26/05/2026
BẢO VỆ VÀ NÂNG CAO ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT
PGS.TS Tôn Thất Chiểu
Hội Khoa học Đất Việt Nam
I. Độ phì nhiêu của đất và điều kiện sinh thái tự nhiên.
1. Đất đối với nông nghiệp, đối tượng cho cây (cây trồng, cây rừng) cần có độ phì nhiêu và phân hoá theo loại hình tự nhiên. Việc nghiên cứu phát triển độ phì nhiêu có những ngành chuyên riêng (thổ nhưỡng, nông hoá, vật lý, hoá học, sinh học). Đất phân hoá theo loại hình và tính chất thích nghi khác nhau với các loại cây trồng, cây rừng, làm cho các ngành quan hệ với đất, các ngành chuyên trong nông lâm nghiệp phát triển.
2. Đối với các ngành ngoài nông lâm nghiệp (phi nông nghiệp) lại khác, không yêu cầu độ phì nhiêu như nông lâm nghiệp, không cần lớp đất mặt (lớp phủ thổ nhưỡng) có mầu mỡ hay không mà trước hết cần mặt bằng và những yêu cầu khác tuỳ theo từng ngành như cơ lý, địa chất, điều kiện thuỷ văn, điều kiện địa lý...
Trong bài đất với cây này, chúng tôi chỉ tập trung chuyên nói về độ phì nhiêu của đất với cây.
Những đất với các loại cây trồng, cây rừng này ở khắp nơi của đất nước: đồng bằng, trung du, núi thấp và cả núi cao cần sắp xếp đưa vào quy hoạch để cân đối.
3. Nói đến sử dụng đất cho nông lâm nghiệp là một việc làm với đối tượng là sinh vật, yêu cầu phải đáp ứng cho cuộc sống con người.
Con người của một nước với toàn bộ diện tích tự nhiên của nước đó, phải tính toán sử dụng như thế nào cho lâu dài, vì diện tích đất của một nước có giới hạn, còn con người thì phát triển, có nhiều nước dễ tăng nhanh về số lượng. Con người sống nhờ toàn diện đất đai của một nước, đất cho nông nghiệp, đất cho các ngành khác để sản xuất dịch vụ toàn diện cho cuộc sống (kể cả trao đổi hàng hoá), nhưng trước hết là tập trung cao cho nông nghiệp (kể toàn diện cây trồng, cây làm thức ăn gia súc, cây lâm nghiệp).
Trong đất trồng như trên đã nói, diện tích bị giới hạn, thường bị các đất khác tranh chấp, nhất là đất lúa dễ bị lấn chiếm. Theo số liệu hiện nay, đất trồng lúa có diện tích khoảng 4.100.000ha trong số này có khoảng 3.100.000ha có mặt bằng giữ nước tốt, năng suất cao, nhưng các ngành còn đang lấn chiếm vào diện tích này, có những ngành điều kiện lấy đất là bắt buộc như thuỷ lợi, giao thông, co nơi không tránh được, nhưng có những ngành khác như công nghiệp xây dựng khi quy hoạch và triển khai cũng chưa tiết kiệm loại đất này, mặc dầu có nơi còn tiết kiệm được.
II. Bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất nông nghiệp
1. Nhận thức về đất nông nghiệp.
Ngoài việc tiết kiệm không để mất đất trong phạm vi có thể sắp xếp, tiết kiệm được; việc quan trọng lớn nữa của nhà nông là bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất nông nghiệp.
Nói đến đất nông nghiệp là nói đến đất có độ phì nhiêu, có các tầng mùn (tầng A) và tầng B (tầng tích tụ), có đủ hữu cơ và các thành phần hoá học thích nghi đối với nông lâm nghiệp, có những tính chất cần thiết để sử dụng và phát huy phân bón. Trong đất sử dụng trong nông nghiệp phải sử dụng thích nghi phù hợp với điều kiện tự nhiên và đối với cây trồng phù hợp với từng loại.
Việc sử dụng đầu tiên là nhìn cảnh quan toàn bộ vùng sinh thái.
2. Về độ phì nhiêu của đất
Khi nói đến độ phì nhiêu của đất cần phân biệt đất nông nghiệp đối tượng là cây trồng, cây phát triển thảm rừng và cây làm thức ăn gia súc khác; còn đất đai nói chung chỉ sử dụng mặt bằng cho công nghiệp, giao thông, xây dựng, dân cư không phải đối tượng là sinh vật.
Những người sử dụng đất phi nông nghiệp chỉ quan tâm mặt bằng và các yếu tố tự nhiên khác quan hệ đến mặt bằng, không yêu cầu đến độ phì nhiêu (đất tốt, đất xấu). Nên trong quá trình sử dụng đã phá huỷ lớp đất mặt; khi trở lại phục hồi cho nông nghiệp rất khó khăn, hàng trăm năm chưa phục hồi được nếu muốn sử dụng trở lại cho nông nghiệp.
