An Lạc

An Lạc An lạc - Sống tỉnh thức từng Sác-na để cuộc đời này trọn vẹn.

CHỈ CÓ PHƯỚC BÁO MỚI CỨU CHÚNG TA, TRƯỚC NGHỊCH CẢNH BIẾN CỐ CUỘC ĐỜI ? Trong cuộc đời, không ai tránh khỏi những biến c...
04/10/2025

CHỈ CÓ PHƯỚC BÁO MỚI CỨU CHÚNG TA, TRƯỚC NGHỊCH CẢNH BIẾN CỐ CUỘC ĐỜI ?

Trong cuộc đời, không ai tránh khỏi những biến cố, nghịch cảnh: bệnh tật bất ngờ, tai nạn, mất mát, hay những sóng gió ngoài ý muốn. Khi đối diện, con người thường bám víu vào tiền bạc, địa vị, quyền lực, hay mối quan hệ để tìm nơi nương tựa. Nhưng sự thật phũ phàng là tất cả những thứ ấy chỉ có giới hạn, không thể bảo đảm an toàn tuyệt đối cho chúng ta. Chỉ có phước báo - kết quả của những hạt giống thiện lành gieo trồng trong quá khứ và hiện tại - mới che chở ta vượt qua mọi khổ nạn.

Phước báo không phải điều huyền bí, mà chính là thành quả của nhân quả. Người biết sống thiện lành, biết bố thí, giúp người, giữ giới, hành thiện, thì như đang tích góp cho mình một nguồn năng lượng an lành. Khi nghiệp dữ khởi lên, chính phước báo ấy sẽ hóa giải, giảm nhẹ hoặc chuyển đổi nghịch duyên thành thuận duyên. Giống như một bát muối mặn, nếu đổ vào cốc nước thì mặn chát, nhưng nếu đổ vào hồ lớn thì trở nên nhạt. Hồ lớn ấy chính là phước báo của mỗi người.

Phước báo không thể mua, cũng chẳng thể vay mượn. Nó chỉ đến từ đời sống chân chánh, biết thương yêu, biết chia sẻ, biết sống đúng với lẽ nhân quả. Người có phước, gặp nguy hóa an, gặp dữ hóa lành. Người thiếu phước, chỉ một biến cố nhỏ cũng đủ làm chao đảo cả cuộc đời.

Vì vậy, điều quý giá nhất không phải là gom góp tiền bạc hay danh vọng, mà là tích lũy phước báo bằng việc làm thiện, lời nói lành, và ý nghĩ trong sáng. Đó mới là tài sản chân thật, là hành trang vững chắc để ta đi qua mọi sóng gió cuộc đời. Có thể nói, trong dòng đời vô thường đầy bất trắc, chỉ có phước báo mới thật sự cứu chúng ta. Ai biết gieo trồng phước lành hôm nay, chính là đang xây dựng cho mình một mái nhà an toàn trước mọi giông bão ngày mai.

Phước Lực : 3/10/2025
Ảnh: Trần Lịch

TẠI SAO TẤT CẢ KINH ĐIỂN, TRƯỚC HẾT ĐỀU BẮT ĐẦU BẰNG CÂU "TÔI NGHE NHƯ VẦY"?[HT. Tuyên Hóa giảng giải]Sở dĩ có mấy chữ “...
02/10/2025

TẠI SAO TẤT CẢ KINH ĐIỂN, TRƯỚC HẾT ĐỀU BẮT ĐẦU BẰNG CÂU "TÔI NGHE NHƯ VẦY"?

[HT. Tuyên Hóa giảng giải]

Sở dĩ có mấy chữ “NHƯ THỊ NGÃ VĂN” – “TÔI NGHE NHƯ VẦY” - là bởi bốn nguyên do sau: Đó là bốn điều Tôn giả A-nan hỏi Phật.

Số là khi Phật sắp nhập Niết bàn, Tôn giả A-nan rất đỗi bi thương, quên hết mọi sự mà chỉ biết than khóc. Ngày ấy, ngài A-nan đã chứng Sơ quả, song ngài vẫn chưa đoạn được vấn đề tình cảm, cho nên khi biết tin Phật sẽ nhập Niết Bàn, ngài không thể nén được xúc động nên mới khóc lóc một cách bi thảm, cơ hồ chỉ biết khóc, chẳng biết chuyện gì khác nữa.

Lúc đó có một vị tôn giả [Tôn giả A-nậu-lâu-đà] nhắc cho ngài thức tỉnh và nói rằng: “Ông vốn có bổn phận ghi nhớ lại các lời Phật dạy, nay Phật sắp vào Niết Bàn, ông hãy ráng tỉnh táo mà nghĩ cho kỹ! Ngay bây giờ, ông hãy xét coi có điều gì trọng yếu thì phải hỏi Phật đi, đặng Phật chỉ dạy cho. Ông chỉ khóc lóc như vậy thì trong tương lai chúng ta sẽ ra sao đây?” Nghe lời nhắc nhở đó, Đức A-nan bèn tỉnh ngộ, ngài nói: “Đúng vậy! Có vấn đề gì quan trọng thì chúng ta phải mang ra hỏi Phật ngay. Có điều tôi khóc quá nên quên cả mọi thứ. Bây giờ chúng ta phải hỏi Phật những điều gì đây? Đầu óc tôi rối như tơ vò, chẳng còn nghĩ ra được vấn đề gì cả”.

Vị tôn giả nói trên nói: “Ông cần hỏi Phật rằng trong tương lai khi kết tập kinh tạng, ở mỗi bộ kinh phải lấy những chữ gì để bắt đầu. Đó là câu hỏi thứ nhất. Điều thứ hai là khi Phật tại thế thì Ngài là thầy của chúng ta; sau khi Phật nhập Niết Bàn thì ai sẽ là thầy? Điều này cũng cần phải hỏi Phật. Thứ ba, ông hỏi Phật rằng khi Ngài tại thế thì tất cả các Tỳ-kheo chúng ta ở cùng với Ngài. Vậy khi Ngài nhập Niết Bàn rồi, chúng ta sẽ ở với ai? Điều thứ bốn là khi Phật tại thế nếu Tỳ- kheo nào có ác tính thì Phật điều phục họ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, ai sẽ điều phục họ?”

