Gosinga

Gosinga Gosinga tổ chức các khóa Thiền Tứ Niệm Xứ online và offline trên toàn quốc.
Đăng ký: gosinga.vn
(1)

Gosinga là một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận được thành lập từ năm 2019 với sứ mệnh trang bị cho người học phương pháp quan sát sự thật, nhằm thay đổi hiểu biết của người học từ hiểu biết không đúng sự thật sang hiểu biết đúng sự thật. Hướng dẫn người học rèn luyện kỹ năng Chú tâm liên tục, kỹ năng Sống thích nghi, kỹ năng Chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây. Phương pháp thực hành được hướng dẫn một cách chi tiết cụ thể để giúp học viên từng bước hình thành lối sống thích nghi với mọi hoàn cảnh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống nội tâm theo hướng tích cực, nâng cao năng suất lao động và khả năng học tập hiệu quả.

27/09/2026

Pháp đàm khóa thiền 1 & 2 ngày

26/09/2026

⭐️Thông báo: Từ giờ đến cuối năm, Gosinga sẽ tổ chức nhiều hơn các khóa 2-4-9 ngày trên toàn quốc, phù hợp với người mới học thiền

24/09/2026

📣Lên lịch học Thiền cuối tuần này ở:
Chùa Tứ Kỳ, chùa Pháp Vân, 519 Kim Mã - Hà Nội
Chùa Ruỗi Hải Phòng, núi Hạm Quảng Ninh👇

Hy Vọng theo nghĩa Phật Học: Con Đường Thoát Khổ Hay Ảo Tưởng? 1. Hy vọng – động lực sống phổ quát của nhân loại Đã là c...
23/09/2026

Hy Vọng theo nghĩa Phật Học: Con Đường Thoát Khổ Hay Ảo Tưởng?

1. Hy vọng – động lực sống phổ quát của nhân loại
Đã là con người thì sống bởi hy vọng. Hy vọng một ngày mai tốt lành, hy vọng một tương lai tươi sáng, hy vọng có được niềm vui, hạnh phúc ở tương lai, hy vọng chấm dứt mọi nỗi khổ trong tương lai. Già trẻ, gái trai, giàu nghèo ngu trí đều sống với hy vọng.

Có một cuốn sách mang tựa đề “Những kẻ lữ hành trên đường hy vọng” đã nói lên thực trạng của đời sống nhân loại. Đó là những kẻ lữ hành đang nỗ lực đi trong gian khổ, đói khát, sức cùng lực kiệt với nóng bức, mưa gió bão bùng, những sa mạc khô cằn hay miền đất đầy thú dữ đe dọa... với hy vọng cháy bỏng, phía trước mặt là miền đất hứa đầy sữa và mật ong.

Chính niềm hy vọng về tương lai giúp cho con người vượt qua mọi nỗi gian truân cay đắng của cuộc đời để tiếp tục sống, chịu đựng được mọi cay đắng của cuộc đời.

2. Khi hy vọng tương lai chấm dứt
Điều gì sẽ xảy ra khi một người chấm dứt mọi hy vọng tương lai? Sẽ xảy ra một trong hai trường hợp sau:

🔸 Con đường thứ nhất: T.ự s.át khi không còn lối thoát
- Khổ hiện tại lộ nguyên hình khi không còn hy vọng
Người đó sẽ t.ự s.át khi không còn bất cứ một hy vọng nào ở tương lai, khi mọi lối thoát ở tương lai đã bị bít chặt và lúc đó cái đau khổ trong hiện tại mới HIỆN RA NGUYÊN HÌNH không thể nào chịu đựng nổi.

Có một thống kê không biết chính xác đến mức độ nào đã chỉ ra: Ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 10 nghìn người c.hết vì tai nạn giao thông, 120 nghìn người c.hết vì ung thư nhưng có đến 40 ngàn người t.ự t.ử vì trầm cảm.

- Hy vọng tương lai là một ảo tưởng
Những người bị trầ.m cả.m luôn nghĩ đến cái ch.ết để chấm dứt nỗi khổ đang trải qua trong hiện tại khi không còn một hy vọng, một lối thoát trong tương lai.

Rất nhiều người nổi tiếng, thiên tài, các nhà triết học, nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ được cho là vĩ nhân đã tự sát vì họ đã phần nào thấy ra sự thật, HY VỌNG THOÁT KHỔ TRONG TƯƠNG LAI thì giống như một chú lừa kéo một cỗ xe nặng nề cố sức chạy nhanh lên với hy vọng được ăn bó cỏ non gắn vào càng xe cách mỏm nó có một gang tay.

