quốc gia có một Đảng cầm quyền là quốc gia đó không thể thu hút được nhân tài, mà Singapore và một số nước “tư bản tự do phương Tây cũng vậy” chính là ví dụ. Thực ra, một mặt thừa nhận điều này, mặt khác Quang Nguyên lại quy chụp rằng “nhưng đó không phải đảng CS với những tệ hại của chủ thuyến Mác-Lê” và chiêu trò của Quang Nguyên chính là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, trọng dụng hiền tài/nhân tài luôn được thực thi vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của người dân

Nhắc lại để Quang Nguyên hiểu là, suốt chiều dài lịch sử dân tộc, việc tìm kiếm và trọng dụng người tài phục vụ đất nước luôn được chú trọng. Quan điểm: “Muốn thịnh trị tất phải được người hiền, được người hiền phải do ở tiến cử. Cho nên, người làm vua phải lấy việc ấy làm đầu”[1] đã được ghi trong Chiếu cầu hiền năm 1429 của Lê Lợi và “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cũng được Thân Nhân Trung soạn năm 1484, ghi trên văn bia tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội…

Vì thế, kế tục truyền thống của cha ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi chuẩn bị mọi mặt để sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như trong những năm sau này khi Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước đều đặc biệt chăm lo việc gây dựng và tiến cử người hiền tài, quý trọng và trọng dụng nhân tài ở cả trong Đảng và ngoài Đảng. Đúng như Người nhấn mạnh, đối với “rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”[2].

Thực tế cho thấy, những trí thức tài năng lớn như Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Nguyễn Khắc Viện, Tạ Quang Bửu, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phan Anh, Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum… đều hết lòng phục vụ Tổ quốc và nhân dân dù gặp không ít khó khăn, thách thức; đồng thời, cũng có không ít người trong số đó đã phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hơn 77 năm sau kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, có thể khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ/chưa khi nào không tôn trọng và trọng dụng nhân tài để phục vụ sự nghiệp xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; đồng thời đất nước Việt Nam cũng không thiếu người tài giỏi đang phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Cho nên, việc Quang Nguyên cho rằng “cái gọi là chiến lược thu hút nhân tài đang được ĐCSVN nghiên cứu và sẽ đưa ra vào lúc nào đó hẳn là hệ quả từ sự thiếu vắng người tài giỏi trong bộ máy Đảng và chính quyền” chỉ là sự suy diễn thiển cận của cá nhân.

Đặc biệt, chả có luận cứ nào để Quang Nguyên xuyên tạc rằng, môi trường hiện nay ở Việt Nam do Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo cả hệ thống chính trị không phải là mảnh đất tốt để dung dưỡng người tài phục vụ đất nước, vì “nhiều nguyên nhân, mà chính là Đảng và chính quyền không phải môi trường có thể dung nạp người tài”. Hơn nữa, chính sách thu hút, trọng dụng người hiền tài của Đảng và Nhà nước cũng không hề mâu thuẫn với yêu cầu về tiêu chuẩn đức- tài của người cán bộ, đảng viên, bởi nhân tài không thể là người không có đạo đức/đức độ, bị khiếm khuyết về đạo đức. Nhân tài là người tài đức vẹn toàn và nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là những người “vừa hồng vừa chuyên” và chắc chắn Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi càng là người tài đức vẹn toàn, chỉ có điều Nguyễn Trãi sống ở thế kỷ XV, chứ không phải là thời hiện đại.

Nên là, sự suy diễn của Quang Nguyên khi cho rằng “người tài còn bị đòi hỏi phải đạt được tiêu chuẩn hồng-trước, chuyên-sau thì cũng khó tìm, và nếu cố tìm và chấp nhận một vài người chỉ chuyên mà không cần hồng, thì những người đó không thể nào không bị tổ chức Đảng bên cạnh, bên trên để ý, nghi ngờ, kiểm soát tư tưởng, hành động” chính là cố tình bẻ cong tiêu chuẩn đức và tài của người cán bộ cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và nhân đó, suy diễn để xuyên tạc chính sách trọng dụng hiền tài của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thực chất, luận điệu của Quang Nguyên khi luyến láy vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam chọn người tài theo tiêu chuẩn “vừa hồng vừa chuyên”/“vừa phải trung thành với Đảng vừa phải giỏi chuyên môn” về bản chất là chỉ muốn tung hô yếu tố “tài” mà bỏ qua/phủ nhận yếu tố “đức. Ẩn giấu sau việc luận bàn về thu hút nhân tài của Quang Nguyên chính là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, là đòi thực hiện đa nguyên và tự do dân chủ theo phương Tây.