Tôn giả A-nan đáp: “Bốn vấn đề vừa nói quả là trọng yếu rất mực, tôi sẽ phải đi hỏi Phật ngay.”
Nói rồi, Tôn giả A-nan đi đến trước Phật, chắp tay, quỳ gối và thưa rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Nay Ngài sắp nhập Niết Bàn nên chúng con có những vấn đề quan trọng muốn thỉnh Phật chỉ dạy cho chúng con.

Phật nói:

- Ông muốn hỏi điều gì thì cứ việc hỏi.

Tôn giả A-nan thưa:

- Trong thời gian trụ thế, Thế Tôn đã thuyết pháp 49 năm, nói kinh trong hơn ba trăm pháp hội, vậy ngày sau, khi kết tập kinh tạng thì phải lấy những chữ gì để khởi đầu cho mỗi bộ kinh?

Phật đáp:

- Kinh điển của chúng ta khác với kinh điển của ngoại đạo. Kinh của các đạo khác nếu họ chẳng nói về “có”, thì nói về “không”. Phần ghi trên đầu các kinh đều chẳng đi ra ngoài hai chữ “có” và “không”. Vậy về điểm này, đối với kinh của chúng ta, các ông nên ghi mấy chữ “TÔI NGHE NHƯ VẦY”, ngụ ý rằng “TÔI, A-NAN, CHÍNH TÔI ĐƯỢC NGHE NHƯ VẦY, CHỚ ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ LỜI TÔI NGHE NGƯỜI TA TRUYỀN LẠI”.

A-nan thưa:

- Xin vâng! Trong tương lai chúng con sẽ ghi mấy chữ “tôi nghe như vầy”. Điều thứ hai con muốn thỉnh Phật chỉ dạy là khi Phật còn ở tại thế gian, tất cả các Tỳ-kheo chúng con đều tôn Phật là thầy. Vậy sau khi Phật vào Niết Bàn rồi, chúng con sẽ tôn ai làm thầy?

Phật đáp:

- SAU KHI NHƯ LAI NHẬP NIẾT BÀN, CÁC ÔNG SẼ LẤY “GIỚI” LÀM THẦY. Ba-la-đề- mộc-xoa chính là thầy của các ông. Các ông giữ được giới thì chẳng khác gì ta còn tại thế. Các ông hãy làm các điều lành và tránh xa các điều ác.

A-nan hỏi:

- Điều thứ ba con xin thỉnh Phật chỉ dạy là nay Phật trú ở thế gian, chúng con trú cùng một nơi với Phật, thường theo học với Phật. Vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì các Tỳ-kheo chúng con sẽ trú cùng với ai?

Phật đáp:

- SAU KHI TA NHẬP NIẾT BÀN, TẤT CẢ TỲ-KHEO CÁC ÔNG PHẢI TRÚ VÀO TỨ NIỆM XỨ. Tứ Niệm Xứ, hay bốn lãnh vực quán niệm, gồm có thân, thọ, tâm và pháp. Các ông phải an trú vào bốn nơi này để quán niệm.

Thứ nhất là quán thân bất tịnh, nghĩa là mình tự quán sát thân thể của mình, thấy thân thể này chẳng có cái gì gọi là sạch sẽ, tinh khiết, nó chỉ là sự tổng hợp của bốn đại: đất, nước, gió, lửa mà thành. Thứ hai là quán thọ là khổ, thứ ba quán tâm là vô thường, thứ tư quán pháp là vô ngã.

A-nan hỏi Phật điều thứ tư:

- Về những Tỳ-kheo có tánh ác, họ đều được Phật điều phục khi Phật còn tại thế. Vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu có Tỳ-kheo có tánh ác, chúng con sẽ phải đối xử với họ ra sao?

Phật đáp:

- TRONG TƯƠNG LAI NẾU CÁC ÔNG GẶP NHỮNG TỲ-KHEO NÀY THÌ NÊN LẶNG YÊN VÀ BỎ MẶC HỌ (mặc tẩn).

Điều này có nghĩa là khi gặp những trường hợp này, ta nên giữ im lặng, không nói chuyện với những người ấy. Bỏ mặc tức là bỏ đi nơi khác, không lý tới họ, không tranh cãi với họ. Như vậy, ít lâu sau họ sẽ tự cảm thấy rằng họ sai và sẽ tự sửa chữa. Đối với những người đó, nếu quý vị lại hỏi han, tranh biện với họ thì họ sẽ tự cảm thấy họ có giá trị. Còn như quý vị chẳng hỏi han gì, họ sẽ cảm thấy họ chẳng hay ho gì. Thế nào gọi là Tỳ-kheo có tính ác? Nên nhớ rằng chẳng phải người xuất gia nào cũng cố gắng tu đạo, chẳng phải bất cứ ai ở đây cũng chịu tu hành.

--

PHỤ CHÚ:

 Ngài A Nan ít tuổi hơn đức Phật rất nhiều, khi đức Phật ba mươi tuổi thành đạo, thì cũng lúc ấy Ngài A Nan ra đời. Ngài A Nan hai mươi lăm tuổi mới xuất gia, vậy hai mươi lăm năm về trước, Kinh điển của Phật nói, Ngài cũng chẳng nghe qua, sao Ngài lại đi kết tập Kinh điển? Ngài A Nan là em bà con chú bác với Ðức Phật, tuy hai mươi lăm tuổi mới xuất gia, nhưng Ngài thỉnh cầu đức Phật nói lại hết những Kinh điển đã nói lúc trước. Do đó, Phật dùng sức thần thông, nói lại hết những Kinh điển đã nói lúc trước cho Ngài A Nan nghe. Sức trí nhớ của Ngài A Nan tốt vô cùng, một khi lọt vào tai thì vĩnh viễn không bao giờ quên. Cho nên nói: "PHẬT PHÁP NHƯ BIỂN CẢ, CHẢY VÀO TÂM A NAN". Hơn nữa Ngài A Nan cũng là đại quyền thị hiện, vì trong quá khứ tất cả chư Phật nói Kinh điển, cũng đều do Ngài A Nan kết tập, hơn nữa mỗi vị Phật thuyết pháp cũng đều như nhau, cho nên Ngài A Nan khai ngộ rồi, đều nhớ lại tất cả pháp tạng của tất cả Chư Phật đã nói trong quá khứ.