Chính vì thấy ra cái sự thật CHẤM DỨT KHỔ Ở TƯƠNG LAI LÀ ẢO TƯỞNG và không có duyên để học hỏi nên không biết CÒN CÓ MỘT CÁCH THỨC CHẤM DỨT KHỔ TRONG HIỆN TẠI, nên vì không có lối thoát, họ đã kết liễu cuộc đời mình.

🔸 Con đường thứ hai: Giác ngộ và đoạn tận khổ
Người đó giác ngộ, trở thành một bậc A La Hán. Đó là những người đã đi đến đích hết khổ, đã ĐOẠN TẬN KHỔ.

Vì vậy, họ không còn hy vọng thoát khổ ở tương lai, họ không còn tham ái Hạnh phúc nên không còn ước vọng bất cứ một niềm vui, hạnh phúc tương lai nào nữa.

Họ đã đoạn tận hy vọng và sống như bài kệ kinh Nhất dạ hiền giả đã mô tả:
“Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ thì đã qua
Tương lai thì chưa tới
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây
Không động không rung chuyển.”

3. Hy vọng của bậc hữu học và con đường tu tập
Nhưng đối với vị hữu học chưa đạt được “Vô thượng an ổn thoát khỏi các khổ ách” thì vị đó vẫn còn phải nuôi dưỡng hy vọng.
Hy vọng đương nhiên do Tham ái khởi lên nhưng vị hữu học có Văn Tuệ và Tư Tuệ biết rõ Nguyên nhân Khổ là Tham ái Dục lạc (Dục ái), Tham ái Hiện hữu (Hữu ái), Tham ái Hiện hữu không có thân xác (Phi Hữu ái) nên vị đó có tham muốn chấm dứt Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái để đạt được Chấm Dứt Khổ trong tương lai nhờ tu tập Bát Chánh Đạo.

4. Tứ Như Ý Túc và sự đoạn tận mọi hy vọng
Hy vọng này khởi lên sẽ NHIẾP PHỤC hy vọng về niềm vui, hạnh phúc tương lai do Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái khởi lên. Hy vọng này mới phát sinh Tinh Tấn để tu tập Bát Chánh Đạo siêu thế.

Hy vọng này do tham muốn tu tập Bát Chánh Đạo siêu thế cần phải được nuôi dưỡng đầy đủ, như ý cho đến mức độ nó nhiếp phục mọi hy vọng khác của con người và đó chính là Dục như ý túc.

Do có Dục như ý túc là nhân sẽ phát sinh Tinh Tấn như ý túc để tu tập Bát Chánh Đạo. Có được hai yếu tố Dục như ý túc và Tinh Tấn như ý túc do Văn Tuệ và Tư Tuệ khởi lên thuộc Bát Chánh Đạo hiệp thế sẽ phát sinh tu tập Bát Chánh Đạo siêu thế với Định như ý túc và Tuệ như ý túc.

Khi Tứ Như Ý Túc gồm Dục như ý túc, Tinh Tấn như ý túc, Định như ý túc, Tuệ như ý túc được tu tập, được làm cho VIÊN MÃN thì lúc đó đạo quả A La Hán xảy ra, và lúc đó MỌI HY VỌNG ĐƯỢC ĐOẠN TẬN.

🟡Lễ Trung thu sắp đến cận kề. Trong những ngày này, con người hay nói với nhau về "Lễ đoàn viên", xum họp gia đình, mượn...
22/09/2026

🟡Lễ Trung thu sắp đến cận kề. Trong những ngày này, con người hay nói với nhau về "Lễ đoàn viên", xum họp gia đình, mượn hình ảnh trăng rằm tượng trưng cho sự đủ đầy, sung túc.

🔸Nhưng ở 1 khía cạnh khác, khi đã học giáo pháp Đức Phật, cũng xin mượn hình ảnh "trăng" để nhắc nhớ lại kiến thức mà Thiền Sư Nguyên Tuệ đã ẩn dụ cho Vô Minh (hiểu biết không đúng sự thật về thực tại) và Minh (hiểu biết đúng sự thật về thực tại):

"Quý vị hình dung ra: trong một đêm trăng sáng có một cái hồ rất rộng nhưng sâu khoảng một mét thôi, trong đêm lặng gió trăng sáng vằng vặc.