Thứ hai, không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như các quyết sách về bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực để xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước

Nực cười về những luận điệu phản động, theo đuôi các thế lực thù địch của Quang Nguyên khi cho rằng “chủ thuyết cộng sản đã cho thấy những bất cập, lỗi thời đang trên đà phá sản”. Vì rằng, thực tế là dù đâu đó trong hệ thống chính trị vẫn còn hiện tượng “chán đảng, nhạt đoàn”, vẫn còn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, song như vậy không đồng nghĩa với việc “người tài hẳn là người nhìn xa trông rộng lẽ nào không biết chán ngán vũng lầy của đảng?”

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam; đã đưa nhân dân Việt Nam từ bùn đen nô lệ thành chủ nhân một nước có chủ quyền; đưa đất nước bị thống trị bởi ngoại bang thành một quốc gia độc lập, tự do và đang vững bước trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Hơn 77 xây dưng, bảo vệ và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam đã đổi thay ngoạn mục về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ một đất nước hoang tàn, kiệt quệ dưới ánh thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật; tan hoang sau 30 năm chiến tranh đã không chỉ hồi sinh, mà còn ngày càng phát triển thì “sau khi chiếm được miền Nam với cơ sở vật chất lúc đó mà Singapore, Hàn Quốc thèm thuồng thì Đảng CSVN phá nát tất cả, tiếp theo là ì ạch kéo đất nước dậm chân tại chỗ? Thể chế cộng sản đã níu kéo tiến bộ của dân tộc” ở chỗ nào, khi nào hả Quang Nguyên?.

Còn việc những người đã từng vượt biên sau năm 1975 (vì lý do mưu sinh, không chấp nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn sống theo chế độ dân chủ tư sản phương Tây, nuôi ảo vọng về chế độ Việt Nam cộng hòa…), từ bỏ quê hương, đất nước để tìm hạnh phúc nơi xa xôi chắc chắn không phải là do bị Việt Nam bạc đãi; đồng thời cũng không phải là do “Đảng Cộng Sản còn khư khư giữ cách đối đãi với người tài tệ hại”, mà chính là họ muốn tìm đến với lối sống và thể chế chính trị họ muốn. Không thể chỉ vì những người muốn và đã vượt biên, sống cuộc sống tị nạn ở một quốc gia nào đó mà đổ lỗi cho Đảng, cho chính sách trọng dụng hiền tài của quốc gia, cũng như không thể suy diễn không căn cứ rằng, “tại VN, một kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ ra trường, giỏi, dở không biết, nếu không có người đỡ đầu, không có tiền, và nhất là không “hồng” khó lọt vào Đảng, chính phủ” và “trung thành với Đảng có lẽ chỉ tốt với Đảng mà không thích hợp với quyền lợi dân tộc; không làm dân tộc, quốc gia tiến bộ”.

Thực sự, người tài nếu tâm huyết với sự nghiệp xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước đều có thể đóng góp sức mình, dù sinh sống ở Việt Nam hay ở nước ngoài. Bao năm qua, đã có biết bao nhân tài góp sức, hiến kế, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, dù không phải là đảng viên Đảng Cộng sản. Nên nhắc lại để Quang Nguyên thấy là, bất cứ ai, dù chưa hẳn là một nhân tài, nếu yêu nước chân chính, tâm huyết với sự phát triển bền vững, phồn vinh, hạnh phúc của quốc gia đều có thể đóng góp tinh thần, trí tuệ, vật chất cho quê hương, đất nước. Máu chảy về tim, có tài và có đức thì ắt sẽ được Đảng và Nhà nước trọng dụng nhé Quang Nguyên!

Trần Diên Khánh

[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006, t. II, tr. 98

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.315-316

ĐƯA HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH VÀ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀO CUỘC S...
28/11/2022

ĐƯA HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH VÀ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀO CUỘC SỐNG

🌿🌿🌿

Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người là những vấn đề rất hệ trọng mà quốc gia nào cũng quan tâm xây dựng. Ở nước ta, sinh thời Bác Hồ cũng đã rất quan tâm, chú trọng đến vấn đề này. Các văn kiện đại hội, nghị quyết của Đảng… cũng đã đề cập đến. Đặc biệt, tại Đại hội VIII, X, XI, XII, tùy từng thời kỳ, Đảng đã chỉ ra khá rõ về hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam.

