CHỚP LỬA

CHỚP LỬA Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from CHỚP LỬA, Nonprofit Organization, Hanoi.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VŨ ĐỨC KHANH VỀ CƠ CHẾ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAMTrên trang diễn đàn phản động x...
24/09/2026

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VŨ ĐỨC KHANH VỀ CƠ CHẾ QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM

Trên trang diễn đàn phản động xuất hiện bài viết “Lời hứa còn dang dở” của Vũ Đức Khanh với nội dung sai trái, cố tình bóp méo bản chất chế độ chính trị và cơ chế thực thi quyền lực ở Việt Nam. Y cho rằng, ở Việt Nam, “quyền lực chính trị chưa được đặt trong một cơ chế cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát thực chất và trách nhiệm giải trình đầy đủ trước nhân dân”; “bầu cử vẫn diễn ra, nhưng chưa tạo ra cạnh tranh chính trị thực chất”. Qua đó, xuyên tạc bản chất chế độ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng bước gieo rắc tâm lý hoài nghi, nhằm hướng tới mục tiêu thúc đẩy thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Do đó, cần được nhận diện và đấu tranh phản bác.
Thứ nhất, quyền lực chính trị ở Việt Nam được tổ chức trong cơ chế có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ.
Cơ chế chính trị ở Việt Nam không dựa trên sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, mà dựa trên sự đoàn kết, thống nhất và hợp tác vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là sự lựa chọn được hình thành từ lịch sử dân tộc và phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Sự khác biệt về mô hình tổ chức quyền lực không thể bị suy diễn thành sự thiếu dân chủ hay thiếu kiểm soát quyền lực. Trong hệ thống chính trị Việt Nam, việc quy hoạch, bổ nhiệm, đề cử, ứng cử và bầu cử cán bộ các cấp đều tuân thủ quy trình, quy định chặt chẽ. Đặc biệt, trong bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cử tri trực tiếp thực hiện quyền lựa chọn người đại diện cho mình theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Số người trong danh sách ứng cử chính thức được xác định nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu, tạo điều kiện để cử tri lựa chọn những người đủ phẩm chất, năng lực và uy tín.
Việc kiểm soát quyền lực được xác lập trên nguyên tắc hiến định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tuyệt đối, không bị kiểm soát, mà chịu sự ràng buộc bởi Hiến pháp, pháp luật và nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước ở địa phương; các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó còn có hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng; công tác thanh tra, kiểm toán; cơ chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và Nhân dân.
Thực tiễn những năm qua là minh chứng rõ ràng, có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất để bác bỏ luận điệu cho rằng kiểm soát quyền lực ở Việt Nam chỉ tồn tại “trên giấy”. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ giữ chức vụ cao, khi vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Điều đó cho thấy, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ” trong xử lý vi phạm; quyền lực càng cao thì trách nhiệm càng lớn. Đây chính là biểu hiện cụ thể của cơ chế kiểm soát quyền lực trong thực tiễn; là bằng chứng đanh thép bác bỏ mọi sự xuyên tạc của Vũ Đức Khanh
Thứ hai, hoạt động bầu cử ở Việt Nam diễn ra chặt chẽ, nghiêm túc, bình đẳng, dân chủ, đúng Hiến pháp và pháp luật
Điều 27 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ: Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Đây là quyền chính trị cơ bản của công dân, được Hiến pháp ghi nhận và pháp luật bảo đảm. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cùng Luật số 83/2025/QH15, ngày 24/6/2025, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử, quy định cụ thể về quy trình tổ chức bầu cử. Trong đó, quy trình hiệp thương được tiến hành qua nhiều bước nhằm thỏa thuận cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử và lựa chọn những người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín để đưa vào danh sách chính thức. Hiệp thương không phải là sự phủ nhận dân chủ mà là cơ chế nhằm bảo đảm sự tham gia, phối hợp và thống nhất của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng thời tạo điều kiện để Nhân dân tham gia lựa chọn những người đại diện xứng đáng. Thực tế cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là minh chứng sinh động. Trên phạm vi cả nước, có trên 76 triệu cử tri tham gia bỏ phiếu tại 72.195 khu vực, đạt tỷ lệ 99,68%. Con số trên không chỉ phản ánh quy mô của một cuộc bầu cử, mà còn là minh chứng cho sự tham gia rộng rãi của Nhân dân vào đời sống chính trị của đất nước. Nếu người dân hoàn toàn không có vai trò, nếu bầu cử chỉ là hình thức như sự xuyên tạc của Vũ Đức Khanh, thì không thể lý giải một cách thuyết phục sự tham gia rộng lớn, nghiêm túc và có tổ chức của hàng chục triệu cử tri trên phạm vi cả nước.
Tóm lại, những luận điệu của Vũ Đức Khanh không xuất phát từ một cách tiếp cận khách quan, khoa học và thiện chí. Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai trái; kiên quyết đấu tranh bằng lý lẽ và sự thật. Đó chính là cách thiết thực góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “cạnh tranh chính trị” để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