Ví như có hai người đi đến hồ đó. Và khi mắt họ tiếp xúc với hồ nước phát sinh Cảm giác hình ảnh, đồng thời Nhãn thức khởi lên đều thấy đối tượng ở dưới nước nhưng hiểu biết về đối tượng được thấy đó của hai người là khác nhau.

- Người thứ nhất, sau khi thấy đối tượng, Nhãn thức thấy đối tượng nhưng đương nhiên Nhãn thức không biết đó là cái gì. Sau khi thấy rồi, cái biết của người thứ nhất khởi lên, biết: đối tượng được thấy đó là trăng vật chất nằm dưới đáy hồ kia. Nó to bằng cái đĩa, chắc chắn nó cũng nặng như cái đĩa thôi nhưng nó rất sáng, rất đẹp. Nhưng trăng đó không hiểu tại sao lại rơi xuống dưới đáy hồ, nó sáng chói như vậy. Bây giờ mình có thể nhảy xuống hồ, lặn xuống đó vớt trăng lên, mình được trăng, mình làm chủ nó, mình sở hữu nó, mình đưa về treo lên nhà. Mình điều khiển nó, làm cho ánh trăng sáng soi căn nhà của mình suốt ngày suốt đêm, mình không bao giờ bị tối tăm nữa.

Và do hiểu biết về đối tượng được thấy như vậy cho nên người đó nhảy ùm xuống hồ, lặn ngụp để lấy trăng bằng cái đĩa dưới đáy hồ đó. Nhưng do hiểu biết sai lạc của người đó về đối tượng được thấy cho nên người đó lặn ngụp một cách mệt nhọc, vô ích, không bao giờ lấy được trăng đó lên. Vì sao? Vì hiểu biết của người đó là sai lạc, là Vô Minh, là tà kiến.

- Còn người thứ hai, người đó cũng thấy đối tượng dưới nước, nhưng người đó hiểu biết đúng sự thật đối tượng được thấy đó là bóng trăng dưới nước. Mà đã là bóng trăng dưới nước thì không thể nào lấy được nó, không thể nào làm chủ được nó, không thể nào sở hữu, không thể nào điều khiển được nó. Và do người đó hiểu biết như vậy, người đó vẫn ngắm nhìn vẻ đẹp của đối tượng đó nhưng không còn lao tâm khổ trí lặn hụp để lấy bóng trăng dưới nước lên, người đó không đau khổ vì việc đó. Người đó cũng biết trăng thật, trăng vật chất ở trên trời nhưng cũng không thể nào bắc thang lên đó để lấy được nó. Vì người này hiểu biết đúng sự thật về đối tượng cho nên người này không còn đau khổ vì nó nữa.

Cũng y như vậy, khi một người thấy nghe cảm nhận các đối tượng thực tại này nhưng hiểu biết sai, nó vốn là cảm thọ nhưng lại cho rằng nó là thế giới vật chất, có thể làm chủ, có thể sở hữu, có thể điều khiển được nó, cho nên họ mới có tham sân si với đối tượng, mới có sầu bi khổ ưu não với đối tượng.

Còn người vẫn thấy nghe cảm nhận các đối tượng thực tại nhưng hiểu biết đúng sự thật nó là các cảm thọ, nó là tâm chứ không phải thế giới vật chất, nó vô thường, nó vô chủ vô sở hữu thì lúc đó người đó không còn tham sân si với đối tượng, không còn khổ vui với đối tượng nữa."
__________
Hình ảnh "Bóng trăng dưới nước" là một bài giảng ẩn dụ kinh điển do Thiền sư Nguyên Tuệ truyền giảng, nhằm giúp thiền sinh bóc tách sự khác biệt cốt tủy giữa Vô Minh (Tà kiến) và Minh (Chánh kiến) trên lộ trình tâm.

📍Người thứ nhất: Lộ trình Vô Minh - Biết sai sự thật
- Nhận thức sai lầm: Sau khi thấy đối tượng dưới nước, cái Biết Ý thức Tà kiến của người thứ nhất khởi lên và kết luận rằng: Đó là một mặt trăng bằng vật chất thật rơi xuống đáy hồ, rất sáng và đẹp.

- Tư tưởng chiếm hữu và mong cầu: Từ nhận thức sai lạc đó, người này nảy sinh tư tưởng làm chủ và sở hữu: muốn nhảy xuống hồ, lặn vớt trăng lên, mang về nhà treo lên để chiếu sáng căn nhà suốt ngày đêm, không bao giờ bị tối tăm nữa.