24/09/2025

Hướng dẫn thực hành cho cư sĩ mới bắt đầu
1. Nền tảng nhận thức

- Học Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Giới.
- Thấm nhuần Luật Nhân Quả: gieo nhân nào, gặt quả nấy, không ai có thể thay thế.
- Hiểu rõ Tứ Y: Y trí, y pháp, y nghĩa, y kinh liễu nghĩa.

2. Thực hành cơ bản hàng ngày

Sáng:
- Thức dậy trong chánh niệm, đọc 1 đoạn kinh ngắn (Kinh Phước Đức, Kinh Từ Bi, Bát Nhã Tâm Kinh).
- Ngồi yên 5–10 phút, quán niệm hơi thở.

Trong ngày:
- Giữ giới không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, nghiện ngập.
- Thực hành bố thí nhỏ: giúp người, nói lời ái ngữ, nở nụ cười.
- Quan sát tâm khi gặp tham, sân, si, không để nó lôi kéo.

Tối:
- Tụng một thời kinh ngắn hoặc đọc 5–10 phút sách Phật Pháp.
- Quán chiếu lại ngày sống: đã làm gì thiện, đã sai ở đâu, rút kinh nghiệm.
- Hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh.

3. Thực hành hằng tuần
- Dành ít nhất một buổi để tham gia khóa lễ, nghe giảng pháp hoặc sinh hoạt đạo tràng.
- Tham gia một việc thiện cụ thể: giúp người khó khăn, ủng hộ quỹ từ thiện, hoặc đơn giản là phụ giúp trong gia đình với tâm hoan hỷ.

4. Thực hành tinh tấn:
- Đọc trọn một bộ kinh căn bản (như Kinh Pháp Cú, Kinh A Di Đà, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang) để thấm nhuần ý nghĩa.
- Tập quen với thiền quán: bắt đầu từ 5–10 phút, dần nâng lên 30 phút mỗi ngày.
- Tạo cho mình một nhóm bạn đạo để cùng học hỏi, chia sẻ, khích lệ nhau.

5. Tiêu chuẩn tiến bộ của một cư sĩ
- Ngày càng bớt tham, bớt sân, bớt si.
- Gia đình hòa thuận hơn, công việc thuận lợi hơn do sống đúng nhân quả.
- Tâm thường an ổn, ít bị lay động trước nghịch cảnh.
- Có khả năng chia sẻ Phật Pháp bằng chính cuộc sống, không cần nói nhiều.

Lời kết

Người cư sĩ tại gia không thua kém gì người xuất gia nếu biết tu ngay trong đời sống. Đạo Phật không bắt buộc phải rời bỏ gia đình, mà cốt yếu là chuyển hóa nội tâm, sống giữa đời mà vẫn an nhiên, như hoa sen nở giữa bùn.

Tu là tự độ. Khi mình chuyển hóa, thì tự nhiên ảnh hưởng lan tỏa đến gia đình, xã hội. Đó chính là cách một cư sĩ góp phần làm sáng đạo Phật trong thời hiện đại.

Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA VIỆC TU CỦA CƯ SỸ TẠI GIANếu có đọc Kinh Phật, ta sẽ thấy rất nhiều giải thích về ý nghĩa thật sự nh...
24/09/2025

Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA VIỆC TU CỦA CƯ SỸ TẠI GIA

Nếu có đọc Kinh Phật, ta sẽ thấy rất nhiều giải thích về ý nghĩa thật sự những hình tướng mà các Tu Sĩ vẫn đang thể hiện dành cho các cư sỹ tại gia. Xin tạm nêu một số sau:

– XUẤT GIA không phải là chỉ rời bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con… mà là RA KHỎI NHÀ LỬA TAM GIỚI.

– CẠO TÓC không phải là cạo đầu, mà ý nghĩa thật sự là CẠO SẠCH PHIẾN NÃO.

– ĐẮP Y không chỉ là khoác trên người mảnh Y màu vàng của nhà Phật, mà là TRÙM PHỦ LÊN THÂN TÂM một màu Giải thoát.

– KHẤT THỰC không phải là đi xin thức ăn phàm tục, và với người Tu có nghĩa là KHẤT PHÁP THỰC. Vì thực phẩm phàm chỉ nuôi dưỡng cái Thân Phàm. Chỉ có Pháp Thực mới nuôi dưỡng Pháp Tánh.

– Việc THẮP HƯƠNG cũng không phải là lấy lửa đốt lên những cây nhang có tẩm mùi thơm. Mà là lấy LỬA TRÍ HUỆ, đốt lên HƯƠNG GIỚI, ĐỊNH, HUỆ, GIẢI THOÁT, GIẢI THOÁT TRI KIẾN.

Tức là Giữ cái Tâm không tưởng nhớ điều quấy, không làm việc ác, không Tham Lam, Giận Hờn, Thương, Ghét. Giữ cái Tâm không tán loạn, không dính vào lành, dữ, nhân, ngã, lại học rộng, nghe nhiều để củng cố sự hiểu biết về Đạo pháp vv…

– CHÙA là nghĩa của THANH TỊNH ĐỊA. ĐỊA đây là nói về ĐẤT TÂM. Có nghĩa là tẩy, rửa, cải tạo cho cái TÂM của mình hết tội lỗi, hết nghĩ ác, làm ác, để nó được thanh tịnh, là ta đã biến cái TÂM của mình thành nơi cho Phật ngự. Không phải là dùng vật liệu phàm tục rồi xây cái nhà với mái cong và đặt nhiều tượng Phật vô đấy với vài vị Sư, Tăng đầu tròn, áo vuông thì nơi đó trở thành Chùa.

– PHẬT có nghĩa là GIẢI THOÁT. Người Giải Thoát cho bản thân hết Phiền Não thì đó là PHẬT. Do vậy mà Kinh mới gọi là BA ĐỜI PHẬT. Tức là Quá Khứ đã có nhiều vị được Giải Thoát. Hiện Tại cũng có, mà Tương Lai cũng sẽ có nếu làm đúng theo những lời Phật dạy.