ẢO TƯỞNG “TỰ DO TUYỆT ĐỐI” VÀ SỰ ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA NHẬT NGÔN                                                      ...
23/09/2026

ẢO TƯỞNG “TỰ DO TUYỆT ĐỐI” VÀ SỰ ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA NHẬT NGÔN

Trên trang Vietnamthoibao xuất hiện bài viết “Tự do là gì và nó đáng giá thế nào?” của Nhật Ngôn. Với cái nhìn phiến diện, Y viện dẫn những quan điểm của Viktor Frankl, Immanuel Kant, Benjamin Franklin về quyền tự do tư tưởng, ngôn luận để xuyên tạc, phủ nhận thực tiễn về quyền tự do ở Việt Nam.
Thứ nhất, không thể đồng nhất tự do với quyền hành động theo ý chí cá nhân
Mặc dù thừa nhận tự do không phải là “muốn gì làm nấy”, mà phải gắn với lý trí và trách nhiệm; trước khi hành động, con người phải cân nhắc sự phù hợp với đạo đức và pháp luật. Nhưng nguyên tắc đúng ấy lại không được nhất quán trong phần lập luận của Nhật Ngôn khi phân biệt “Freedom” tự do nội tại, tự do tư tưởng, ý chí với “Liberty” tự do bên ngoài, trong đó có tự do về quan điểm chính trị, cách sống, tài sản. Đây không thể là thước đo duy nhất để phán xét tự do của mọi quốc gia. Bởi, tự do của con người bao giờ cũng tồn tại trong đời sống xã hội. Cá nhân không sống tách khỏi cộng đồng; quyền của người này luôn có quan hệ với quyền của người khác. Vì vậy, mọi nền pháp luật đều phải xác lập những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện quyền, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, cộng đồng và quốc gia.
Không ai có quyền nhân danh tự do ngôn luận để vu khống, bịa đặt, xúc phạm người khác. Không thể nhân danh tự do hành động để xâm phạm tài sản của cá nhân, tổ chức, quốc gia. Không thể nhân danh tự do chính trị để kích động bạo lực, phá hoại trật tự an toàn xã hội hoặc xâm phạm lợi ích quốc gia. Nếu phủ nhận những giới hạn đó thì “tự do” sẽ bị biến thành sự tùy tiện, còn quyền cá nhân bị đẩy lên thành đặc quyền đứng trên pháp luật.
Tự do phải gắn với khả năng tự làm chủ và hành động theo lý trí, không phải làm nô lệ cho ham muốn. Vì vậy, không thể vừa đề cao lý trí và trách nhiệm, vừa sử dụng một quan niệm gần với “tự do tuyệt đối” để phủ nhận vai trò của pháp luật và những giới hạn cần thiết trong đời sống xã hội. Cũng không thể lấy một số quan niệm, thiết chế hoặc kinh nghiệm chính trị của phương Tây làm chuẩn mực duy nhất cho toàn thế giới. Tự do là giá trị phổ quát, nhưng cách thức bảo đảm và thực hiện tự do luôn gắn với điều kiện lịch sử, pháp luật, văn hóa và thể chế của mỗi quốc gia. Phổ quát không có nghĩa là đồng nhất.
Thứ hai, từ tuyệt đối hóa tự do đến phủ nhận thực tiễn Việt Nam là một bước suy diễn thiếu căn cứ của Nhật Ngôn.