- Hệ quả đau khổ: Người đó nhảy ùm xuống hồ, lặn ngụp mệt mỏi và vô ích vì không bao giờ có thể vớt được mặt trăng vật chất dưới đáy hồ. Sự nhọc nhằn, bất lực và đau khổ đó xuất phát hoàn toàn từ sự hiểu biết sai lạc (Vô minh, tà kiến).

👉 Ý nghĩa thực tại: Đây là đại diện cho người sống trên lộ trình Bát Tà Đạo. Thực tại mà con người cảm nhận hằng ngày vốn chỉ là các Cảm thọ (cảm giác/tâm) do Căn - Trần tiếp xúc phát sinh. Nhưng do Vô minh, con người lại ảo tưởng cho rằng thực tại là thế giới vật chất bên ngoài có sẵn (danh lợi, tài sản, tình cảm, niềm vui thế gian) và có thể chiếm hữu, làm chủ, điều khiển theo ý mình. Việc mải mê đuổi bắt "hạnh phúc vật chất" thế gian cũng giống như lặn ngụp vớt bóng trăng dưới đáy hồ, chỉ đem lại sự tham-sân-si, mệt mỏi và sầu bi khổ ưu não.

📍Người thứ hai: Lộ trình Minh - Hiểu biết đúng sự thật
- Nhận thức đúng sự thật: Người thứ hai cũng nhìn thấy đối tượng dưới nước, nhưng cái Biết Ý thức Chánh kiến khởi lên biết đúng sự thật: Đây chỉ là bóng trăng dưới nước.

- Thái độ buông xả, không dính mắc: Vì biết rõ là bóng trăng (cảm giác hình ảnh phát sinh do duyên Căn - Trần tương tác), người này hiểu rằng bóng trăng có tự tánh vô thường, vô chủ vô sở hữu (vô ngã), hoàn toàn không thể vớt lên, không thể làm chủ hay sở hữu.

- Hệ quả giải thoát: Người đó vẫn ngắm nhìn, thưởng thức vẻ đẹp của bóng trăng dưới hồ, nhưng hoàn toàn không lao tâm khổ trí lặn ngụp vớt trăng. Tâm người này hoàn toàn bình thản và không có đau khổ.

👉 Ý nghĩa thực tại: Đây là đại diện cho người thực hành lộ trình Bát Chánh Đạo. Họ vẫn thấy, nghe, cảm nhận các đối tượng thực tại trong cuộc sống, nhưng Chánh tri kiến nhận biết rõ ràng các đối tượng đó chỉ là Cảm thọ (tâm) do duyên khởi, mang tính vô thường, vô chủ vô sở hữu. Nhờ không ảo tưởng muốn làm chủ hay chiếm hữu thực tại, họ không phát sinh Tham - Sân - Si và an trú trong sự bình an, giải thoát ngay giữa đời thường.

CHỮ DUYÊN TRONG CHÁNH PHÁPChữ Duyên trong thuật ngữ Phật học liên quan đến chữ Duyên Khởi, mà Duyên Khởi là nền tảng cho...
18/09/2026

CHỮ DUYÊN TRONG CHÁNH PHÁP
Chữ Duyên trong thuật ngữ Phật học liên quan đến chữ Duyên Khởi, mà Duyên Khởi là nền tảng cho mọi kiến thức mà Đức Phật đã khám phá và truyền dạy. Có một câu trong kinh điển mà Đức Phật đã khẳng định: Ai thấy (biết như thật) Lý Duyên Khởi là thấy (biết như thật) Pháp. Ai thấy (biết như thật) Pháp là thấy (biết như thật) Như Lai.

Sự thật Duyên Khởi khẳng định rằng: Tất cả các sự vật hiện tượng dù vật chất hay tinh thần (Sắc hay Danh) đều do Duyên Khởi, nghĩa là đều do DUYÊN mà phát sinh, chứ không do NHÂN biến đổi mà thành, cũng không do DUYÊN HỢP mà thành.

Vậy Duyên là gì? Chữ Duyên mà các nhà Phật học dùng để phiên dịch kinh điển từ tiếng Ấn độ sang tiếng Hán và tiếng Hán Việt vẫn mang nghĩa bình thường của chữ Duyên. Nghĩa chữ Duyên nói đến HAI sự vật, hiện tượng (Hai Pháp) CÓ SỰ TIẾP XÚC NHAU hay TƯƠNG TÁC VỚI NHAU và thường gọi tắt là XÚC (như Sáu Căn TIẾP XÚC Sáu Trần).