– Phật Thừa là Đắc cái Vô Sở Đắc, cái không còn Ta Chứng Đắc. A LA HÁN còn Sở Đắc. Kinh Đại Thừa viết: Trong Phật Pháp, người có chứng đắc là kẻ Tăng thượng mạn.

– TRỪ TAM TÂM không có nghĩa là bỏ hết các Tâm Quá Khứ, Tâm hiện tại, Tâm vị lai, mà là TRỪ ĐI TÂM THAM, TÂM SÂN, TÂM SI. Bởi vì nếu con người đang sống mà bỏ hết mọi nghĩ tưởng thì trở thanh gỗ, đá vô tri. Đạo Phật đâu có dạy người tu để trở thành vật vô tri.

Do vậy mà Kinh dạy có 4 điều nên Y theo, gọi là TỨ Y: Y TRÍ BẤT Y THỨC. PHÁP BẤT Y NHÂN. Y NGHĨA BẤT Y NGỮ. Y KINH LIỄU NGHĨA BẤT Y KINH VỊ LIỄU NGHĨA. Có nghĩa là hãy Y theo TRÍ, tức là sự hiểu biết sáng suốt về Đạo Pháp, dừng y theo sự hiểu biết thông thường của con người. Y theo Pháp mà học hỏi, tu hành, đừng Y theo người, (nghĩa bóng là hình tướng bên ngoài). Y theo NGHĨA, đừng Y theo chữ. Và Y theo Kinh khi đã rõ nghĩa, đừng y theo Kinh khi chưa rõ nghĩa.

Tôi cho rằng cái hiểu về ngôn từ của Đạo Phật dù chùa chiền nhiều như vậy nhưng Phật Tử vẫn chưa được giải thích rõ ràng. Đến thời này nhiều người vẫn còn hiểu, còn tin là Phật quyền phép vô song, cứu độ tất cả chúng sinh, cầu gì được nấy, nên sống thì cầu an, chết thì cầu siêu. Cầu thăng quan tiến chức, tai qua, nạn khỏi, không biết rằng Đạo Phật cũng được gọi là Đạo NHÂN QUẢ. Nếu đã thật sự tin vào Nhân Quả thì việc cầu xin, cúng kiến có ích gì?

Ai cũng có nghe nói là PHẬT TẠI TÂM. Vì vậy, Nước Phật được Kinh tả là có “Ao nước chứa tám Công Đức”. Thật ra đó chỉ là ý nghĩa của kết quả việc Hành theo Bát Chánh Đạo. Và“dây vàng, Bảy Báu giăng khắp”. Đó chỉ là thành tựu của việc trừ 7 Nghiệp nơi THÂN, KHẨU, Ý. Những công việc như vậy gọi là DỰNG MỘT CẢNH CHÙA TRONG NỘI TÂM, để cho CHƯ PHẬT của mình ngụ.

Nếu chúng ta ý thức được Đạo Phật dạy mỗi người “TỰ TU”, “TỰ ĐỘ”. Con của Phật là La Hầu La, em của Ngài là A Nan cũng phải tự tu để tự độ thì mỗi người lo TỰ ĐỘ LẤY MÌNH, đâu cần người khác phải Độ cho. Thời nay, Đạo Phật đã thịnh hành, Kinh Điển đã được dịch ra tiếng Việt, ai cũng có thể thỉnh về để tự đọc và hành trì theo.

Phật pháp cần phổ cập, để mọi người vẫn cứ giữ tròn bổn phận làm người, làm công dân, làm con, làm cha mẹ của mình, tùy theo khả năng để chung tay, góp sức trả nợ cuộc đời. Trong đó vẫn tu sửa cái Tâm để bản thân mình ngày càng hoàn thiện hơn. Xã hội không còn cảnh đấu tranh, giành giật, tàn sát lẩn nhau. Để mọi người cùng được an vui trong kiếp sống ngắn ngủi này.

Kiếp sau nếu có thì lại càng tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của Đạo Phật, và như thế mới đúng với ý nghĩa của HOA SEN mà Đạo Phật dùng làm biểu tượng. Đâu cần phải đóng khung, lìa bỏ cuộc đời mới tu được ?

TU chỉ mang một nghĩa duy nhất là SỬA. Vậy thì Ở đâu? Mặc gì? làm gì mà không SỬA được? Hơn nữa, nếu tách rời thế gian, tránh né pháp, không tiếp xúc với nó thì mới tu được thì làm mất đi ý nghĩa thật sự của Hoa Sen mà Phật muốn con người noi theo

Kinh giải thích “Phật là Vô Tướng, do vô lượng Công Đức mà thành”, tức là nói về Công Đức Trì Giới, hành Thiện hạnh của mỗi người, tạo thành những sự an lạc, thanh tịnh trong Tâm. Như vậy thì xây Chùa hữu tướng cho to để Phật nào ngự?

Trong số hơn mười mấy ngàn ngôi Chùa rải rác trên cả nước và cả mấy trăm ngàn Tăng Ni chính thức, được bao nhiêu người thật sự Ngộ Đạo, có thể giảng nói Phật Pháp, làm ích lợi cho bá tánh? Hơn nữa, dù là thật tâm tu hành đi nữa, nhưng việc tu hành theo Đạo Phật chỉ là TỰ ĐỘ, thì việc nhờ người khác Độ cho để mình rảnh rang, nhàn thân để tu hành, Thành Phật, liệu có phải là Chánh Nghiệp, Chánh Mạng?

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NGƯỜI CÓ TU TẬPBiểu hiện rõ nhất của người có tu không phải là vốn kiến thức Phật Pháp tích lũy được...
10/06/2025

NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NGƯỜI CÓ TU TẬP

Biểu hiện rõ nhất của người có tu không phải là vốn kiến thức Phật Pháp tích lũy được, mà chính thái độ sống của người đó được toát ra từ ba nghiệp THÂN - KHẨU - Ý.

Đa phần chúng ta thực hành máy móc, nghe ai nói sao thì làm vậy, mà
- Không có CHÁNH KIẾN và sự suy xét, tư duy cho thấu đáo, để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm trong việc dụng tâm và tu tập.