Cần hiểu rằng, một xã hội còn tồn tại những vấn đề cần khắc phục không có nghĩa xã hội đó không có tự do. Một hành vi bị pháp luật xử lý không đồng nghĩa với việc quyền tự do bị phủ nhận. Muốn đánh giá một quốc gia có bảo đảm quyền hay không phải xem xét đầy đủ hệ thống pháp luật, cơ chế thực thi, thiết chế bảo vệ quyền, điều kiện kinh tế - xã hội và thực tiễn đời sống, chứ không thể chỉ dựa vào một vài hiện tượng rồi suy diễn thành bản chất của cả chế độ. Cách đặt câu hỏi: người dân có được tự do suy nghĩ, thể hiện chính kiến, phản biện công khai hay không; có thực sự làm chủ cuộc sống, tài sản, đất đai hay không; rồi đặt vấn đề con người sẽ “im lặng hay đứng lên hành động”, cho thấy, Nhật Ngôn vừa không biết về thực tiễn Việt Nam, vừa không biết phân biệt giữa quyền tự do và hành vi lợi dụng quyền tự do; giữa phản biện chính sách và phủ nhận thể chế; giữa thực hiện quyền công dân và vi phạm pháp luật.
Ở Việt Nam quyền con người, quyền công dân và các quyền tự do khác được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật và được bảo đảm trên thực tế, điều này không chỉ người dân Việt Nam cảm nhận được và được bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội, mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền ấy phải gắn với nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích chung của đất nước, và xã hội. Trong quá trình phát triển, những cơ chế bảo đảm quyền tự do tiếp tục được hoàn thiện. Lịch sử cho thấy mỗi dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình và xu thế của thời đại. Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một vấn đề thuộc quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, không thể vì thế mà tùy ý suy diễn chủ quan rồi đi đến phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm các quyền tự do. Tự do thực sự không đối lập với kỷ cương. Dân chủ không đối lập với pháp luật. Quyền con người không đứng ngoài chủ quyền quốc gia. Ngược lại, pháp luật, kỷ cương và ổn định chính trị - xã hội là những điều kiện quan trọng để quyền tự do được bảo đảm và thực hiện trên thực tế.
Tóm lại, tự do đáng quý, nhưng tự do không phải đặc quyền đứng trên pháp luật. Dân chủ đáng trân trọng, nhưng dân chủ không phải cái cớ để phủ nhận lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhân quyền có giá trị phổ quát, nhưng không thể bị biến thành công cụ áp đặt mô hình chính trị từ bên ngoài. Nhận thức đúng về tự do cũng chính là cách bảo vệ tự do khỏi sự xuyên tạc. Và đấu tranh với những luận điệu đánh tráo khái niệm về tự do không phải là phủ nhận tự do, mà là bảo vệ bản chất chân chính, trách nhiệm và nhân văn của chính giá trị ấy./.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM ĐỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC VIỆT NAMTrên trang Baotiengdan đăng bài viết của Bùi...
23/09/2026