Chữ Duyên Khởi chỉ sự tiếp xúc, sự tương tác giữa hai nhân tố hay hai pháp (hai nhân) làm phát sinh Quả chứ không phải Duyên là điều kiện để Một Nhân biến đổi ra Quả như cách hiểu Nhân - Duyên - Quả.

Trong “Đại kinh đoạn tận ái” có đoạn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên thức không hiện khởi.
- Này các Tỷ kheo, do duyên mà thức sanh và thức ấy có tên tuỳ theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh và thức ấy có tên là nhĩ thức ….

Đoạn này đã thật sự rõ ràng, Thức do Duyên khởi chứ không do Nhân là Con mắt hay Sắc trần Biến đổi mà thành, cũng không do Con mắt và Sắc trần Hợp lại mà thành. Và Duyên là sự tiếp xúc giữa hai nhân Con mắt và Sắc trần, không có sự tiếp xúc thì không có Duyên, không thể chỉ có một nhân Con mắt hay Sắc trần mà xuất hiện Duyên được.

Trong câu: “Lành thay, này các Tỷ kheo, các ông đã được Ta giới thiệu Chánh Pháp, Pháp này thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, cho người trí tự mình giác hiểu… Tất cả những gì đã nói là do duyên này mà nói ra”: Vấn đề đặt ra là làm rõ ý nghĩa câu cuối: Tất cả những gì đã nói là do DUYÊN NÀY mà nói ra.

Trước tiên phải thấy biết đúng như thật Giáo Pháp hay Kiến thức mà Đức Phật đã khám phá và truyền dạy có 5 tính chất:
1- Thiết thực hiện tại: là đưa đến chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây
2- Không có thời gian: Giáo Pháp này là chân lý, là sự thật phổ quát, là hiểu biết đúng sự thật cho mọi người, mọi không gian, mọi thời gian.
3- Đến để mà thấy: là tự mình kinh nghiệm, tự mình thân chứng, tự mình mắt thấy, tai nghe sự thật này.
4- Có tính hướng thượng: đó chính là Bát chánh đạo hướng thượng, thiện lành, đoạn tận luân hồi khổ đau. Ngược lại Bát tà đạo hướng hạ, với ác bất thiện, đau khổ luân hồi.
5- Cho người trí tự mình giác ngộ: Giáo pháp này không dành cho tất cả nhân loại mà chỉ dành cho người trí tự mình Học - Hiểu - Hành và Chứng đạt, không có tha lực nào cứu độ.

Đức Phật giới thiệu Chánh Pháp khi tất cả thông tin này, thông tin về Chánh Pháp mà Ngài đã chứng đạt, được lưu vào bộ nhớ với tên gọi là Minh. Lộ trình tâm Ngài là Bát chánh đạo khởi lên phát sinh ra lời nói Giáo Pháp theo lộ trình:
XÚC - [Thọ - Tưởng] - Chánh niệm - Chánh tư duy - Chánh tri kiến - Như lý tác ý - {Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng}

Đây là lộ trình duyên khởi nhưng chỉ khảo sát một nhân. Và để diễn tả chính xác theo Duyên khởi thì phải hiểu là Căn Trần duyên nhau gọi là XÚC; Do Duyên (Xúc) phát sinh đồng thời [Thọ - Tưởng]; Duyên với [Thọ - Tưởng] khởi lên Chánh niệm, nghĩa là Thông tin [Thọ - Tưởng] là một nhân Tương tác (Duyên) với Thông tin Minh trong bộ nhớ làm phát sinh Chánh niệm (lượng thông tin Minh); Duyên Chánh niệm khởi lên Chánh tư duy; Duyên Chánh tư duy khởi Chánh tri kiến (Ý thức và Tư tưởng Chánh); Duyên Chánh tri kiến khởi lên Như lý tác ý; Duyên Như lý tác ý khởi lên Lời nói Chánh ngữ (giới thiệu Chánh pháp).

Không phải tự dưng mà lời nói Chánh ngữ xuất hiện mà nó khởi lên theo một lộ trình Duyên Khởi NỐI TIẾP NHAU. Nói rằng do Duyên với Giáo Pháp thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính chất hướng thượng, cho người trí tự mình giác hiểu mà tất cả lời nói về Giáo Pháp, Lợi ích của Giáo Pháp được nói lên là như vậy. Và cụ thể là DUYÊN NÀY là sự tiếp xúc (hay tương tác) giữa Thông tin [Thọ- Tưởng] với Thông tin Minh, Thông tin về Giáo Pháp và lợi ích của Giáo Pháp trong bộ nhớ.