Bài viết này không có đi vào cụ thể của từng pháp tu, mà chỉ trình bày về những dấu hiệu, hay kết quả hiện ra của một người tu đúng, gieo nhân đúng, công phu đúng qua một khoảng thời gian tu nhất định, kết quả tùy vào phước duyên và nỗ lực của từng người.

Người tu đúng thì qua thời gian các dấu hiệu sau thường hiện ra :

PHONG CÁCH ĐIỀM NHIÊN, NHẸ NHÀNG, BÌNH TĨNH, THƯ THÁI:
Vì qua một quá trình dụng tâm, kiểm soát tâm, giống như việc
- Thuần hóa một con thú hoang dại, quen nhảy nhót, là tâm chúng ta “Tâm viên - Ý mã”.

Sau một thời gian, nếu người ấy kiểm soát tâm tốt, buông bỏ cái tôi, xả ly sự kiêu mạn thuộc về..''SỞ TRƯỜNG - SỞ ĐOẢN” của bản ngã
- Thì sự điềm đạm, điềm nhiên và thư thái sẽ hiện ra, nó là kết quả tự nhiên của một cái tâm đã được chế ngự và thuần hóa.

MẶT MŨI, TƯỚNG MẠO NHÌN TƯƠI SÁNG:
Vì giữa tâm và thân tướng, chúng có mối liên hệ khá mật thiết với nhau.
Một người mà trong tâm an vui, có tu tập và chuyển hóa được các nghiệp chướng thì dần dần diện mạo bên ngoài của người ấy nhìn
- Sẽ rất sáng, mặt lúc nào cũng rất tươi vui, không có u sầu, đau buồn,
- Lúc nào cũng tràn đầy sức sống.
- Người nào có được những điều như vậy, thì đây là một dấu hiệu của người tu đúng.

GIỌNG NÓI CÓ ÁI NGỮ, NỒNG HẬU:
Đây là do bên trong tâm người ấy tu qua thời gian đã có sự tăng trưởng tâm từ tâm bi, một tình thương bình đẳng, và rộng lớn với tất cả muôn loài.
- Từ sự thương yêu chân thành cho dù giọng nói mộc mạc, chất phát mà vẫn đầy nhân văn, ấm áp, nồng hậu và đến được lòng người..

Và hơn nữa, cũng do sau một quá trình tu và kiểm soát khẩu nghiệp, biết cân nhắc trước khi cất lời,
Nên những lời nói của họ dần trở nên rất chuẩn mực. Như họ
- Không nói dối,
- Không nói ác khẩu,
- Không nói hai lưỡi,
- Không nói chia rẻ,
- Không nói xấu,
viết xấu đả kích, bộ nhọ sau lưng người v.v...

ĐỜI SỐNG TINH THẦN MÃN TÚC, CUỘC SỐNG VẬT CHẤT ỔN ĐỊNH KHÔNG BỊ THIẾU THỐN:
Nhiều người tu, nhưng càng tu mà càng càng nghèo túng, lúc nào cũng bị những nhu cầu vật chất căn bản bức bách.
- Đây là dấu hiệu của tu mà không có phước, thiếu phước, vì không biết làm phước.
Nên người tu đúng là
- Tiền của, cái ăn, cái mặc tuy không giàu như người đời nhưng lúc nào cũng có đủ,
- Người ấy không tham, không hưởng thụ,
và lấy đời sống đơn giản và thanh bạch làm nguồn vui.

MỌI VIỆC ĐỀU CHUYỂN TỪ XẤU THÀNH TỐT:
Trong cuộc sống, khi sinh hoạt, giao lưu và làm ăn trong xã hội, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp toàn thuận lợi cả.
- Có những lúc cũng khó khăn, hoặc bị đặt trong những tình huống khó xử, khó giải quyết, rất nan giải.
Thế nhưng người tu tốt, chắc chắn sẽ chuyển được nghiệp cũ và có được sự gia hộ của Chư Phật, nhờ đó họ sẽ từ từ tháo gỡ ra được mọi bế tắc.
- Mọi việc xấu sẽ biến thành tốt dần dần như ý nguyện. ''Phước tùy tâm sanh.Cảnh tùy tâm chuyển'' là thế!

TRONG GIA ĐÌNH THÌ THƯỜNG GẶP MAY MẮN, THUẬN HÒA, AN VUI:
Do tâm được huân tu tốt, tâm từ lan tỏa tốt nên tâm của người tu ấy sẽ
- Lan tỏa những nguồn năng lượng tốt ra xung quanh, và những người sống chung cùng, sống gần sẽ dần bị thay đổi theo, là cũng hiền lành, và thánh thiện dần.
Một khi cảm hóa đươc ai cũng hiền lành, tức là họ cũng đang gieo nhân lành, tức có quả thiện quả may mắn hạnh phúc.
- Hơn nữa, khi một người tu tốt từ trường của họ sẽ tự động thu hút quý nhân giúp đỡ cho gia đình và quyến thuộc cuả người ấy.
Nên gia đình người đó cũng sẽ gặp được nhiều may mắn hạnh phúc.

Trên đây là những dấu hiệu cơ bản của người tu đúng hiện ra, bạn có thể viết thêm những đặc điểm khác dựa trên trải nghiệm cá nhân.
Còn nếu chúng ta tu thời gian mà không có dấu hiệu nào trên đây hết.
- Thì cần nên xem xét lại cách tu, có thể mình đang tu sai, tu trật điều gì đó.
Tu có nghĩa là chuyển hóa tư tưởng và hành vi và sống có hạnh phúc hơn,
- TU có nghĩa là “CẠO TÂM CHỨ CHẲNG PHẢI CẠO ĐẦU”

Sưu tầm

27/05/2025

Phật dạy lấy bệnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm giải thoát, lấy khúc mắc làm thú vị, lấy ma quân làm bạn đạo, lấy khó khăn làm thích thú, lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy người chống đối làm nơi giao du, coi thi ân như đôi dép bỏ, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.
Thứ nhất, nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sinh.

Thứ hai, ở đời đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

Thứ ba, cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

Thứ tư, xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

Thứ năm, việc làm đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu ngạo.

Thứ sáu, giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

Thứ bảy, với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

Thứ tám, thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà ý có mưu đồ.