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM ĐỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Trên trang Baotiengdan đăng bài viết của Bùi Anh Chiến với tựa đề “Bản án một chế độ thực dân”. Y đã gọi chế độ chính trị ở Việt Nam là một dạng “thực dân” không cần quân đội nước ngoài chiếm đóng, Bùi Anh Chiến đã cố tình đánh tráo khái niệm, phủ nhận bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân, qua đó làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
Thứ nhất, đánh đồng chế độ chính trị ở Việt Nam với chế độ thực dân là sự xuyên tạc lịch sử và đánh tráo bản chất chính trị.
Thực dân là chế độ trong đó một thế lực ngoại bang sử dụng bạo lực xâm lược, tước đoạt độc lập, chủ quyền, áp đặt bộ máy cai trị và bóc lột nhân dân thuộc địa để phục vụ lợi ích của chính quốc. Dưới chế độ thực dân, nhân dân thuộc địa không được làm chủ đất nước, không có quyền quyết định vận mệnh dân tộc; tài nguyên bị vơ vét, sức lao động bị bóc lột, các quyền dân tộc cơ bản bị chà đạp. Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phải hy sinh biết bao xương máu mới giành lại được độc lập, tự do.
Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ để xóa bỏ chế độ thực dân, giành chính quyền về tay Nhân dân, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ mới. Bởi vậy, gọi Nhà nước do chính Nhân dân Việt Nam đấu tranh giành được, xây dựng, bảo vệ và tham gia quản lý là “chế độ thực dân” không chỉ hoàn toàn phi lý về phương diện khoa học mà còn xúc phạm sự hy sinh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây là thủ đoạn cố tình xóa nhòa ranh giới giữa bộ máy xâm lược phục vụ lợi ích ngoại bang với Nhà nước đại diện cho ý chí, quyền làm chủ và lợi ích của Nhân dân Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước. Mục tiêu của Nhà nước là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bản chất ấy được thể hiện bằng hệ thống pháp luật và các thiết chế bầu cử, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giám sát, phản biện xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Thứ hai, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân là thủ đoạn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân.
Bài viết của Bùi Anh Chiến sử dụng hàng loạt câu chữ mang tính tuyệt đối hóa rằng: Người dân “phải làm việc để nuôi bộ máy”, “phải im lặng để tránh rắc rối”, thông tin chỉ là sản phẩm “tự chỉnh sửa, tự nghĩ ra và tự tô vẽ”. Y không đưa ra những căn cứ đầy đủ, không đánh giá toàn diện thực tiễn đất nước, mà gom nhặt một số vụ việc tiêu cực, những bất cập đang được xử lý rồi quy kết thành đặc trưng của toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là thủ pháp quen thuộc nhằm khoét sâu tâm lý bức xúc, biến những mong muốn chính đáng của người dân về một nền hành chính tốt hơn thành sự phủ định Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong chế độ ta, quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân không phải quan hệ giữa kẻ cai trị với người bị trị, mà là quan hệ giữa Nhà nước thực hiện quyền lực do Nhân dân trao và Nhân dân tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát quyền lực ấy. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” ngày càng được thể chế hóa cụ thể. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định người dân có quyền được công khai thông tin, đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến cộng đồng; kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và khởi kiện đối với những hành vi vi phạm pháp luật.
Bùi Anh Chiến cũng cố tình đánh đồng việc quản lý hoạt động thông tin, ngăn chặn thông tin giả, xuyên tạc, kích động bạo lực với “kiểm soát thông tin” và “cấm đoán phản biện”. Trong khi Hiến pháp Việt Nam ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân. Và, ở mọi quốc gia, việc thực hiện các quyền tự do phải tuân thủ pháp luật, không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Cho nên, phản biện có căn cứ, với động cơ xây dựng thì được tôn trọng, nhưng nếu lợi dụng phản biện để bịa đặt, vu khống, kích động chống đối, gây mất ổn định xã hội thì phải bị xử lý theo pháp luật.
Tóm lại, phản ánh hạn chế, góp ý chính sách và đấu tranh với sai phạm là quyền, đồng thời là trách nhiệm của công dân. Nhưng mượn danh phản biện để đánh tráo khái niệm, biến hạn chế thành bản chất, đồng nhất Nhà nước của Nhân dân với chế độ thực dân và kích động Nhân dân đối lập với Nhà nước là sự xuyên tạc. “Bản án” thực sự phải dành cho những luận điệu sai trái, cố tình chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân của Bùi Anh Chiến./.