- Thiền sư Nguyên Tuệ

⭐️ RECAP BUỔI PHÁP ĐÀM: THÂN NÀY TỊNH HAY BẤT TỊNH?Thuyết giảng: Thiền Sư Nguyên Tuệ -----------1. Vì sao đặt câu hỏi “T...
17/09/2026

⭐️ RECAP BUỔI PHÁP ĐÀM: THÂN NÀY TỊNH HAY BẤT TỊNH?
Thuyết giảng: Thiền Sư Nguyên Tuệ
-----------
1. Vì sao đặt câu hỏi “Thân này tịnh hay bất tịnh?”
Trong kinh điển có rất nhiều nội dung nói về quán thân bất tịnh, đặc biệt trong các bài kinh về thiền như Kinh Niệm Xứ, Kinh Niệm Hơi Thở và Kinh Thân Hành Niệm. Ngoài ra còn có các nội dung quán bốn loại thức ăn là bất tịnh.

Vì vậy, khi đặt câu hỏi “thân này tịnh hay bất tịnh?”, người đã học kinh điển có thể cho rằng đây là điều đã được xác định là thân bất tịnh.

Tuy nhiên, Thiền Sư đưa ra yêu cầu cần đọc kỹ, tư duy, quan sát và đối chiếu với sự thật, không vội tin cũng không vội bác bỏ.

2. Tiêu chuẩn để xem xét một lời dạy:
Khi đọc kinh điển cần xem xét:
- Điều đó có đúng với sự thật hay không?
- Có đưa đến đoạn tận tham, sân, si hay không?
- Có đưa đến chấm dứt khổ hay không?

Nếu đúng với sự thật thì đó là minh, chánh kiến, trí tuệ. Nếu không đúng với sự thật thì đó là vô minh, tà kiến, vọng tưởng.

Thiền Sư nhấn mạnh mục đích của giáo pháp là giác ngộ sự thật và giải thoát khổ, tức đoạn tận tham, sân, si.

3. Trung đạo là ly hai cực đoan yêu và ghét:
Thiền Sư trình bày rằng con người thường rơi vào hai cực đoan:
Yêu thích / tham
Chán ghét / sân

Đức Phật thuyết pháp ở trung đạo, tức ly hai cực đoan này.

Trung đạo được trình bày là:
"Không yêu thích, không chán ghét, độc lập, không ràng buộc, giải thoát, không hệ lụy."

Hai thái độ yêu và ghét phát sinh từ cái hiểu biết sai sự thật, tức vô minh.

4. Vì sao “thân thanh tịnh” và “thân bất tịnh” đều trở thành cực đoan?
Nếu nhận thức:
- Thân này thanh tịnh, đẹp đẽ, thơm tho, đáng quý → sẽ yêu thích, chăm sóc, làm đẹp, làm khỏe thân.
- Thân này ô uế, bất tịnh, đáng vứt bỏ → sẽ chán ghét, muốn quăng bỏ thân.

Như vậy, cả hai nhận thức thân thanh tịnh và thân bất tịnh đều có thể dẫn đến hai cực đoan yêu và ghét.

Theo Thiền Sư, nếu mục đích của Đức Phật là ly hai cực đoan để giải thoát thì quán thân bất tịnh không phải là lời dạy của Đức Phật, vì nhận thức thân bất tịnh dẫn đến chán ghét thân. Bản chép lời cũng dẫn trường hợp các vị tỳ kheo quán thân bất tịnh rồi ghê tởm, quăng bỏ thân và tự sát.

5. Gốc của vấn đề là “cái biết nhị nguyên”
Thiền Sư giải thích rằng cái biết của con người thường phân chia:
- Chủ thể: con người, tâm biết.
- Đối tượng: thế giới vật chất.
Đây được gọi là cái biết nhị nguyên tâm – vật.

Trong cái biết nhị nguyên, sự vật hiện tượng thường được nhận thức thành những cặp đối lập như:
đẹp – xấu
ngon – dở
thơm – thúi
sáng – tối
thanh tịnh – bất tịnh

Chính những nhận thức đối lập này dẫn đến hai thái độ đối lập là yêu và ghét.

Thiền Sư cũng trình bày rằng quan điểm duy vật và duy tâm đều mặc định thực tại là thế giới vật chất, và phần trình bày về ba quy luật của phép biện chứng được dùng để chỉ ra đặc điểm của cái biết nhị nguyên: trong mỗi sự vật hiện tượng được nhận thức đều có những mặt đối lập, mâu thuẫn nhau.