Tuy nhiên, đến Nghị quyết Đại hội XIII, những vấn đề này đã được đề cập ở tầm nhận thức mới. Nghị quyết Đại hội XIII xác định, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới là vấn đề tất yếu để bảo đảm sự đoàn kết, đồng thuận của dân tộc, của đất nước trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững, đồng thời là nhu cầu khách quan trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh''. Đại hội XIII cũng đã định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người đặt lên hàng đầu là xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị con người gắn với việc phát huy, gìn giữ giá trị gia đình; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cơ bản trong phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới.

🌿 Trước hết, nói về hệ giá trị quốc gia, nói một cách nôm na là phản ánh khát vọng cốt lõi của một dân tộc và cũng là cái đích để phấn đấu của mỗi một quốc gia. Ở đây có sự tích hợp những tư tưởng của Hồ Chí Minh, những tư tưởng trong Nghị quyết của Đảng, yêu cầu đời sống để bước đầu có thể nói lên những giá trị đời sống như là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Đó là những giá trị cơ bản khi ta bàn về giá trị Quốc gia. Vì vậy, có thể xác định hệ giá trị quốc gia là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

🌿 Còn về giá trị văn hóa, Nghị quyết Trung ương 5, Nghị quyết Trung ương 9 cũng đã đề cập, khái quát những nét cơ bản nhất các giá trị của một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang phấn đấu xây dựng. Đó là những giá trị dân tộc, nhân văn, hiện đại và khoa học. Đây là những giá trị rất cơ bản để tạo nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thấm đẫm tính nhân văn, nền văn hóa truyền thống nhưng hiện đại, nền văn hóa ấy kết tinh những giá trị của một khoa học đó chính là những giá trị cơ bản nhất của văn hóa.

🌿 Nói về gia đình, Hội Liên hiệp Phụ nữ trong nhiều nhiệm kỳ cũng đã cân nhắc, đưa thành phương châm, phấn đấu để xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Phải chăng đây cũng chính là những giá trị cốt lõi của gia đình Việt Nam hiện đại.

🌿 Nói về giá trị con người thời kỳ mới có sự kết hợp những giá trị truyền thống được đúc kết từ ngàn xưa, đó là: yêu nước, đoàn kết, tự cường, nhân nghĩa; kết hợp với những giá trị mới hình thành trong quá trình phát triển đất nước, trong quá trình đổi mới và hội nhập như là: trách nhiệm, trung thực, kỷ cương, năng động, sáng tạo và hội nhập. Như vậy, giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới vừa có những giá trị truyền thống và những giá trị mới đang hình thành từng bước trong đời sống. Đây là những chấm phá đầu tiên nhưng cũng rất là cơ bản về 4 hệ giá trị.

4 hệ giá trị này mang tính chính trị, xã hội, được thể nghiệm để đưa vào đời sống. Nếu hệ giá trị này tiếp cận từ góc độ hàn lâm thì nó có những giá trị khác là cơ sở rõ hơn giá trị sẽ đưa vào ứng dụng trong đời sống thực tiễn.

4 hệ giá trị này có mối quan hệ biện chứng. Hệ giá trị này tương tác với hệ giá trị kia trong mối quan hệ nhân quả. Giá trị này vừa là nhân của giá trị kia vừa là kết quả tác động của giá trị kia, người ta gọi đây là mối quan hệ rất khăng khít và biện chứng.

Về mặt tổng thể có thể xác định: Hệ giá trị quốc gia là sự tích hợp các giá trị văn hóa, gia đình, con người tạo thành một hệ giá trị mang tính chất nền tảng cơ sở. Còn hệ giá trị văn hóa là tổng hòa các giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc, nó là bộ phận nòng cốt trong giá trị quốc gia và nó chính là nhân tố bồi đắp, bồi dưỡng để phát triển văn hóa giá đình và giá trị của con người Việt Nam. Còn giá trị gia đình Việt Nam là sự tích hợp các giá trị của cộng đồng, thành viên trong một tổ ấm gia đình, nó có sự tác động, bồi đắp của văn hóa, nó có những giá trị của quốc gia và nó chính là những giá trị trực tiếp tạo môi trường để nuôi dưỡng những chuẩn mực giá trị của con người Việt Nam. Giá trị con người Việt Nam như là kết quả tổng hợp của 3 hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và đồng thời con người với tư cách là chủ thể nó chính là tạo ra 3 giá trị này.