SỰ THẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CHÍNH SÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC                         ...
20/09/2026

SỰ THẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ CHÍNH SÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI Ở VIỆT NAM BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC

Trên trang Machsongmedia, Nguyễn Đình Thắng có bài: “Cách nào các cộng đồng bị bách hại tại Việt Nam tiếp cận quốc tế”. Bài viết chứa đựng luận điệu xuyên tạc rằng: Việt Nam “bóp nghẹt nhân phẩm, kìm hãm tài năng”. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đã bác bỏ luận điệu sai trái trên của y, bởi lẽ:
Thứ nhất, ở Việt Nam, quyền con người được quy định trong pháp luật và thực thi trong thực tiễn
Trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được đưa lên ngay trong Chương II trong đó, xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Hiến pháp đồng thời ghi nhận các quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống chính trị như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được xét xử công bằng và suy đoán vô tội.
Trên cơ sở Hiến pháp, hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước được cụ thể hóa để bao quát hầu hết các nhóm quyền cơ bản của con người. Với nhóm quyền dân sự và chính trị đã được hiện thực hóa qua Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, cùng các luật chuyên ngành như Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Với các nhóm quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cũng được bảo đảm thông qua một mạng lưới luật pháp thực tiễn bao gồm Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Giáo dục; Luật Nhà ở và Luật Đất đai. Đặc biệt, Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật chuyên ngành tương đối toàn diện để bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương như Luật Trẻ em; Luật Người khuyết tật; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Phòng, chống mua bán người hay Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Việc bảo đảm quyền con người trong thực tiễn ở Việt Nam đã được sự ghi nhận lớn từ cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ ràng nhất cho điều này là việc Việt Nam liên tục được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong nhiều nhiệm kỳ. Đặc biệt, vào ngày 14/10/2025, Việt Nam đã trúng cử nhiệm kỳ 2026-2028 với số phiếu ủng hộ cao nhất trong nhóm châu Á-Thái Bình Dương (180 phiếu), khẳng định vị thế và uy tín của đất nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người.
Thứ hai, tài năng, sức sáng tạo của mỗi người Việt Nam được trọng dụng và phát huy mạnh mẽ
Nhiều chủ trương, chính sách thu hút trọng dụng nhân tài được Đảng, Nhà nước Việt Nam ban hành và thực hiện trong thực tiễn. Ngày 31/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chiến lược đặt ra mục tiêu cụ thể: đến năm 2030, thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước đạt tỷ lệ trên 10% so với tổng số tuyển dụng mới. Chiến lược cũng định hình 6 nhóm giải pháp đột phá, bao gồm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và tăng cường hợp tác quốc tế về nhân tài.
Trước sự phát triển của tình hình, ngày 31/12/2024, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghị định số 179/2024/NĐ-CP đã mở rộng vượt bậc đối tượng áp dụng, không chỉ giới hạn ở sinh viên xuất sắc mà còn bao gồm cán bộ, công chức, viên chức có tài năng; chuyên gia, nhà quản lý, nhà quản trị doanh nghiệp, nhà khoa học đầu ngành trong và ngoài nước.
Tháng 9/2025, Bộ Nội vụ tiếp tục xác định các lĩnh vực và vị trí việc làm ưu tiên thu hút, trọng dụng người có tài năng trong giai đoạn 2025–2030. Đến năm 2026, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục được mở rộng. Ngày 20/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP về học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.
Bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa, quán triệt, triển khai thực hiện, chủ động ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thu hút, trọng dụng nhân tài phù hợp với tình hình thực tiễn, bước đầu đạt kết quả tốt. Công tác bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bố trí sắp xếp cán bộ có nhiều đổi mới. Nhiều cán bộ có năng lực tốt, nhất là cán bộ trẻ được bố trí, sử dụng; nhiều đồng chí được tín nhiệm bầu vào cấp ủy, chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các cấp. Nhiều cán bộ tài năng được tin tưởng, giao nhiệm vụ khó, phức tạp. Phương thức bổ nhiệm cán bộ có nhiều đổi mới; mở rộng thí điểm hình thức bổ nhiệm thông qua thi tuyển, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, bước đầu tạo hiệu ứng tốt. Chế độ, chính sách thu hút cán bộ tài năng vào làm việc trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị bước đầu được hoàn thiện. Việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hút, trọng dụng nhân tài bước đầu có nhiều chuyển biến tích cực, kịp thời bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, tạo chuyển biến về hiệu quả lãnh đạo, quản lý ở nhiều cơ quan, đơn vị.
Như vậy, luận điệu của Nguyễn Đình Thắng đưa ra trong bài viết đăng trên Machsongmedia không ngoài mục đích chống phá Việt Nam, hòng kích động người dân chống đối, móc nối với các thế lực phản động lưu vong ở nước ngoài. Chúng ta cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái của y và đồng bọn./.

PHÁT HUY NGUỒN LỰC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC                                             ...
19/09/2026