6. Thực tại không phải là thân thể vật chất được nhìn thấy
Một điểm trọng tâm được Thiền Sư nhấn mạnh:
Con người không thực sự thấy được thân thể vật chất.
Những gì được thấy, được nghe, được cảm nhận đều là cảm giác.

Ví dụ:
Mở mắt nhìn thân → cái được thấy là cảm giác hình ảnh.
Nhắm mắt quan sát hơi thở → cái được thấy là cảm giác thở vào, cảm giác thở ra.
Quán 32 thể trược → những gì được thấy khi nhắm mắt cũng là cảm giác pháp trần, chứ không phải trực tiếp thấy thân thể vật chất.

Do đó, thực tại là thế giới cảm giác, còn việc biết có thân thể là thông qua suy luận.

Vì vậy, việc nói thân thể là thanh tịnh hay bất tịnh đều xuất phát từ nhận thức sai rằng mình đang trực tiếp thấy một thân thể vật chất rồi gắn cho nó những thuộc tính đó.

7. Cái biết đúng là thấy thực tại theo duyên khởi
Thiền Sư phân biệt:
- Cái biết nhị nguyên
→ tâm biết một thế giới vật chất
→ gắn cho đối tượng những tính chất như thanh tịnh/bất tịnh
→ phát sinh yêu/ghét.

- Cái biết đúng sự thật
→ thực tại là thế giới cảm giác
→ những gì được thấy, nghe, cảm nhận phát sinh do căn – trần tiếp xúc
→ không còn cơ sở để nhận thức thực tại là thanh tịnh hay bất tịnh.

8. Đức Phật giác ngộ và tu tập ngay nơi thân này
Thiền Sư dẫn những lời được trình bày trong kinh để nhấn mạnh rằng Đức Phật nói đến việc tuệ tri sáu xúc xứ và giác ngộ ngay nơi tấm thân dài độ thước mấy này cùng với thấy và biết.
Ở nơi thân này có thể thấy:
- thế gian
- nguồn gốc thế gian
- sự chấm dứt thế gian
- con đường chấm dứt thế gian.

“thế gian” ở đây đồng nghĩa với khổ, nguồn gốc thế gian là nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt thế gian là chấm dứt khổ và con đường chấm dứt thế gian là con đường chấm dứt khổ.

Vì vậy, thân này không phải thứ để yêu thích cũng không phải thứ để chán ghét, vứt bỏ. Thân là nơi để tu tập và giác ngộ.

9. Ẩn dụ Sa Tăng trong Tây Du Ký
Thiền Sư sử dụng hình ảnh Tây Du Ký như một ẩn dụ.
Năm nhân vật được diễn giải:
- Đường Tăng → đức tin.
- Tôn Ngộ Không → tâm biết ý thức, có lúc chánh kiến, có lúc tà kiến.
- Trư Bát Giới → lòng tham.
- Bạch Long Mã → phương tiện.
- Sa Tăng → thân thể.

Sa Tăng mang trên cổ chuỗi hạt là những đầu lâu và gánh hành lý cho cả đoàn. Theo phần trình bày, hình ảnh này ẩn dụ cho vai trò của thân thể trong quá trình tu tập và giác ngộ.

Thiền Sư tiếp tục liên hệ hình ảnh này với câu chuyện về Liên Hoa Sanh, vườn đàn hương, lò thiêu xác và lâu đài xây bằng sọ người.

Phần ẩn dụ được giải thích rằng:
- Bên ngoài thân thể có thể thơm tho, sạch sẽ, xinh đẹp.
- Bên trong chứa những thứ được gọi là bất tịnh.
- Lâu đài xây bằng vô số sọ người ám chỉ thân xác là kết tinh của nghiệp quá khứ.
- Việc Liên Hoa Sanh ngồi thiền nhưng cửa lâu đài vẫn đóng cho thấy chỉ đạt thiền định vẫn chưa khám phá được bí mật của thân thể.
- Người tỳ nữ mở ngực cho thấy hình ảnh của phép nội quán.
- Việc Liên Hoa Sanh quỳ xuống xin chỉ dạy thể hiện sự khiêm nhường để học những điều cao siêu.

10. Thân thể là phương tiện quan trọng để tu tập
Từ hình ảnh Sa Tăng, Thiền Sư nhấn mạnh:
Thân thể cũng là một yếu tố quan trọng trong việc tu hành.