Thứ chín, thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

Thứ mười, oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

Bởi vậy, Phật dạy lấy bệnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm giải thoát, lấy khúc mắc làm thú vị, lấy ma quân làm bạn đạo, lấy khó khăn làm thích thú, lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy người chống đối làm nơi giao du, coi thi ân như đôi dép bỏ, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh. Nên chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt, mà cầu mong thông suốt thì sẽ bị trở ngại.

Thế Tôn thực hiện tuệ giác Bồ-đề ngay trong mọi sự trở ngại. Ương-quật hành hung, Ðề-bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi, và sự phá hoại lại làm sự tác thành, hay sao? Ngày nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào?

Ghi chú:

Trước đây 10 điều tâm niệm tôi dịch từ sự trích lục của một bộ sách. Nay thì tìm ra và dịch theo nguyên văn, nằm trong Đại tạng kinh Đại Chính tân tu 47/373, tên sách là Bảo vương tam muội niệm Phật trực chỉ, của ngài Diệu Hiệp, một tác phẩm mà ngài Vân Thê muốn nhưng chưa thấy được (Đại tạng kinh Đại Chính tân tu 47/354). Mười điều tâm niệm được mở đầu bằng những lời sau đây.

Tâm tánh bình đẳng, bản thể nguyên vẹn. Do đó mà chúng sinh tuy bị ràng buộc trong nghiệp thức, nhưng không ai lại không có cái chí xuất trần. Thế nhưng muốn tham cứu đạo lý thì ma chướng đã hiện ra, một việc phiền lòng là vạn điều thiện mất cả, thành công thì nhỏ mà thất bại quá lớn, nên người đắc đạo quả thật quá ít. Huống chi vật dục đua nhau khuynh loát tâm trí, sống chết giành nhau đánh đổ sinh mạng, khiến ai cũng như ai.

Làm cho cái Pháp mà Phật đã trải qua 3 vô số kiếp, hy sinh vô số đầu mắt tủy não, quốc thành thê tử, thân thịt tay chân, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tiến, phụng sự thiện hữu, không tiếc tính mạng trong việc tu tập các nhân tố của tuệ giác Bồ-đề mới thực hiện được, cái Pháp ấy nhất đáng đến ta, gặp trở ngại mà thoái chí là mất tất cả, thật đáng thống hận. Nay ta đã làm con Phật, vậy mà không nỗ lực phấn đấu, ngồi mà nhìn con mắt tuệ giác của pháp giới chúng sinh mù mất, thì thật đau lòng còn hơn cắt da xả thịt.

Do đó mà tôi y cứ kinh điển, lập ra “10 hạnh trở ngại lớn lao”, mệnh danh là “10 hạnh không cầu”. Tình đời dẫu chẳng ai muốn trở ngại, nhưng cố gắng chấp nhận thì những trở ngại ấy hiện ra, thân tâm ta nhờ đã nung luyện trước trong đó, nên các thứ ma, mọi thứ ác, hết thảy trở ngại không thể khuynh đảo hay cản trở được nữa. Như vàng ở trong lò lửa, lửa nung vàng, nhưng vàng lại nhờ đó mà thành vật dụng ...

Và “10 hạnh không cầu” ấy tôi đổi tên là “10 điều tâm niệm”.

Trí Quang thượng nhân

BÀI THỰC TẬP CHÁNH NGỮThiền sư Thích Nhất HạnhKhông thể hiểu được chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ nếu không biết r...
04/05/2025

BÀI THỰC TẬP CHÁNH NGỮ
Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Không thể hiểu được chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ nếu không biết rằng tất cả chúng ta đều có hạt giống của những chánh đạo này trong tâm thức.

Nhắc lại, năm yếu tố tạo thành con người là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc là phần sinh lý. Thọ là cảm giác.

Tưởng là tri giác. Tri giác gồm có hai phần: chủ thể của tri giác, và đối tượng của tri giác.

Chúng ta thấy một cái bàn, cái bàn mà chúng ta đang thấy và đang sờ vào là đối tượng của tri giác, của tưởng. Còn tự thân cái bàn có thể rất khác. Đối với một con mọt đang ăn cái bàn thì đó là một kho thức ăn. Cũng một dòng sông, đối với con cá là nhà cửa, là lâu đài của nó mà đối với chúng ta đó là cái nơi để lấy nước tắm và giặt.

Khi hai người ghét nhau, thì trước hết họ ghét cái đối tượng tri giác, cái tưởng của họ về người kia. Nhưng tự thân người kia so với ý niệm mình có về người kia thường rất khác nhau. Hai kẻ yêu nhau cũng vậy. Người được yêu khác với hình ảnh trong tri giác người đang yêu. (Cưới về ba, bốn năm sau mới thấy được một phần sự thật!). Vậy tri giác có thể rất sai lầm.

Ví dụ như ta chụp ảnh cây bồ đề. Nhìn hình ảnh ta thấy cây bồ đề, nhưng đó chỉ là hình ảnh cây bồ đề thôi. Cây bồ đề thật ở ngoài không phải là cây bồ đề in trên phim ảnh. Chánh kiến tùy thuộc vào tưởng. Vì thế luôn luôn ta phải dùng chánh niệm, phải trở về khám phá những thiếu sót, sai lầm của tưởng. Đó là phương pháp duy nhất để cho cái thấy của ta bớt sai lầm, để tăng thêm phần chánh kiến. Chánh kiến mạnh thì tư duy mới vững vàng được.

Ta hãy lấy một ví dụ thực tập về chánh ngữ để giải toả những nội kết gây xung đột giữa hai người bạn. Cũng có thể áp dụng cho hai người thân yêu, như anh em, vợ chồng, v.v..

Có một người tên là A và có một người tên là B, liên hệ giữa A và B không tốt đẹp. Mỗi khi A nói thì B khó chịu và mỗi khi B nói thì A khó chịu. Có thể A có lòng tốt không muốn làm khổ B, và B có lòng tốt không muốn làm khổ A, nhưng hai người vẫn làm khổ nhau hoài. Có thể là A vụng về trong khi nói hay B vụng về trong khi nói. Muốn giải quyết, chúng ta không thể chỉ tuyên bố rằng cả hai bên đều có lòng tốt cả, không sao. Nói như vậy không đủ. Chúng ta phải quán chiếu sâu xa để thấy nguồn gốc ở nơi tưởng, nơi tri giác của mỗi người.