PHÁT HUY NGUỒN LỰC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC
Phạm Thanh
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, Việt Nam Quốc dân Đảng đã tán phát trên không gian mạng bài viết Tuyên cáo về Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị Đảng cộng Sản Việt Nam về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, cho rằng Đảng, Nhà nước thực hiện chính sách đối với kiều bào nhằm “trục lợi chính trị”, “tận thu kiều hối”, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu như một nguồn tiền để khai thác. Đây là cách diễn giải cố tình bóp méo bản chất của Nghị quyết, đánh tráo mục tiêu chính trị - xã hội với lợi ích kinh tế thuần túy, qua đó gieo rắc tâm lý nghi ngờ, đối lập giữa đồng bào trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài.
Trước hết, luận điệu “trục lợi chính trị” đã cố tình đảo ngược bản chất của công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết 23-NQ/TW xác định rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”, đồng thời là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và trực tiếp đồng hành với sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này được đặt trong tổng thể chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết nhấn mạnh không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội; đề cao những điểm tương đồng, khơi dậy ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào và khát vọng phát triển. Đảng, Nhà nước khẳng định tinh thần trân trọng, cầu thị, lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt, nếu không phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc; đồng thời đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Như vậy, nếu mục tiêu thực sự là “trục lợi chính trị” theo cách như luận điệu xuyên tạc của Việt Nam Quốc dân Đảng, thì không thể có một hệ quan điểm nhất quán về hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, lắng nghe ý kiến khác biệt và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài như Nghị quyết đã xác định.
Thứ hai, luận điệu “tận thu kiều hối” thiếu cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn. Kiều hối trước hết là dòng tiền thuộc về cá nhân và gia đình, được chuyển về Việt Nam theo quyết định của người gửi, được sử dụng cho những mục đích hợp pháp của người nhận. Nhà nước không thể tùy ý biến toàn bộ lượng kiều hối thành nguồn thu ngân sách hay “thu giữ” nguồn tiền này. Chính thực tiễn dòng kiều hối vào Việt Nam cho thấy đây là nguồn lực xã hội được hình thành từ thu nhập của người Việt Nam ở nước ngoài, từ hỗ trợ thân nhân, tiết kiệm, đầu tư và các hoạt động kinh tế hợp pháp khác. Lượng kiều hối chuyển về cả nước năm 2025 đạt mức kỷ lục gần 18 tỷ USD, trong đó riêng tại TP. Hồ Chí Minh con số này vượt hơn 10,34 tỷ USD, tăng khoảng 8,3% so với năm 2024. Các nguồn chính gồm tiền kiều bào gửi hỗ trợ thân nhân và tiền của người Việt Nam lao động ở nước ngoài gửi về để đầu tư, tiết kiệm. Những con số này phản ánh quy mô của một nguồn lực kinh tế - xã hội quan trọng, nhưng hoàn toàn không phải bằng chứng cho cái gọi là “tận thu”. Nhà nước tạo điều kiện để nguồn lực được sử dụng hiệu quả, chứ không đồng nghĩa với việc biến nguồn lực tư nhân thành tài sản của Nhà nước.
Thứ ba, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với kiều bào trong những năm qua cho thấy một quá trình chuyển từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực. Đây chính là điểm mới được Nghị quyết 23-NQ/TW nhấn mạnh; đặt ra yêu cầu nâng tầm tư duy, tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời khẳng định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, bảo đảm an ninh, an toàn cho cộng đồng. Nếu chỉ nhằm “tận thu kiều hối”, tại sao Nghị quyết lại đặt trọng tâm vào việc phát huy tri thức, khoa học - công nghệ, đội ngũ chuyên gia, doanh nhân, mạng lưới quan hệ quốc tế, kinh nghiệm quản trị và các nguồn lực mềm của cộng đồng? Hơn nữa luận điệu “trục lợi chính trị” còn cố tình phủ nhận một thực tế quan trọng: quan hệ giữa Tổ quốc và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không thể chỉ được đo bằng tiền bạc. Kiều bào đóng góp cho đất nước bằng nhiều hình thức: đầu tư, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu khoa học, giáo dục, kết nối thị trường, thúc đẩy quan hệ đối ngoại, quảng bá văn hóa, hoạt động nhân đạo, thiện nguyện và tham gia các chương trình phát triển cộng đồng. Nghị quyết 23-NQ/TW đánh giá đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập tốt, giữ gìn bản sắc văn hóa, hướng về Tổ quốc và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Bởi vậy, việc quy toàn bộ chính sách kiều bào thành một phép tính “tiền - đổi lấy chính trị” không chỉ sai về thực tiễn mà còn thể hiện cách nhìn phiến diện, thực dụng về quan hệ dân tộc. Mưu đồ dùng lợi ích kinh tế để phủ định tình cảm, trách nhiệm dân tộc; lấy một dòng nguồn lực để phủ nhận hệ thống chính sách đại đoàn kết và đối ngoại nhân dân là mưu đồ thấp hèn, không thể dung thứ!
Tóm lại, Nghị quyết 23-NQ/TW thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài: từ nhận thức về cộng đồng sang nhận thức về một nguồn lực chiến lược; từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo; từ xử lý quan hệ riêng lẻ sang củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Do đó, cần kiên quyết bác bỏ luận điệu cho rằng với Nghị quyết 23-NQ/TW, Đảng, Nhà nước đang “trục lợi chính trị”, “tận thu kiều hối”; đồng thời khẳng định nhất quán quan điểm phát huy nguồn lực của kiều bào phải được đặt trên nền tảng tôn trọng, đồng hành, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, củng cố niềm tin và tăng cường gắn bó giữa người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc./.