Khi trồng cây, đối tượng của mình là đất, cây trồng trong môi trường đất có độ phì nhiêu, nước và khí quyển. Toàn bộ rễ của cây 1-2m phát triển trong lòng đất; toàn bộ môi trường đất tác động đến cây.Vì vậy từng loại đất (có độ phì nhiêu, pH, không khí và nước) đều ảnh hưởng đến cây, đất phân hoá theo những loại hình riêng và tác động đối với từng loại cây trồng riêng.
Vì vậy quỹ đất, phân loại đất, độ phì nhiêu của đất đều tác động lớn đối với cây trồng. Về mặt này cần biết xem xét các loại đất phát sinh phát triển quan hệ đến độ phì nhiêu; người ta phân biệt các tầng A, B, C gắn với từng loại đất. Về mặt này, với tầm nhìn của cả nước, chúng ta thấy nổi lên những điểm như sau:
- Đất nhiệt đới ẩm, gió mùa, có lượng mưa lớn trong năm, phân hoá các loại hình trong cả nước.
- Đất núi cao, dốc nhiều, việc bảo vệ cải tạo quan hệ đến độ cao, độ dốc và đá mẹ.
Hậu quả là đất bị rửa trôi bốc hơi, xói mòn mạnh quan hệ đối với sử dụng, với nạn phá rừng vô tổ chức, phương thức canh tác đốt nương làm rẫy, đất dễ biến thành đồi núi trọc trơ sỏi đá. Vì vậy, khi sử dụng đất đồi núi là tiếp xúc với đất dốc, đất nhiệt đới ẩm, rửa trôi, bốc hơi nhiều. Những vùng trung du tác động trực tiếp của khí hậu nhiệt đới ẩm, rửa trôi, tích tụ sắt, nhôm và bốc hơi dễ biến thành kết von và đá ong.
Những đất đồi núi khác cũng bị tác động rửa trôi trơ sỏi đá, nếu không có thảm thực vật và tác động của con người bảo vệ thì dễ biến thành vùng đồi núi trọc trụi, nhiều vùng trơ sỏi đá phải tốn công rất nhiều mới phục hồi lại được.
Đất bằng ở đồng bằng châu thổ và số ít ở trung du cũng có giới hạn.
III. Sử dụng các nhóm đất nông nghiệp
1. Ý thức chung về sử dụng
Đây là vốn quý giá của ta, không những phải có ý thức bảo vệ mà phải thực hiện bảo vệ một cách toàn diện với những hoạt động phù hợp. Chống xói mòn, rửa trôi toàn diện cả đất bằng, sườn dốc, giữ ẩm, giữ nước, biết trồng những cây chắn gió, làm đập ngăn, ruộng bậc thang ven sườn dốc, bảo vệ tốt vùng đất dốc và lưu vực sông.
Tăng cường phân bón hữu cơ.
Trong đất nông nghiệp của ta (đất phù sa, nhất là các loại đất phù sa đã bị rửa trôi, đất xám bạc mầu, đất đỏ vàng...) thường thiếu chất hữu cơ nên ngoài phân vô cơ phù hợp cần tăng cường phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh) để tăng độ phì nhiêu một cách toàn diện, bảo vệ chất dinh dưỡng và nước cho cây trồng. Vấn đề trồng xen, luân canh với cây họ đậu cần thực hiện tốt.
2. Những vấn đề về quy hoạch bảo vệ đất, sử dụng đất theo quan điểm kinh tế sinh thái
Nhà nông nên nhìn một cách tương đối toàn diện: ngoài những mảnh đất của mình nên nhìn rộng ra với con mắt chủ sở hữu chung để thấy mối quan hệ trong sử dụng, bảo vệ, cải tạo nâng cao hiệu quả chung. Người lãnh đạo cấp trên phải nhìn các đơn vị hành chính kinh tế rộng lớn và mối quan hệ trong lưu vực sông, thảm rừng và đất đai từ thượng nguồn lưu vực xuống cửa sông.
III. Nhà nông với đất
Biết quý đất, biết sử dụng đất.
Nhà nông không được xem nhẹ đất trên cả 2 mặt:
- Thổ nhưỡng (đất trồng) và
- Đất đai (toàn bộ mặt bằng)
Phải nhớ: toàn bộ đất đai là để sử dụng cho nền kinh tế quốc dân (tất cả các ngành) trong đó có đất trồng hay thổ nhưỡng cần cho nông nghiệp, có yêu cầu sử dụng, bảo vệ, cải tạo riêng.
Trong quy hoạch có đất cho toàn bộ các ngành nhưng trong nông nghiệp đất giành riêng cho cây trồng, cây làm thức ăn gia súc và cây rừng, biết sử dụng bảo vệ đất lúa và các loại cây khác: biết sử dụng hài hoà trong ngôi nhà chung (đất trồng và đất cho các ngành). Mọi người cần phải biết bảo vệ đất nông nghiệp, không riêng gì nhà nông mà tất cả mọi người cần phải biết bảo vệ tiết kiệm sử dụng đất đai nói chung, đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp.
Send a message to learn more