Ở làng Hồng các thiền sinh đã thực tập viết thư gửi Bụt. Chúng ta thử bắt chước phương pháp đó trong trường hợp này. Mời hai người cùng đại chúng vào ngồi trong một căn phòng, hai người ngồi hai bàn khác nhau. Đưa cho A và B mỗi người một tờ giấy trắng, A sẽ viết cho B một lá thư, và B viết cho A một lá thư. Viết xong hai người trao thư cho nhau. Mỗi người nhận rồi đem thư ra đốt, không cần đọc. Trong đại chúng không ai biết trong thư nói gì cả.

Trước khi thực tập, hai người được hướng dẫn riêng về “mẫu viết thư”. Mục đích của lá thư là cho mỗi người có dịp quán chiếu về tánh tình, phản ứng và hành động của mình và của người kia. Thí dụ lá thư của A viết như sau:

Phần 1 – A biết tánh của B như thế này (… ..) Mấy dấu chấm trong ngoặc này là nơi A quán chiếu về B. Nhìn vào người kia, ta thấy tánh khí và tâm trạng của người đó, các thói quen, tập khí của người đó, quá khứ thời thơ ấu lớn lên trong gia đình, trong học đường như thế nào, v.v.. Như thế gọi là quán chiếu.

Phần 2 – Cho nên mỗi khi B nói hay làm như vậy (như vậy là làm sao, phải nhớ rõ về các hành động của B đã gây đau khổ cho mình), thì để tránh gây ra xích mích, A phải biết không nên có những phản ứng như mình thường vẫn có (kể rõ những phản ứng thường xẩy ra của chính mình).

Phần 3 – A cũng biết rằng tánh A như thế này (tự nói về mình) và hay phản ứng như thế này (là phản ứng ra sao, tự mình kể ra cho rõ), nên A đã khổ, A cũng đã làm cho B khổ và không giúp gì được cho B.

Phần 4 – Vậy từ nay để phá vỡ vòng luẩn quẩn và tạo cơ hội cho cả hai chuyển hóa, A sẽ thực tập những cách sau đây (ghi những ý kiến về cách thực tập của mình). Tới đây cần viết một câu quan trọng: “Sự chuyển hóa của A chắc chắn thế nào cũng đưa tới sự chuyển hóa của B”, Câu này nên lặp đi lặp lại hoài. Tại vì thường thường chúng ta hay nghĩ: “người kia không thay đổi tại sao mình tôi phải thay đổi?”

Đây chỉ là mới là phần thực tập của A thôi, còn phần của B là khác. Chúng ta hãy thử đọc lại và chiêm nghiệm thêm về mẫu thư trên một lần nữa.

1- A biết rằng tánh của B như thế này (…) Mỗi người phải nhìn vào người kia, dù đó là cha mình, thầy mình, anh, em của mình. Ba dấu chấm trong ngoặc đơn đó quan trọng lắm. Nên viết càng nhiều càng tốt. Mỗi người phải tìm hiểu về người kia. Có thể là B sanh ra trong một gia đình mà bố mẹ có tánh tình như thế, không khí gia đình như thế. Rồi lớn lên học ở trường có ông thầy thế nào, và được đào tạo theo mẫu mực, lề thói thế nào. Chìa khóa là ở chỗ ta nhìn thấy như vậy. Phải thấy được, mà thấy rồi thì chúng ta sẽ dễ chấp nhận nhau hơn. Mới chỉ quán chiếu thôi, chưa đòi hỏi người kia phải thay đổi mà ta đã thấy khỏe hơn rồi. Lá thư không bắt đầu bằng những câu như “Nếu anh mà muốn em thương anh thì phải sửa cái tánh đó đi.” Mình bắt đầu nghĩ lại là anh mình sở dĩ nói năng như vậy (…), hành xử như vậy (…), có lề thói phản ứng như vậy (…) là vì đã có quá trình sinh ra, lớn lên và được đào tạo như vậy. Hiểu được rồi tự nhiên ta cười xòa, không còn bực tức nữa. Phản ứng của ta thay đổi. Mà ta thay đổi cách phản ứng của ta thì ta sẽ giúp được anh của ta thay đổi.

2- Cho nên mỗi khi B nói hay làm như vậy (…) thì A phải biết không nên có những phản ứng như mình thường có (…) Phần giữa hai ngoặc đơn này cũng rất quan trọng. Phải quán chiếu rất lâu. Đoạn này liên hệ hành động của hai người: vì B như thế đó (…), cho nên A nói hay làm như thế này (…). Chỉ trong ba chấm đó thôi nhưng chúng ta phải thiền hành, thiền tọa rất lâu để tĩnh tâm mà tìm cho ra rõ nguồn cơn, “Lắng nghe thấu tận nguồn cơn, học nhìn lại hiểu và thương.” Chìa khóa là quán chiếu. Cho nên mỗi khi B nói hay làm như vậy (…) thường thường A bực bội, chống lại, không chịu nổi. Khi mà thấy được và hiểu được tại sao rồi thì dù người kia vẫn còn nói, vẫn còn làm như cũ, A vẫn có khả năng ngưng những phản ứng như trong quá khứ. Sự chuyển hóa bắt đầu từ trong tâm mỗi người, chứ ta không đòi hỏi người kia chuyển hóa trước thì ta mới chịu thay đổi (peace begins with me!).

3- A cũng biết rằng tánh A như thế đó (…) Trong đoạn này ta tự tìm hiểu để tự thấy mình. Ta được sinh ra ở một hoàn cảnh khác, được lớn lên, dạy dỗ và đào tạo trong hoàn cảnh khác. Ta rất khác B cho nên ta hay có phản ứng như vậy. Do những phản ứng đó chính ta làm cho ta khổ và cũng làm cho người kia khổ. Thấy được điều đó cho nên A mới tìm và thử có phản ứng khác. Mình tự thay đổi mình trước, biết rằng người kia sẽ thay đổi sau. Không có nghĩa là mình phải chấp nhận người kia như vậy hoài. Hiểu và thương tức là chấp nhận người kia và hy vọng với sự tu học, với phản ứng mới của mình, người kia sẽ thay đổi. Điều đó sẽ xảy ra. Người nào trong chúng ta cũng biết là khi mình thay đổi thì người kia sớm muộn cũng sẽ thay đổi.