VẠCH MẶT KẺ MƯỢN “ĐỐI THOẠI HÒA BÌNH” ĐỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAMLịch sử cách mạng Việt Nam ...
16/09/2026

VẠCH MẶT KẺ MƯỢN “ĐỐI THOẠI HÒA BÌNH”
ĐỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong công cuộc xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, trong suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi phương thức, thủ đoạn chống phá Đảng. Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh lại tiếp tục tung ra luận điệu: “Việt Nam không thuộc sở hữu độc quyền của bất kỳ đảng phái tổ chức, lực lượng chính trị hay thế hệ nào”; mục tiêu của dân chủ… là thay đổi cách thức quyền lực được hình thành, kiểm soát và chuyển giao”, mưu toan xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc phủ nhận và chấm dứt vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và quyết vạch mặt, đấu tranh, phản bác lại những luận điệu sai trái, phản động đó.
Thứ nhất, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đây là tính chính danh tối cao được luật hóa bằng Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của quốc gia. Đồng thời là sự lựa chọn lịch sử và sự thừa nhận của toàn thể nhân dân đối với vai trò cầm quyền duy nhất của Đảng, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng hay lực lượng chính trị đối lập. Đảng không chỉ đại diện cho giai cấp công nhân mà còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Mục tiêu hoạt động duy nhất của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
Việc Vũ Đức Khanh rêu rao trên các trang mạng xã hội, mượn danh nghĩa “đối thoại hòa bình” để xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo hợp hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với âm mưu, thủ đoạn nhằm tập hợp lực lượng đối lập thúc đẩy đa nguyên, đa đảng để chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam, thông qua các hội nhóm, “tổ chức xã hội dân sự” độc lập…, biến tướng các hội này thành mầm mống đảng phái đối lập, cần phải cảnh giác đấu tranh.
Thứ hai, đa đảng không đồng nghĩa với dân chủ. Nhiều quốc gia đa đảng vẫn rơi vào tình trạng bất ổn, xung đột triền miên và suy thoái kinh tế. Điển hình như: Haiti (700 đảng phái), sự tranh giành quyền lực giữa hàng chục đảng phái khiến chính phủ liên tục sụp đổ, đẩy đất nước vào khủng hoảng an ninh lương thực và bạo lực băng đảng kiểm soát thủ đô; Libya (370 đảng phái), sau khi chế độ cũ sụp đổ, việc vội vã áp dụng mô hình đa đảng, đa phe phái đã đẩy nước này vào cuộc nội chiến kéo dài, chia cắt đất nước thành các vùng lãnh thổ do các chính phủ đối lập kiểm soát; Iraq (31 liên minh chính trị lớn và 38 chính đảng đối lập), hệ thống chính trị chia rẽ theo tỷ lệ đảng phái dựa trên sắc tộc và tôn giáo (Shia, Sunni, Kurd) khiến nội các liên tục rơi vào bế tắc, tạo điều kiện cho khủng bố trỗi dậy và làm suy kiệt nền kinh tế giàu dầu mỏ…
Thực tiễn cho thấy, dù nhiều quốc gia thực hiện đa đảng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc quyền làm chủ của đa số nhân dân được bảo đảm. Những cuộc lật đổ, tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị ở một số nước trên thế giới làm cho nhiều người thiệt mạng và lâm vào cảnh nghèo đói. Thực chất của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập chính là sự phân chia, tranh giành quyền lực giữa các lực lượng chính trị trong xã hội, là một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các phe nhóm trong cùng giai cấp để giành và giữ chính quyền, kiểm soát xã hội. Đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực, hệ quả xã hội điển hình nhất của nó là việc chiếm hữu và hưởng thụ tài nguyên xã hội theo tỷ lệ bất công “99% và 1%”, cụ thể, phong trào chiếm lấy phố Wall ở Mỹ những năm trước đây đã phơi bày.
Như vậy, luận điệu của Vũ Đức Khanh đã lộ rõ bản chất thâm độc lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, cổ xúy cho mô hình đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập, xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, chúng ta cần vạch mặt những kẻ chống phá như Vũ Đức Khanh, đồng thời kiên định tính chính danh và mô hình một Đảng Cộng sản duy nhất lãnh đạo tại Việt Nam./.

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CHỚP LỬA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share