Mối quan hệ trong 4 hệ giá trị vô cùng mật thiết, trong cái nọ có cái kia, cái này chế định và tác động tích cực đến cái kia. Chính vì vậy, Đại hội XIII đã xác định chúng ta phải xây dựng đồng thời cả 4 hệ giá trị này là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để chấn hưng văn hóa, tạo động lực và nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, mạnh và bền vững.

Để xây dựng cho được những hệ giá trị này cần phải triển khai một cách đồng bộ các giải pháp, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Trong đó, có những việc cần quan tâm là tiếp tục làm tốt hơn và kiên trì hơn, liên tục, thường xuyên hơn như công tác tuyên truyền để giúp cho nhân dân, giúp cho cán bộ đảng viên có thể nhận thức được đầy đủ và sâu sắc tầm quan trọng đặc biệt, sự cần thiết của vấn đề xây dựng và thực hiện các hệ giá trị này.

Chúng ta phải tuyên truyền đầy đủ, hệ thống, sâu sắc từ trường học, trong cộng đồng xã hội, hệ thống các cơ quan thông tin, báo đài văn hóa, văn nghệ… Phải coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm phải làm, phải thay đổi cho bằng được nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân.

Trên cơ sở những việc phải làm, chúng ta phải cụ thể hóa nó thành các tiêu chí, các chuẩn mực cụ thể, phù hợp với từng địa bàn, từng đối tượng. Hệ giá trị quốc gia là chung nhất, hệ giá trị văn hóa chung của Việt Nam gồm văn hóa các dân tộc, văn hóa vùng miền… phải cụ thể hóa cho từng đối tượng, từng dân tộc… Giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới cũng có những nét chung nhưng có những nét riêng. Văn hóa miền xuôi, miền ngược, gia đình công nhân, nông dân, trí thức… là khác nhau, vì vậy phải cụ thể hóa nó dễ nhớ, dễ hiểu, thiết thực để đưa vào văn kiện và biến nó trở thành những điều tự nhiên trong cuộc sống.

Bàn về những hệ giá trị này thực chất là ta bàn về giá trị văn hóa nhưng nó không được thoát ly với giá trị vật chất. Bởi muốn chăm lo cho gia đình về mặt văn hóa thì phải phải chăm lo về đời sống. Con người có điều kiện để phát triển toàn diện, hạnh phúc, văn minh trước tiên phải ấm no. Chính vì vậy, việc chăm lo đến đời sống vật chất, những lợi ích chính đáng và hợp pháp của con người cũng chính là những yếu tố quan trọng để hiện thực hóa những giá trị này trong cuộc sống. Không thể nói văn hóa siêu hình, văn hóa chung chung, văn hóa, đời sống phải đi đôi với nhau. Chúng ta không chờ đời sống đi lên mới làm văn hóa, đời sống văn hóa không thể thiếu sự hỗ trợ, sự tương tác của đời sống vật chất, đó là tư duy biện chứng.

Cuối cùng, để đưa những hệ giá trị này vào cuộc sống, cần phải xác định trách nhiệm của hệ thống chính trị, các cấp ủy đảng phải thực sự quan tâm, coi đây như là nhiệm vụ chính trị của mình. Các cấp chính quyền phải ban hành các kế hoạch, các chương trình, các quy định, quy chế và tạo các điều kiện để thực hiện. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội phải thật sự quan tâm, vận động, tuyên truyền, thuyết phục, kiểm tra đôn đốc và xuyên suốt là phải đề cao vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu. Người đứng đầu phải coi trọng văn hóa, quan tâm, yêu quý văn hóa, người đứng đầu phải coi trọng gia đình, coi trọng con người thì mới có tác động lan tỏa thực sự. Thế nên xây dựng các giá trị này đòi hỏi một hệ thống các giải pháp đồng bộ; sự phấn đấu của cả hệ thống chính trị và phải làm kiên trì, thường xuyên, liên tục. Nếu làm theo phong trào kiểu “đầu voi, đuôi chuột” thì không có tác dụng. Phải kiên trì làm từng bước vững chắc, làm đến đâu chắc đến đấy, làm đến đâu hiệu quả đến đấy thì trong vòng 5 - 10 năm, có thể chúng ta định hình được những hệ giá trị quan trọng này trong cuộc sống.

Theo ĐCSVN

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TIA CHỚP ĐÔNG DƯƠNG posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share