A cũng biết rằng tính tình của mình như thế đó (…) – “Như thế đó” là như thế nào? Phải nói ra, phải dám soi gương để nhìn rõ tính khí của mình. Mình cũng có thể nhờ các bạn thân của mình soi sáng cho mình, chỉ bảo cho mình. Mình cũng có lúc nóng nảy, cũng có lúc vội vã, sai lầm. Và mình hay phản ứng như thế này, cho nên mình đã khổ và làm cho người kia khổ. Cho nên A quyết lòng tu tập để phá vỡ vòng lẩn quẩn. Trong quá khứ, mỗi khi bên này nói một câu gì là bên kia nổi điên ngay, vì thế bên này lại giận hơn nữa, và nội kết của hai bên lôi cuốn lẫn nhau. Bẻ gãy cái vòng lẩn quẩn đó là thoát khỏi một vòng luân hồi.

Như thế chúng ta tạo cơ hội cho cả hai chuyển hóa. Và đây công thức của sự tu tập trong một tăng thân: sự chuyển hóa của người này sẽ đưa tới sự chuyển hóa của người khác. Có một thiếu nữ đến tu tập ở Làng Hồng, sáu tháng rồi trở về Hoa Kỳ. Tự nhiên cô cảm thấy có thể bắt đầu nói chuyện được với một người mà từ năm, bảy năm nay cô không thể nào nói chuyện được. Cô cảm thấy một điều rất lạ. Trước kia cô không thể nói chuyện, không muốn nhìn mặt người kia; thế mà sau khi tu tập ở Làng Hồng sáu tháng trở về, tự nhiên cô thấy mình có thể nói chuyện được dễ dàng. Ngay trong lần gặp gỡ và chuyện trò, cô đã thấy người kia thay đổi. Và sau đó gặp lại nhau trong mấy tuần lễ kế tiếp thì sự thay đổi càng rõ rệt. Tình thân ái lại nẩy nở, khi chia tay thì bịn rịn. Sự thay đổi của hai người không xảy ra cùng một lúc, vì đã chỉ có một người bắt đầu. Sự hòa giải nào cũng vậy. Ta tự hòa giải trong tâm ta trước, không cần người kia biết. Khi trong lòng mình có sự hòa giải rồi thì tâm bình an của mình tỏa chiếu ra, người kia sẽ tiếp nhận và đến lượt người kia sẽ được chuyển hóa.

Khi hai bên thực tập viết thư và trao cho nhau xong, có thể phép lạ sẽ xảy ra trong những ngày kế tiếp. Mỗi người đã xét mình và đã quán chiếu để hiểu người kia. Mỗi người tự phát nguyện là sẽ thay đổi, sẽ không làm, không nói theo tập khí của những ngày trước. Nói và cư xử cách nào phù hợp để người kia có thể chấp nhận được, có thể hiểu được. Sau khi quán chiếu, mình sẽ thấy nhiều điều lâu nay mình tưởng là đúng, mà quả thực là sai. Có khi điều mình nói là sự thật, nhưng cách mình nói ra vụng về và nóng nảy cũng có thể tạo ra sự tan vỡ, vì người kia không tiếp nhận được. Vì vậy ta phải học phương pháp thực tập chánh ngữ. Vì chánh ngữ bao gồm chánh kiến, chánh tư duy, nhưng cũng gồm cả nghệ thuật diễn tả. Phải tu tập ngay từ chánh kiến và chánh tư duy mới có thể thành công được về chánh ngữ.

Phương pháp thực tập chánh ngữ này rất cụ thể, ai cũng có thể thực hành ngay. Nếu thực tập cho đàng hoàng trong một vài tuần, ta sẽ thấy kết quả. Tu tập là chúng ta tu tập trong một tăng thân.

Hạnh phúc của một người tùy thuộc hạnh phúc của người khác. Đừng nghĩ người nào tu riêng người đó, ông tu ông đắc, bà tu bà đắc. Nghĩ như thế là thất bại. Phải làm cho người khác có hạnh phúc thì mình mới thật sự có hạnh phúc. Luôn luôn bắt đầu bằng sự thay đổi trong tâm mình.

Khi ngồi thiền, thay vì quán chiếu về cây tùng trước sân hay là tiếng vỗ của một bàn tay, chúng ta hãy quán chiếu về một đề tài thiết thực. Đó là làm thế nào để thiết lập được chánh ngữ, chánh kiến và chánh tư duy ngày hôm nay. Viết lên giấy trắng mực đen có thể giúp cho sự tu học. Ngồi xuống, cây viết trên tay, quán chiếu về tánh khí của người kia và của mình, do môi trường, hoàn cảnh, tập quán nào gây ra. Thấy được rồi ta mới hiểu tại sao ta hay phản ứng như thế này, mà người kia hay nói, hay làm như thế kia. Ta đi tới kết luận là từ bây giờ ta muốn áp dụng phương cách mới trong cách nói và cách làm. Ta nói và làm hai hoặc ba lần theo phương thức mới thì người kia sẽ bắt đầu thấy và cũng tự chuyển hóa.

Nếu hai người cùng thực tập thì mỗi người đều làm như vậy cả. Hai người sẽ trao cho nhau tuệ giác của mình, giúp nhau tu tập, và họ là anh em, chị em thực sự. Giữa hai anh em, giữa vợ chồng, giữa cha con phương pháp này đều có thể làm được, trong cách cư xử tương kính và thật sự bình đẳng.

Trong truyền thống đạo Bụt, tăng thân được tổ chức như một gia đình. Vì vậy chúng ta thường gọi nhau là sư ông, sư chú, sư bác, sư anh, sư chị, sư em. Khi sống chung, chúng ta phải hoà hợp những cá tính lại thành một cọng tính. Không người nào giống người nào, sở thích cũng khác nhau. Nhưng tính chất đa dạng đó đem lại những dáng sắc rất đẹp cho cộng đồng. Tăng thân sống hòa hợp, nhường nhịn nhau được cũng nhờ ở sự thực tập chánh ngữ.

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when An Lạc posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Organization

Send a message to An Lạc:

Share