Nếu thân thể khỏe mạnh thì việc tu hành có điều kiện tiến triển tốt hơn. Nếu thân thể yếu đuối, bệnh tật thì việc tu hành khó khăn hơn.

Vì vậy, không nên yêu thích thân nhưng cũng không chán ghét hay quăng bỏ thân. Cần chăm sóc thân theo điều kiện phù hợp để thân trở thành phương tiện cho việc tu tập.

11. Chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần
Thiền Sư phân biệt:
- Khổ thân: có thể giảm thiểu bằng việc chăm sóc sức khỏe thể chất, y học, thuốc men, rèn luyện thân thể.
- Khổ tâm: cần thực hành định và tuệ.

Phần trình bày cho rằng sức khỏe gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, nhưng việc chăm sóc sức khỏe hiện nay chủ yếu tập trung vào thể chất.

Thiền định và trí tuệ được Thiền Sư trình bày như phương thức chăm sóc sức khỏe tinh thần, với mục đích thay đổi tâm tính để trở thành người dễ tính, dễ nuôi, siêng năng, chăm chỉ, tử tế, thân thiện.

12. Dự án “massage thiền” của Gosinga:
Cuối buổi, Thiền Sư giới thiệu dự án mà Gosinga dự kiến triển khai: chăm sóc sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cùng lúc.

Dự án “massage thiền” sẽ sử dụng máy điện sinh học để massage, đồng thời thực hành ngậm nhắc nhịp.

Mục đích của phương pháp này:
- Thư giãn về thể chất.
- Giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi.
- Giảm căng cứng cơ thể sau ngày làm việc.
- Đồng thời thực hành ngậm nhắc nhịp và đạt sơ thiền theo nội dung Thiền Sư trình bày.

Thiền Sư cho rằng đây cũng là một phương pháp để truyền bá pháp thiền ngậm nhắc nhịp đến mọi người.

🎉 GIEO DUYÊN CÁC KHÓA THIỀN TỨ NIỆM XỨ TRÊN TOÀN QUỐCTháng 9-10/2026📍 Cho một năm bình an từ nội tâm📍 Chấm dứt lo âu, su...
15/09/2026

🎉 GIEO DUYÊN CÁC KHÓA THIỀN TỨ NIỆM XỨ TRÊN TOÀN QUỐC
Tháng 9-10/2026
📍 Cho một năm bình an từ nội tâm
📍 Chấm dứt lo âu, suy nghĩ linh tinh, căng thẳng, stress, mâu thuẫn nội tâm.
📍 Ứng dụng thiền trong đời sống - Thiền là một kỹ năng sống thiết thực
Gosinga - Trung tâm thiền Tứ Niệm Xứ liên tục tổ chức các khoá thiền Online - 1 Ngày - 2 Ngày - 4 Ngày - 9 Ngày tại nhiều địa điểm trên toàn quốc!
Cho đến nay, có hơn 45.000 thiền sinh đã tham gia và có kết quả tốt đẹp.
👉 Link đăng ký khóa Online: https://gosinga.vn/thienonline/
👉 Link đăng ký khóa 1 ngày: https://gosinga.vn/khoathien1ngay/
👉 Link đăng ký khóa 2 ngày: https://gosinga.vn/khoathien2ngay
👉 Link đăng ký khóa 4 ngày: https://gosinga.vn/khoathien4ngay
👉 Link đăng ký khóa 9 & 18 ngày: https://gosinga.vn/khoathien9ngay
Nhóm zalo hỗ trợ và cập nhật thông tin: https://zalo.me/g/jrekhh233
Hỗ trợ tài liệu, ăn ngủ, nghỉ tại địa điểm tổ chức.
🙏 Miễn phí giảng dạy từ Thiền Sư Nguyên Tuệ.
🙏 Thiền sinh tùy tâm đóng góp chi phí ăn, ở, vận hành khóa thiền.
-----------------------
Quý vị đăng ký sớm để BTC có thể hỗ trợ chu đáo!
Gosinga - Trung tâm Thiền Tứ Niệm Xứ - Ứng dụng trong đời sống!

15/09/2026

🛑PHÁP ĐÀM ĐẶC BIỆT
Trực tiếp chia sẻ từ Thiền Sư Nguyên Tuệ!

Address

519 Kim Mã, Ba Đình
Hanoi
100000

Telephone

+84966248933

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Gosinga posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to Gosinga:

Shortcuts

Share